intTypePromotion=3

LAO PHỔI AFB (+) Ở TRẺ EM

Chia sẻ: Nguyen Linh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:25

0
88
lượt xem
10
download

LAO PHỔI AFB (+) Ở TRẺ EM

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu: Tìm hiểu trẻ em đã trở thành nguồn lây lao như thế nào, cách điều trị và phòng ngừa bệnh lao phổi AFB(+) ở trẻ em. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang. Gồm 63 trường hợp bệnh nhân là trẻ em nhập viện khoa B1 BV Phạm Ngọc Thạch từ 1/1/2006 đến 31/12/2006 với chẩn đoán lao phổi AFB(+). Kết quả: Lao phổi AFB(+) thường gặp ở trẻ em lớn tuổi gần tuổi dậy thì, hơn là ở trẻ nhỏ. Với phương pháp tìm AFB và chụp Xquang phổi chúng tôi có 63 ca với 69,83% là...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LAO PHỔI AFB (+) Ở TRẺ EM

  1. LAO PHỔI AFB (+) Ở TRẺ EM TÓM TẮT Mục tiêu: Tìm hiểu trẻ em đã trở thành nguồn lây lao như thế nào, cách điều trị và phòng ngừa bệnh lao phổi AFB(+) ở trẻ em. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang. Gồm 63 trường hợp bệnh nhân là trẻ em nhập viện khoa B1 BV Phạm Ngọc Thạch từ 1/1/2006 đến 31/12/2006 với chẩn đoán lao phổi AFB(+). Kết quả: Lao phổi AFB(+) thường gặp ở trẻ em lớn tuổi gần tuổi dậy thì, hơn là ở trẻ nhỏ. Với ph ương pháp tìm AFB và chụp Xquang phổi chúng tôi có 63 ca với 69,83% là lao phổi nặng; trong đó có 17 ca phối hợp với các bệnh lao khác. Tiền sử có nguồn lây lao là 57,14% và nhiễm HIV là 28,57%... Kết luận: Nhiễm HIV và nguồn lây lao cùng với một số yếu tố thuận lợi; đã làm cho đối tượng trẻ em ngày nay có thể trở thành nguồn lây. Bệnh lao phổi AFB(+) trẻ em có thể điều trị được với hóa trị lao ngắn ngày và bệnh này có thể tránh được nhờ chủng BCG, dập tắt nguồn lây và một số biện pháp khác.
  2. ABSTRACT Objective: To learn by way that children were became the contagious tuberculous source; therapy and prevention of pulmonary tuberculosis in children with bacteriological positive. Methods: Cross -sectional study. 63 children with diagnosis of pulmonary tuberculosis with bacteriological positive were admitted to Pham Ngoc Thach hospital from 01.01.2006 to 31.12.2006. Results: Pulmonary tuberculosis in children with bacteriological positive often happened in older than younger children. After doing examine to find AFB and chest radiographs we had 63 cases with 69.83% serious pulmonary tuberculosis and 17 cases associated different tuberculosis. Prehistory of these cases include: 57.14% were close contacts of bacteriological positives cases and 28.57% to be contagious HIV... Conclusion: To be contagious HIV, close contacts of bacteriological positives cases ... made children may be the contagious tuberculous source. The
