
Khảo sát Truyện Kiều từ những câu
thơ 'dịch' Đường thi
"Truyện Kiều" có nhiều câu thơ lấy ý từ Đường thi. Chắc chắn Nguyễn Du
không làm công việc dịch thơ. Tuy nhiên, cũng có một số câu thơ trong tác phẩm của
ông xét theo một khía cạnh nào đó chính là những câu thơ dịch từ Đường thi. Chúng
tôi làm một việc là lượm lặt những câu thơ ấy nhằm nhìn "Truyện Kiều" của Nguyễn
Du dưới một góc độ mới.
Truyện Kiều là tác phẩm truyện thơ Nôm thành công nhất của nước ta. Tác
phẩm ra đời trong thời Trung đại nên chịu sự chi phối của lý tưởng thẩm mỹ phong
kiến. Một trong những nét đặc trưng của thi pháp thời kỳ này là sử dụng điển cố, điển
tích, tập cổ… Trong Truyện Kiều những hình thức này không ít. Nguyễn Du đã sử
dụng rất nhiều điển cố, điển tích của Trung Quốc được lấy từ Kinh Thi, Tình sử, Tả
truyện, Kinh Dịch, Lễ ký, Hán thư, Tây sương, Thần tiên truyện… Qua bàn tay tài hoa
của ông, những điển cố này đã được sử dụng rất sáng tạo và đã trở nên quen thuộc
hơn, gần gũi với tâm hồn dân tộc Việt Nam hơn. Nhờ thế ngôn ngữ Việt cũng trở nên
giàu có và phong phú hơn khi du nhập những từ ngữ mới. Chẳng hạn từ bể dâu trong
câu Trải qua một cuộc bể dâu là mượn từ câu Thương hải biến vi tang điền (Bể xanh
hóa thành nương dâu - Thần tiên truyện) diễn tả những thay đổi trong cuộc đời, vũ trụ.
Hay như câu:

Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê! (câu 247-248)
là hình thức tập cổ của câu Nhất nhật bất kiến như tam thu hề (một ngày không
trông thấy mặt lâu như là ba tháng mùa thu) trong Kinh Thi.
"Truyện Kiều" có nhiều câu thơ lấy ý từ Đường thi. Chắc chắn Nguyễn Du
không làm công việc dịch thơ. Tuy nhiên, cũng có một số câu thơ trong tác phẩm của
ông xét theo một khía cạnh nào đó chính là những câu thơ dịch từ Đường thi. Chúng
tôi làm một việc là lượm lặt những câu thơ ấy nhằm nhìn "Truyện Kiều" của Nguyễn
Du dưới một góc độ mới.
Khảo sát thơ “Kiều” như những bản dịch không phải là một việc làm máy móc,
vì theo chúng tôi từ đó sẽ nhận thấy thêm nhiều những sáng tạo độc đáo của Nguyễn
Du cũng như hiểu thêm về quá trình sáng tác của ông. Cũng có thể nói rằng nhờ
Nguyễn Du mà nhiều câu thơ Đường được biết đến nhiều hơn, trở nên quen thuộc hơn
với người đọc Việt Nam. Ông đã sử dụng thơ của nhiều nhà thơ Đường như Đỗ Mục,
Bạch Cư Dị, Mạnh Giao, Lý Thương Ẩn, Thôi Hộ,…
Nếu chỉ kể những câu thơ mượn điển cố, điển tích thì trong Truyện Kiều đã có
rất nhiều câu có chất liệu Đường thi. Những câu như: Màu hoa lê hãy dầm dề giọt
mưa (câu 226) gợi cho người đọc nhớ đến câu:
Ngọc dung tịch mịch lệ lan can,
Lê hoa nhất chi xuân đái vũ.
(Mặt ngọc âm thầm, nước mắt chan hòa
Như một cành hoa lê ướt đẫm nước mưa xuân)

Hay câu Trong khi chắp cánh liền cành (câu 515) là mượn từ câu:
Tại thiên nguyện tác ty dực điểu,
Tại địa nguyện vi liên lý chi…
(Trên trời nguyện làm chim liền cánh,
Dưới đất nguyện làm cây liền cành.)
Ttrong bài Trường hận ca của Bạch Cư Dị. Ở đây chúng tôi muốn nói đến
những câu thơ trong Truyện Kiều có thể coi là những câu thơ dịch thực sự. Một trong
những câu thơ Đường nhờ Nguyễn Du mà nổi tiếng hơn là câu:
Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.
(Đề tích sở kiến xứ)
(Không biết mặt người ở nơi nào
Hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ)
của Thôi Hộ.
Nguyễn Du mượn câu thơ này, mượn chuyện của Thôi Hộ mà nói tâm sự của
chàng Kim khi trở lại vườn Thúy. Cũng như Thôi Hộ, Kim Trọng trở lại tìm người
đẹp, cảnh vẫn như xưa, vẫn hoa đào, vẫn gió xuân… nhưng người xưa thì không tìm
thấy nữa. Nguyễn Du “dịch”:
Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. (câu 2747-2748)
Một câu thơ thần tình nếu là thơ, tài hoa nếu là dịch!

