Kỹ thuật sản xuất giống
và nuôi cá mú
Cá mú là một trong những loài cá bin có giá trị kinh tế cao
(4-68 USD/Kg). Chúng được nuôi ở nhiều nơi như: Trung
Quốc (Đài Loan, Hồng Kông), Nhật Bản, Malaysia,
Singapore, Thái Lan, Philippines, Brunei...
Nghề nuôi cq mú ở châu Á đã xuất hiện khá lâu, nhưng
nguồn giống hoàn toàn dựa vào tự nhiên. Nghiên cứu sản
xuất giống nhân tạo cá mú đã bắt đầu ở Nhật Bản vào thập
niên 60, các nước Đông Nam á vào cui thập niên 70. Đến
nay, hơn 10 loài cá mú đã được nuôi và sản xuất giống nhân
tạo như cá mú đen chấm đen (Epinephelus malabaricus), cá
mú đen chấm nâu (E. coioides), cá mú ruồi (E. tauvina), cá
mú đỏ (E. akaara), cá màu đỏ (E. awoara), cá mú cọp (E.
fuscoguttatus), cá mú nghệ (E. lancelatus), E. aeneus, E.
microdon, E. polyphekadion, E. tukula, cá mú chuột
(Cromileptes altivelis)...
Đặc điểm sinh học
Trên thế giới, cá mú nằm trong họ phụ Epinephelinae có 159
loài thuộc 15 giống, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt
đới nơi có rạn san hô, đá ngầm, ở vùng biển nước ấm. Mùa
hè sống ở vên bờ, mùa đông di cư ra vùng xa bờ. Chúng có
tập tíh dinh dưỡng ăn thịt, thức ăn gồm cá con, mực, giáp
xác, thường ăn thịt lẫn nhau ở giai đoạn cá con. Ở Việt Nam,
chúng phân bố từ vịnh Bắc Bộ đến vịnh Thái Lan, tập trung
nhiều ở ven bin miền Trung.
Tuổi thành thục lần đầu của cá mú lúc 3 tuổi. Trọng lượng
thành thục lần đầu thay đổi tùy theo, kích thước nhỏ nhất là
cá mú chuột (1kg), lớn nhất là cá mú ngh (50-60kg). Mùa
vụ sinh sản thay đổi theo từng loài và vùng địa lý, ở Đài
Loan mùa sinh sản từ tháng 3 đến tháng 10, ở Trung Quốc từ
tháng 4 đến tháng 10, ở Philippine và các tỉnh Nam Bộ cá có
thể đẻ quanh năm.
Cá mú là loài cá tập tính chuyển giới tính, thông thường lúc
còn nhỏ là cá cái khi ln chuyển thành cá đực. Thời điểm
chuyn giới tính thay đổi theo từng loài, loài cá mú đỏ (E.
akaara) chuyển giới tính lúc có chiều dài 27-30cm, với trọng
lượng 0,7-1kg, loài cá mú ruồi (E. tauvina) lúc có chiều dài
65-75cm, loài cá mú chuột lúc có trọng lượng trên 3kg.
Hệ số thành thục và sức sinh sản khác nhau ở các loài: ở cá
mú đen chấm đen có hệ số thành thục cao nhất vào tháng 1
(5,2± 2,7%) và thp nhất vào tháng 3. Sức sinh sản cao nhất
vào tháng 12 là 3,18 ± 0,61 x 106 và thấp nhất vào tháng 8 là
0,13 x 106 trứng. Sức sinh sản ca cá mú đỏ (E. akaara):
150.000 - 500.000 trứng, cá mú đen chấm nâu: 600.000 -
1.900.000 trng/kg.
Tc độ tăng trưởng khác nhau giữa các loài: tốc độ tăng
trưởng của một vài loài cá mú nuôi nước ta sau 1 năm: cá
mú son (cephalopholis miniata) là 0,3-0,4kg, cá mú đen chấm
đen: 0,8kg, cá mú đen chấm nâu 0,8kg, cá mú ruồi: 1-1,2kg,
cá mú nghệ: 3-4kg.
Sinh sản nhân to
Thu thập và thuần dưỡng cá bố mẹ:
Cá bố mẹ được đánh bắt ngoài tự nhiên hoặc thu gôm từ ao,
lồng nuôi thịt. Cá bố mẹ từ ao hay lồng nuôi dễ thích nghi
với điều kiện nuôi nhốt. Không sử dụng cá đánh bắt bằng
chất cyanide, nên dùng những cá bắt bằng bẫy tre để làm cá
bố mẹ.
Cá bắt được nên vn chuyển ngay đến trại giống hay lồng
nuôi. Không cn gây mê cá nếu vận chuyển trong các bồn
chứa hay trong các dụng cụ có máy sục khí. Khi đến trại
giống cá được xử bằng formol 25ppm và kháng sinh
Oxytetracyline với nồng độ 2mg/l tắm cá trong 24 giờ, hoặc
tiên 20mg/kg cá phòngchng nhiễm do vi khuẩn. Bể nuôi vỗ
hình tròn có thtích 100-150 m3. Sử dụng nguồn nước biển
sạch có độ mặn 30-33 ‰ , nhiệt độ nước 28 - 30 độ C. Trước
khi cấp vào b nuôi, nên được lọc qua cát.
Mật độ nuôi vỗ 1kg cá / m3. T lệ đực cái t 1/1 đến 1/2. Chế
độ thay nước từ 50-100% mỗi ngày.