  3. short court regimen is good for treatment pulmonary tuberculosis in children with bacteriological positive; and prevention this disease by BCG vaccinated, block up the contagious tuberculous source... ĐẶT VẤN ĐỀ Lao phổi AFB(+) ở trẻ em là một thể bệnh gây trăn trở nhiều cho những nhà chuyên môn về Lao và Bệnh Phổi. Bởi vì trẻ em là đối tượng chủ yếu bị lây bởi nguồn lây là người lớn, còn bản thân trẻ em trở thành nguồn lây là việc xưa nay hiếm. Lao phổi ở trẻ em hiếm khi tìm thấy vi khuẩn lao trong đàm mà chẩn đoán phải dựa trên tập hợp những dữ kiện: bệnh sử lâm sàng, nguồn lây, phản ứng lao tố, X quang. Lao phổi có vi khuẩn lao chiếm tỉ lệ rất nhỏ ở trẻ em khoảng 2% có AFB(+) và 29% Cấy(+) là một công trình ở Canada khi thử trực tiếp và cấy bằng dịch dạ dày 3 ngày liên tiếp. Chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu này nhằm tìm hiểu trẻ em đã trở thành nguồn lây lao như thế nào, từ đó thống nhất cách điều trị và đưa ra biện pháp để phòng ngừa. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
  4. Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu cắt ngang. Gồm 63 trường hợp bệnh nhân là trẻ em nhập viện khoa B1 BV Phạm Ngọc Thạch từ 1/1/2006 đến 31/12/2006 với chẩn đoán lao phổi BK(+). Tiêu chuẩn chọn bệnh - Bệnh nhân nhập viện điều trị nội trú khoa B1 BV Phạm Ngọc Thạch. - X quang phổi thấy tổn thương lao. - Vi trùng lao (+) trong đàm hay dịch dạ dày - Không có triệu chứng ung thư phổi nguyên phát hay di căn KẾT QUẢ Trong thời gian 1 năm, chúng tôi có 63 trường hợp lao phổi BK(+) nhập viện khoa B1, trong đó có 29 nam và 34 nữ. Tuổi và giới Bảng 1 Tu 0 – 4 tuổi 5 – 10 tuổi 11 – 14 tuổi
  5. ổi Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ G iới Số 7 6 10 8 12 20 bệnh nhân Tỉ 11,1 9,5 15,8 12,6 19,0 31,7 lệ % 1% 2% 8% 9% 5% 4% Tổ 13 18 32 ng cộng (20,63%) (28,57%) (50,79%) Các bệnh nhân trong nghiên cứu này đa số là trẻ lớn 11-14 tuổi (50,79%). Địa chỉ Bảng 2 TP. Các Địa
  6. chỉ HCM tỉnh Số 44 19 bệnh nhân Tỉ lệ 69,84 30,16% % % Tiền căn Chúng tôi đặc biệt chú ý đến cơ địa của bệnh nhân và các bệnh có trước kia, vì nó liên quan mật thiết đến bệnh lao phổi. Bảng 3 Tiền căn Số Tỉ lệ % bệnh nhân Chủng 54 85,71% ngừa BCG Nguồn 36 57,14%
  7. lây Nhiễm 18 28,57% HIV Bệnh 04 6,35% bẩm sinh Suy dinh 24 38,09% dưỡng tế Kinh 37 58,73% nghèo Trên cùng 1 bệnh nhân có thể có nhiều tiền căn khác nhau, ví dụ 1 bệnh nhân vừa có Suy dinh dưỡng vừa có Kinh tế nghèo và có Nguồn lây. Vì vậy tổng số các tỉ lệ phần trăm sẽ > 100%. Bệnh lao phối hợp Có 17 trường hợp lao phổi BK(+)phối hợp với lao cơ quan khác như
  8. Bảng 4 Bệnh Số Tỉ lệ % lao phối hợp bệnh nhân Lao 05 7,93% màng não Lao cột 02 3,17% sống Lao 02 3,17% màng phổi Lao 07 11,11% hạch Lao 01 1,58% hạch ổ bụng Các trẻ em có thêm bệnh lao phối hợp, nhất là lao màng não (7,93%) thì điều trị khó khăn hơn và thời gian phải kéo dài.
  9. AFB (+) Bảng 5 AFB(+) Trong Trong dịch dạ dày đàm Số 38 25 bệnh nhân Tỉ lệ % 60,32 39,68% % Các trẻ em trong nghiên cứu này đa số là trẻ lớn 11-14 tuổi, nên có thể khạc đàm tìm vi trùng lao, nên tỉ lệ dương tính trong đàm là 60,32%; còn lại 39,68% là trẻ nhỏ hơn, chưa biết cách khạc đàm mà thường là nuốt đàm nên được lấy dịch dạ dày làm xét nghiệm.
