intTypePromotion=3

Kiến trúc lưu trữ dữ liệu- P2

Chia sẻ: Cong Thanh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
70
lượt xem
12
download

Kiến trúc lưu trữ dữ liệu- P2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo tài liệu 'kiến trúc lưu trữ dữ liệu- p2', công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kiến trúc lưu trữ dữ liệu- P2

  1. tập tin đã được phân loại hoặc ít truy cập. Thiết bị cho tầng này là những loại ổ đĩa rẻ tiền hơn dùng trong mạng SAN. Tầng 3 dành cho những tập tin chưa được phân loại hay ít truy cập, lưu trong đĩa CD hoặc băng từ. Sự ra đời của các công nghệ ổ đĩa mới như ổ đĩa quang (có tốc độ đọc, viết nhanh), ổ đĩa SCSI, SATA (Serial ATA), FATA (Fibre Channel ATA)… đã giúp cho việc triển khai kiểu kiến trúc lưu trữ ba tầng trở nên khả thi hơn. Theo Nik Simpson, chuyên viên phân tích của Burton Group, một công ty nghiên cứu và tư vấn về lĩnh vực bảo mật và mạng ở Midvale, bang Utah (Mỹ), một doanh nghiệp có thể lưu trữ khoảng 30 % dữ liệu của mình ở tầng 1, phần còn lại ở các tầng 2, 3... Chuyên viên Buchanan của hãng Gartner nói: “Việc xác định các yêu cầu về dữ liệu không thuộc về nhiệm vụ của các nhân viên lưu trữ. Nó thuộc về cấp điều hành doanh nghiệp.” Các CIO phải thiết lập một nền tảng quản lý tài sản có hiệu quả, phù hợp với quy mô của công ty. iSCSI
  2. Trong những công nghệ mới giúp giảm chi phí lưu trữ, đáng chú ý nhất là iSCSI (Internet Small Computer System Interface). Đây là một chuẩn lưu trữ dựa trên địa chỉ IP do Ủy ban chuyên trách về Internet (Internet Engineering Task Force – IETF) đưa ra. Nó cho phép kết nối các ổ đĩa với nhau và với các máy chủ (server) thông qua giao thức SCSI. Vì các mạng IP có mặt ở khắp mọi nơi, iSCSI có thể được dùng để truyền tải dữ liệu trên mạng cục bộ (intranet), LAN, WAN hay Internet và quản lý việc lưu trữ từ xa. Các doanh nghiệp có quy mô từ nhỏ đến lớn đều có thể xây dựng mạng SAN dựa trên công nghệ này. Trước iSCSI, SAN thường được triển khai với mạng cáp quang (fibre channel), nhưng mạng cáp quang không thích hợp khi triển khai ở bên ngoài các doanh nghiệp lớn vì nó phức tạp và có chi phí quản lý cao. Theo công ty nghiên cứu thị trường IDC, sự đơn giản và phù hợp của iSCSI đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn khiến công nghệ này phát triển nhanh. IDC dự báo đến năm
  3. 2011 sẽ có 25 % hệ thống lưu trữ bên ngoài doanh nghiệp sử dụng iSCSI. Ngân hàng cổ phần Associated Bank của Mỹ cách nay hai năm cũng đã chuyển sang sử dụng iSCSI trong mạng SAN của họ để có thể lưu trữ tốt hơn các thông tin của khách hàng, kể cả hình ảnh. Đến nay, dung lượng của mạng này đã tăng từ 20 ngàn gigabyte lên 300 ngàn gigabyte. Ngân hàng cũng tiết kiệm được khoảng 30 % chi phí so với mạng SAN cũ. Chuẩn bị cho làn sóng mới Các chuyên gia trong ngành đang đưa ra hai công nghệ mới: ảo hóa hệ thống lưu trữ (Network Storage Virtualization) và lưu trữ đơn lẻ (Single-Instance Storage). Trong Network Storage Virtualization, tất cả các hệ thống lưu trữ khác nhau về phiên bản, xuất xứ, nguyên lý hoạt động được hợp nhất ở mức lôgic thành một nguồn lưu trữ duy nhất. Việc hợp nhất này được gọi là quá trình ảo hóa lưu trữ, được thực hiện bởi những phần mềm chuyên dụng. Các phần mềm này có thể được cài đặt hoặc tích hợp trên các máy chủ hoặc thiết bị lưu trữ. Xu hướng hiện nay là cài
  4. đặt chúng vào các bộ chuyển mạch hoặc các máy chủ chuyên dụng. Công nghệ này có ưu điểm là đơn giản hóa việc quản lý cơ sở hạ tầng và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng dữ liệu. Tuy nhiên, nó cũng còn khá phức tạp cho việc quản lý. Ví dụ, mỗi hệ điều hành cần phải có một phần mềm điều khiển riêng biệt và việc lưu trữ chỉ được tối ưu hóa trên từng thiết bị. Single-Instance Storage (SIS) là một phương pháp giúp hệ thống chỉ lưu trữ một bản sao duy nhất của nội dung của một tập tin mà nhiều người hay nhiều máy tính cùng sử dụng; nhờ đó tiết kiệm được không gian lưu trữ. Ví dụ, trong một hệ thống thư điện tử (e-mail) có thể chứa 100 thư có cùng một tập tin đính kèm có dung lượng 1 MB. Nếu lưu trữ bình thường thì hệ thống cần phải có 100 MB để lưu tất cả 100 e-mail đó. Với SIS, chỉ có một tập tin đính kèm được lưu trữ, và tất cả những e-mail có tập tin đính kèm đó đều có phần tham chiếu đến tập tin đã lưu. Tuy nhiên, nguy cơ mất dữ liệu vì chỉ sao lưu có một lần là vấn đề khiến nhiều người quan tâm.
  5. Tốc độ tăng trưởng của các loại dữ liệu ở các doanh nghiệp là rất nhanh, cả về dung lượng (30 %-70 % mỗi năm) lẫn về mức độ phức tạp. Vì vậy, việc ứng dụng những công nghệ lưu trữ mới, phù hợp với quy mô hoạt động sẽ mang lại hiệu quả cao hơn cho hoạt động của các doanh nghiệp.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản