Làng gốm Thổ Hà – Bắc Giang
Sơ lược
Nằm bên bờ sông Cầu, làng Th Hà nổi danh với nghề làm gốm từ thế kỷ 14.
Nơi đây từng là một thương cảng tp nập thuyền bè ngược xi ra vào bến
sông Như Nguyt, mang đi những đồ gốm thi hồn từ đất và bàn tay nghệ nhân
làng.
Thổ Hà thuộc xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, ở vào vị trí đắc địa
nên từng là mt làng nghề gốm danh thơm nức tiếng gần xa. Cùng với sự thnh
vượng của nghề gốm, bàn tay những nghnhân dân gian đãy dựng một quần
th xóm làng thun Việt với những đình chùa, cng làng bề thế với lối kiến trúc
cnh, trầm mặc mà dân dã.
Ngõ nh Thổ Hà mc thếch tưng rêu. Ảnh: photo.vn
Trải qua hàng trăm năm, làng Thổ Hà nay vẫn là nơi những người say mê
phong cảnh hữu tình của làng Việt, những nghệ sĩ, nghệ nhân về tìm cm hứng.
Qua bến đò ThHà phía bờ hữu ngạn sông Cầu, từ trên mặt sông đã cảm nhận
được vẻ hiền hoà của dòng nước, y tre xanh và bờ tường ghép đầy mnh gốm
đen bóng. Những cây đa, cây si gần bến nước r từng chùm rễ in bóng xuống
mt sông.
Ngôi đn thờ thành hoàng làng ngay bến nước, tường gạch rêu phong. Ông t
của nghề gốm làng Th Hà được cho là tiến sĩ Đào Trí Tiến. Ông đã hc được
nghề gốm trên đường đi xứ Trung Quốc và truyền lại cho dân làng từ thế kỷ
XIV. Bà c già máic bạc phơ bên quán nước nhỏ đầu làng bỏm bm nhai
trầu kể cho khách nghe nhng mẩu chuyện dân gian về nghề gốm.
Làng Th Hà nhìn thữu ngạn sông Cầu. Ảnh: blog.yahoo
Đi vào trong làng, kỳ thú nhất là những ngõ nhỏ. Một màu đỏ của thứ gạch cũ
kĩ đã mòn vẹt, trơ ra thần thái của những bước chân thời gian, ngõ nh heo hút,
tường xếp chằn chn một thứ sành nâu đen bóng. Khách đến nơi đây thường có
ấn tượng đặc biệt với những ngõ xóm hun t đẹp một vẻ c kính, hoài nim
lại dân dã, lắng đọng.
Cái đặc biệt trong li ăn ở của con người làng gốm cổ là sử dụng chính những
đồ gốm, mảnh gốm bỏ đi để xây nhà, xây tường. Không trát vôi vữa, mặc kệ
gió mưa mà tạo thành hình thành khối gn kết độc đáo.
Đình làng Thổ Hà được dựng năm 1692, đây là công trình văn hoá được xếp
hng di tích lịch s quốc gia. Hoa văn rồng phưng ẩn hiện trong mây hài hoà
cùng người và cỏ cây, hoa lá, muông thú còn ghi li dấu ấn bàn tay tài hoa ca
người thợ khắc. Nhờ có nghề làm gốm mà cuộc sống của người dân trước đây
hơn hẳn những nơi khác. Người Thổ Hà vắt đất nhào nặn thành nhiều mặt
hàng, tđồ nặn các cỡ, có thể chứa 350 lít nước, đến chĩnh chõ, chum, vại...
mà nhiu làng nghhuyện Quế Võ khi đồ xôi cho hội xuân, nhất đnh phải có
chõ nh của Thổ Hà mới ưng ý. Vì thế mà gốm của làng nổi danh khắp thiên
hạ và kéo theo hẳn làng Vọng Nguyệt cùng xã ch chuyên làm thuê, chở hàng
thuê cho ng.