  10. Các hình ảnh X.quang phổi Bảng 6 Các hình Số Tỉ lệ ảnh trên X.quang ca % phổi ảnh Hình 24 38,09% hang lao dịch Tràn 2 3,17% màng phổi+ thâm nhiễm Hình hạt kê 8 12,69% Thâm 20 31,74% nhiễm 2 bên phổi Thâm 9 14,28%
  11. Các hình Số Tỉ lệ ảnh trên X.quang ca % phổi nhiễm 1 bên phổi Có 44 ca là lao nặng với hang lao và tổn thương 2 phổi chiếm tỉ lệ 69,83%. Các thể lao khác nhập viện trong c ùng thời điễm Trong cả năm 2006 có 717 ca trẻ em nhập viện khoa B1 BV Phạm Ngọc Thạch vì bệnh lao, trong đó ghi nhận các thể lao như sau: Bảng 7 Số Các Số Tỉ lệ thứ tự thể lao ca % khác 1 Lao 55 7,67% khởi đầu
  12. 2 Lao 12 1,67% khởi đầu- Lao hạch 3 Lao 73 10,18% phổi AFB (-) 4 Lao 16 2,23% phổi- Lao màng não 5 Lao 11 1,53% phổi- Lao màng phổi 6 Lao 44 6,13% phổi- Lao hạch
  13. 7 Lao 4 0,55% phổi- Lao cột sống 8 Lao 103 14,36% hạch 9 Lao 4 0,55% xương khớp 10 Lao 193 26,91% màng não 11 Lao 47 6,55% màng phổi 12 Lao 13 1,81% kê
  14. 13 Lao 17 2,37% kê- Lao màng não 14 Lao 3 0,41% kê- Lao cột sống 15 Lao 8 1,11% màng bụng 16 Lao 1 0,14% ruột 17 Lao 16 2.23% hạch mạc treo 18 Lao 18 2,51%
  15. cột sống 19 Lao 3 0,41% đa màng 20 Lao 3 0,41% màng ngoài tim 21 Lao 1 0,14% tinh hoàn 22 Lao 2 0,27% niệu 23 Lao 7 0,97% phối hợp (>2) 24 Lao 63 8,78% phổi
  16. AFB(+) Tổng cộng 717 100% So với tổng số 717 trường hợp các bệnh nhân trẻ em nhập viện trong năm 2006 thì bệnh Lao phổi AFB(+) chiếm tỉ lệ 8,78 %, ít hơn nhiều so với lao màng não là 26,29%. Lý do là nhiều trường hợp lao phổi AFB (+) được quản lý ngoại trú theo chương trình chống lao quốc gia, những trường hợp đặc biệt như nhiễm HIV, bệnh diễn tiến nặng hay phản ứng với thuốc lao thì mới cần nhập viện. Điều trị lao Đa số các trường hợp lao phổi BK(+) ở trẻ em điều đ ược điều trị lao theo công thức ngắn ngày: 2SRHZ/4RH. Trừ những trường hợp đặc biệt có dị ứng với các thuốc lao thì công thức điều trị sẽ thay đổi. Bảng 8 Phản ứng Số Tỉ lệ với thuốc lao ca % Viêm gan 02 3,17%
  17. Dị ứng 01 1,58% PZA Dị ứng 02 3,17% INH Dị ứng 02 3,17% RIF và INH Men gan 56 88,88% bình thường Một số các trường hợp khi có AFB (+) trong đ àm hay dịch dạ dày được cấy và làm kháng sinh đồ. Kháng sinh đồ lao phổi AFB (+) ở trẻ em th ường là tốt ít bị kháng thuốc. Tuy nhiên trong nghiên cứu này ghi nhận 3 kháng sinh đồ kháng thuốc: - 01 ca kháng RIF và INH trên bệnh nhân lao phổi+ lao hạch/nhiễm HIV và trường hợp này phải điều trị bằng công thức: 2SHREZ/RHEZ/5RHE. - 02 ca khác kháng SM, được điều trị theo công thức 1SRHZ/1RHZ/4RH.