Bởi vì Nguyễn Du không dụng tâm làm một người dịch thơ Đường nên giữa
câu thơ của ông với nguyên tác của Thôi Hộ có nhiều khác biệt. Nếu Thôi Hộ viết hà
xứ khứ thì Nguyễn Du chỉ viết đơn giản là trước sau. Thôi Hộ nhớ về một khuôn mặt
đã ửng hồng cùng với hoa đào mùa xuân trong lần gặp gỡ trước (Nhân diện, đào hoa
tương ánh hồng, còn với chàng Kim có lẽ ký ức về nàng Kiều trong vườn Thúy là
hình ảnh Dưới đào dường có bóng người thướt tha (câu 290). Do vậy Nguyễn Du
dùng từ bóng người là phù hợp hơn với văn cảnh, với tâm trạng của chàng Kim. Câu
thơ của Nguyễn Du mang nghĩa khẳng định, còn câu thơ của Thôi Hộ là một sự băn
khoăn, không thể nói được ai là người viết hay hơn, sâu sắc hơn ai, bởi cả hai đều thể
hiện được một nỗi thất vọng thật sự.
Ở câu thứ hai, Nguyễn Du đã có một sự sáng tạo độc đáo khi ông thay từ y
cựu bằng từ năm ngoái. Y cựu là vẫn như cũ, hoa đào sau một năm, mùa xuân đến lại
trổ ra những bông hoa y như trước kia, vẫn thắm tươi để cười với gió mùa xuân.
Nguyễn Du có ý khẳng định hơn khi ông dùng từ năm ngoái. Không phải những bông
hoa mới trổ trong một mùa xuân mới, mà chàng Kim tưởng như đó là những bông hoa
của năm ngoái. Chính là hoa đào của năm ngoái! Vậy thì bóng người thướt tha dưới
hoa đào năm ngoái ở đâu? Nỗi xót xa dường như tăng thêm một bậc. Cảnh cũ vẫn còn
mà người xưa đã vắng! Hoa đào cười với gió đông trở nên một hình ảnh quen thuộc
trong lòng người yêu thơ, yêu Truyện Kiều.
Một đoạn thơ dịch chứng tỏ tài năng của Nguyễn Du nữa là đoạn tả tiếng đàn
của nàng Kiều trong đoạn đoàn viên:
Khúc đâu đầm ấm dương hòa!
Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh?

Khúc đâu êm ái xuân tình!
Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên?
Trong sao châu dỏ duềnh quyên!
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông! (câu 3199-3204)
Một đoạn thơ tả tiếng đàn đến độ tuyệt diệu. Nhưng không hoàn toàn là sáng
tạo của Nguyễn Du mà đúng hơn đó là những câu thơ “dịch” từ bài Cẩm sắt - của Lý
Thương Ẩn đời Đường:
Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,
Thục đế xuân tâm thác đỗ quyên.
Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,
Lam điền ngọc noãn nhật sinh yên.
(Tiếng đàn như: Khi Trang sinh lầm mình là bướm trong giấc mộng buổi sáng,
Tấm lòng xuân của Thục đế gửi gắm vào chim đỗ quyên.
Dưới biển xanh, trăng sáng chiếu xuống những hạt châu thành nước mắt
Chốn Lam Điền, nắng ấm soi trên những hạt ngọc tỏa khói)
Nguyễn Du chọn một đoạn thơ tả tiếng đàn tuyệt hay của Lý Thương Ẩn mà
tặng cho nàng Kiều, tặng cho Kim Trọng. Trong buổi tái hợp của mối tình xa cách
những mười lăm năm, tiếng đàn gảy nên tấm lòng yêu thương của những con người
vừa tìm ra được hạnh phúc.
Tiếng đàn của Kiều không còn thảm sầu, oán thán, ngậm đắng nuốt cay như
xưa nữa. Tiếng đàn lúc này rất đầm ấm như giấc mơ hóa bướm trong buổi sớm, êm