Quá trình phát triển
Trong sut quá trình phát triển, gốm Thluôn đi đầu trong việc sản xuất đồ
gốm gia dụng. Hầu hết các gia đình đất Bắc đều có mt hoặc hai sản phẩm
của làng trong nhà.
Sau miền Bắc giải phóng, làng ngh chuyển thành hp tác xã, ri thành xí
nghiệp gốm Thổ Hà. Sản phm chủ đạo là gm sành các loại: chum, vại, ống
máng nước...theo dòng sông Cầu toả đi khắp đất nước. Thế nhưng bước sang
nn kinh tế thị trường, nghề làm gốm ở đây không còn trụ vững, chỉ còn mt
vài gia đìnn duy trì sản xuất, bởi sản phẩm không có nơi tiêu thụ. Đến năm
1992, nhà kho, xưng gốm được thanh lý, nghề gốm Thổ Hà thc sự mất hẳn
sau gn 6 thế kỷ tồn tại phát triển.
Nhưng đến đầu những năm 90, cũng giống như bao ng nghề truyền thống
khác, gốm Thổ Hà rơi vào tình trạng sản phm làm ra không bán được và mai
một dần. Do thhiếu, nhu cầu trên thtrường thay đổi mà những sản phẩm gia
dụng không còn phù hợp. Sản phm làm ra cchất đầy sân, đầy nhà. Rồi
không trụ được, cả xí nghiệp và hợp tác xã cứ tan rã dần. Và lò gốm ở đây
ngừng đỏ la cho đến gần đây. Ông Nguyễn Bá Quyn, Trưởng thôn Thổ Hà
ngậm ngùi nói: "Mất ngh đồng nghĩa với mất nghiệp. Từ lúc hình thành làng
cho đến tận bây giờ, dân Thổ Hà không làm khác ngi nghề gốm. Nay mất
nghề c làng lao đao. Vì cả làng không có lấy một tấc ruộng. Ðt ở thì khá chật
hp bình quân mỗi nhà được hơn 50 m2. Mất nghề cũng đồng nghĩa với việc
mất đi toàn b nguồn thu nhp. Sản phẩm làm ra không bán được, đành b
nghề đ tìm kế sinh nhai...". Nói đến đây, ông Quyền buồn lắm, vừa vân vê
điếu thuốc lào hút mt hơi thậtu để nén cái thở dài. Ông nói: "Hậu quả của
việc mất nghề vẫn đeo đng người dân Thổ Hà đến ngày nay. Làng đã xoay đ
nghề nào là chy chợ, làm miến dong, bánh đa nem... giật gấu vá vai vậy mà
vẫn thiếu ăn...". Cả thôn có 3.248 khẩu thì có tới 70% là thiếu ăn. Cảng đều
trongnh trạng ăn đong".
Nghe ông Quyền đưa ra những con số não nnhư vậy, tôi thấy lòng se lại và
xót xa, tiếc nuối cho một làng ngh. Quá khứ vàng son năm xưa không phủ đầy
và che lp được chuyện cơm, áo, gạo, tiền hằng ngày của mỗi người dân làng
nghề. Nói như các ctrong làng t"chum vại của làng đựng gạo thì được chứ
đổi được gạo bây giờ thì khó lắm". Ði vòng quanh làng gốm, những du tích
năm xưa vẫn còn đó. y đa, bến nước sân đình, ngôi ca cổ... phần na
vật chất vẫn còn lưu giữ được hoài niệm quá khứ, nhưng nó đang thiếu đi hơi
thở của một thời hưng thịnh. Những ngõ dài hun hút hai bên tường còn đầy
mảnh gốm cũ ghép lại. Trong cái môi trường chật hẹp ngột ngạt đến khó thở vì
những phên bánh giăng nghẽn li đi, cộng với chất thải từ chăn nuôi, người dân
vẫn nuối tiếc cái không khí "trên bến dưới thuyền" ngày nào. Ðất chật, người
đông, nghmất, khiến cuc sống của người dân làng gốm Thổ Hà trnên vất
vưởng. Khi tôi hỏi nghề gốm có phục chế được không thì ông Quyền như sực
tỉnh cơn mê. Ông cho biết, hai năm qua, cả làng có ông p Trọng Tuất đang
tiến hành khôi phc lại nghề. Ðiều mừng hơn là mới đây, Trường đại học M
thuật Hà Nội về làng xin được phục chế nghề truyền thống. Nhiều đoàn khách
Nhật Bản đã vthăm quan và hrất thích nét cổ trong gốm Thổ Hà.
ch tân để tồn tại
Giữa những lò than rc la chuyên tráng bánh đa nem, làm m gạo của làng
Thổ Hà, xã Vân Hà, Việt Yên, Bắc Giang, chúng tôi bất ngờ gặp một lò gốm
chứa đầy sản phẩm đang nhả khói, hình ảnh mà chỉ cách đây hơn chục năm về
trước mi thấy. Đó là lò gốm ca một cựu chiến binh-ông Cáp Trọng Tuất, một
người đã từng đm nhiệm vai trò chnhiệm Hợp tác xã gốm Thổ Hà những
năm 1957-1960.
Vừa vào tới sân nhà, tôi thy ngỡ ngàng bởi có nhiều gốm mộc để đầy sân. Ông
Tuất đang saya bên bàn xoay. Thấy khách đến nhà, ông vừa rửa tay, vừa
tranh th thông báo luôn: "Cả làng đã tp trung được về đây gần chục tay nghề
cự phách. Lúc đu, làm cho đỡ nhớ nghề là chính. Ai dè va rồi Trường đại
học Mỹ thuật về xin phục chế lại làng gm. Có được duyên cớ này cũng t
những sản phẩm cổ của làng mà ra. H đến thăm đình và ca ca làng thy
những hiện vật như lư hương, bát hương cổ của làng có từ đời Lý mà hoa văn
cũng rất đẹp. Họ rất thích. Sau khi xem xét kỹ, các cán bộ của Trường đã đưa
ra li đề nghị được ki phục lại làng gốm".
“Để thất truyền ngh gm là có lỗi với cha ông'. Đó là lời của ông Tuất. Và ý
tưởng ki phục lại nghề gốm ca ông đã được những người bạn 'già' góp tin
lương hưu cùng làm. Ri lò gốm cũng được xây xong, ông vận động những
người biết nghề còn lại trong làng tham gia sản xuất. Têu chí họ đề ra là tiếp
tục làm các sản phẩm gốm sành truyền thống trong sự cách tân đảm bảo chất
lượng cao; từng bước quảng bá giới thiệu sản phẩm trên thị trường trước khi
sản xuất gm m nghệ tráng men. Lượt sản phẩm chủ đạo đu tiên ra lò gồm:
bát hương tạo hình nh noa sen, tiểu quách có mái che, bộ trang trí trụ cổng có
gắn đèn, be nậm rượu và đôn, chậu cnh các loại... Đặc biệt, một số loại be
nm rượu đuợc phục chế từ nguyên mẫu be rượu cổ đuợc khách hàng từ Hà
Ni, Hải Phòng, Nam Dịnh... về đặt mua với gkhá cao. Ông Tuất cho biết,
bước đầu trung bìnn một lò cũng cho thu lãi từ 1,2- 1,5 triệu đồng. Đây qulà
một s khởi đầu hứa hẹn nhiều thành công.
Gốm của Thổ Hà đnghìn năm không bị mất màu và tự chảy ra men do k
thuật nung tốt. Ông Tuất vào buồng bê my bát hương giả cổ vừa cho ra lò.
Ông i: "Bước đầu làm ra bán được. Tất nhiên đây mới là bước th nghiệm,
nhưngmột điều tui khng đnh chắc chn rằng, nếu phục chế được trên 20
mẫu đồ thờ theo thời Lý, Trần thì chắc chắn làng gốm sẽ chuyển sang một giai
đoạn khác". Ông nói thêm như để chứng minh: "Lúc đầu làm ra, tôi cũng