  18. BÀN LUẬN Nghiên cứu của chúng tôi là 63 trường hợp bệnh lao phổi ở trẻ em tìm được vi trùng lao trong đàm hay dịch dạ dày nhập viện khoa B1 BV Phạm Ngọc Thạch trong 1 năm từ 1/1 /2006 đến 31/12/2006. Thông thường 50% lao khởi đầu ở trẻ dưới 5 tuổi, 30% lao ngoài phổi, trong đó có lao màng não, lao kê, xảy ra sớm ở trẻ dưới 5 tuổi, lao màng phổi thông thường sau 5 tuổi, lao hạch, xương khớp, cột sống tất cả các lứa tuổi. 20% lao ở phổi sau 5 tuổi: lao phổi có vi khuẩn lao th ường ở trẻ lớn từ 10-14 tuổi. Điều này phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi: số trẻ em lao phổi AFB (+) gặp đa so ở lứa tuổi 11-14 (50,79%). Tiền căn của những bệnh nhân là trẻ em bị lao phổi AFB (+) rất đa dạng Nguồn lây lao trong gia đình Trẻ em có hình ảnh bất thường trên XQ với triệu chứng lâm sàng hay không đều phải tìm nguồn lây lao trong gia đđình, thường có nguồn lây lao đđến 80% ở trẻ em dưới 5 tuổi và 50% ở trẻ em lớn hơn. Để khai thác được nguồn lây không phải dễ vì với tâm lý sợ người ta biết gia đình mình có người bị lao nên khi được hỏi đến là người ta trả lời không có! Nghiên cứu của chúng tôi có 57,14 % ca khai thác được nguồn lây (+). Nghiên cứu ở Ấn độ, dân số chung có tiếp xúc với lao phổi AFB (+) (từ trẻ đến người già) trong 5 năm theo dõi có 10% bị lao tiến triển, nhưng riêng trẻ em 0 – 14 tuổi số bị bệnh lao với tỷ lệ cao 22%. Nghiên cứu ở Canada, đối với trẻ 0 –
  19. 14 tuổi tiếp xúc thường xuyên mật thiết với nguồn lây AFB (+) có 13% bị lao có vi khuẩn lao (soi trực tiếp và cấy) (nghiên cứu từ 1996 -1971). Đại dịch HIV/AIDS 2 yếu tố làm trầm trọng bệnh lao trẻ em trong 10 năm tới là sự nghèo khổ của một số nước đặc biệt ở Phi Châu và đại dịch HIV/AIDS. Từ nay đến năm 2010, số nước nghèo ở Á Châu sẽ giảm, nhưng số nước nghèo ở Phi Châu sẽ gia tăng và trẻ em ở tầng lớp nghèo khổ càng dễ bị bệnh lao đe dọa. Dịch HIV/AIDS sẽ làm cho bệnh lao trẻ em gia tăng vì do 2 hậu quả: . Nguy cơ trẻ em bị nhiễm HIV từ mẹ bị HIV (+) . Nguy cơ bị nhiễm lao cao hơn vì số lao phổi AFB (+) gia tăng do ảnh hưởng của dịch HIV/AIDS trên bệnh lao hiện có. Đặc biệt chúng tôi có 18 trường hợp nhiễm HIV chiếm tỉ lệ 28,57% và những trẻ có kinh tế gia đình rất nghèo chiếm tỉ lệ 58,73 %. Những đứa trẻ nhiễm HIV thường là mồ côi, chúng mất mẹ và cha vì bệnh AIDS. AFB (Acid fast bacilli) là tên gọi hiện nay của trực khuẩn lao thay cho tên goi thông thường trước kia là BK; viết tắt của “Bacille de Koch”theo tên người bác sĩ tìm ra nó năm 1882.
  20. Thử đàm là phương pháp định bệnh chính xác nhất. Mẫu đàm thường được lấy vào sáng sớm trong 3 ngày liền. Nếu bệnh nhân không khạc đàm được, người ta có thể làm long đàm bằng một dung dịch muối ưu trương (hypertonic saline), hoặc ở trẻ em thì lấy dịch dạ dày do trẻ em ít biết khạc đàm mà hay nuốt đàm vào dạ dày. Đàm được xét nghiệm bằng các phương pháp sau: - Phương pháp nhuộm Bằng một phương pháp nhuộm đặc biệt Ziehl-Neelsen; người ta có thể nhận diện AFB dưới kính hiển vi. Phương pháp này nhanh chóng nhưng không hoàn toàn chính xác vì có thể nhầm lẫn với một số vi trùng khác. Soi và tìm trực khuẩn lao bằng phương pháp Ziehl-Neelsen Phương pháp cấy vi trùng (culture) Đây là phương pháp chính xác và quan trọng nhất vì là phương tiện duy nhất để thực hiện thử nghiệm hiệu quả của thuốc chống lao (drug susceptibility

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản