
TRIỂN KHAI CÁC ĐỀ ÁN KHÍ VÀ
LỌC HÓA DẦU

Lòch söû ngaønh Daàu khí Vieät Nam 403
TRIỂN KHAI CÁC ĐỀ ÁN KHÍ VÀ LỌC HÓA DẦU
I. HOẠT ĐỘNG THU GOM, VẬN CHUYỂN, XỬ LÝ VÀ PHÂN PHỐI KHÍ
1. Quy hoạch khí tổng thể (Gas Master Plan) đến năm 2010
Việt Nam bắt đầu khai thác khí từ năm 1981 (mỏ khí Tiền Hải C - Thái Bình)
và khai thác dầu cùng với khí đồng hành từ năm 1986 (mỏ Bạch Hổ ở thềm lục
địa phía Nam). Sau khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành vào
năm 1987, công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí được triển khai mạnh mẽ, nhất là
trên thềm lục địa. Nhiều công ty đã phát hiện khí như Total ở vịnh Bắc Bộ, Shell
ở biển miền Trung, ONGC và BP ở bể trầm tích Nam Côn Sơn… Tiềm năng về
khí trở nên rõ nét và việc khai thác tài nguyên khí một cách hiệu quả phục vụ sự
nghiệp phát triển kinh tế đất nước đã đặt ra cho ngành Dầu khí Việt Nam những
nhiệm vụ mới mẻ. Việc khai thác và sử dụng khí đòi hỏi cách tiếp cận tổng thể
từ nguồn cung cấp, hạ tầng kỹ thuật để vận chuyển đến thị trường tiêu thụ khí
(Gas chain). Do đó, Quy hoạch khí tổng thể đã được xây dựng với sự cộng tác
chặt chẽ của nhiều cơ quan Việt Nam (Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Petrovietnam; Bộ
Công nghiệp; Bộ Tài chính; Văn phòng Chính phủ; Bộ Khoa học, Công nghệ và
Môi trường; Bộ Xây dựng; Ban Vật giá Chính phủ; Văn phòng Trung ương Đảng;
Viện Năng lượng…), 3 công ty Anh là BP, British Gas, Moth Ewbank Prece và một
công ty Mỹ là Mobil bằng nguồn tài trợ ODA của Chính phủ Vương quốc Anh và
200.000 USD của Mobil.
Bản Quy hoạch tổng thể đã đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về phát triển công
nghiệp khí Việt Nam cho giai đoạn 15 năm với nội dung chính như sau:
chöông
8

Lòch söû ngaønh Daàu khí Vieät Nam
404
Phần thứ ba: TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM...
- Tiềm năng về khí của Việt Nam lớn hơn tiềm năng về dầu; các mỏ khí được
phân bổ trong cả nước, song tập trung chủ yếu ở các bể trầm tích Nam Côn Sơn
và Sông Hồng.
- Công nghiệp khí Việt Nam nên phát triển theo vùng với thứ tự ưu tiên miền
Nam, miền Trung và miền Bắc.
- Nên xem xét khả năng xuất khẩu khí để có vốn phát triển công nghiệp khí
trong nước.
- Ngoài ra, bản Quy hoạch còn đề xuất các chính sách hỗ trợ sự phát triển
ngành công nghiệp khí Việt Nam nhằm khai thác tối đa những lợi ích từ các
nguồn khí thiên nhiên.
Đây là bản Quy hoạch tổng thể về phát triển khí thiên nhiên đầu tiên ở Việt
Nam, được soạn thảo khá công phu, tập hợp được nhiều số liệu điều tra từ các
nguồn khác nhau trong nước, cũng như một số quan điểm, chính sách của các cơ
quan quản lý nhà nước. Nhiều cuộc họp trao đổi, thảo luận dưới sự chủ trì của
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Xuân Giá cũng như Phó Thủ tướng Chính
phủ Trần Đức Lương đã được tổ chức trong hơn 2 năm (1994-1996). Riêng đối với
Petrovietnam, lần đầu tiên việc đánh giá tài nguyên dầu khí toàn thềm lục địa Việt
Nam được triển khai một cách khá bài bản và cập nhật được đầy đủ tài liệu vào
lúc đó (tài nguyên khí có thể thu hồi là 1.300 tỷ m3, có thể khai thác 15 tỷ m3/năm
vào năm 2010). Về mặt kinh tế, theo bản Quy hoạch này, giá khí cung cấp cho thị
trường từ 2 đến 3,5 USD cho 1 triệu BTU (theo giá năm 1996).
2. Đầu tư xây dựng các công trình thu gom, vận chuyển và chế biến khí
mỏ Bạch Hổ
Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro đã bắt đầu khai thác mỏ dầu Bạch Hổ từ
ngày 26-6-1986. Tại các giàn khai thác, cho đến năm 1995, khí đồng hành được
tách ra khỏi dầu thô với hệ số khí/dầu bình quân là 150 m3/tấn và được đốt bỏ
do chưa có điều kiện thu gom và vận chuyển vào bờ để sử dụng. Tính đến ngày
31-7-1990, Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro đã khai thác được 3,95 triệu tấn
dầu thô và đốt bỏ 739 triệu m3 khí đồng hành. Riêng trong tháng 7-1990, lượng
khí đốt bỏ là trên 13,7 triệu m3 kèm theo 722 tấn condensat. Ngoài mỏ Bạch
Hổ, trong khu vực bể Cửu Long đã phát hiện mỏ Rồng và nhiều cấu tạo có triển
vọng chứa dầu khí lớn… Nếu không có biện pháp sớm thu gom và sử dụng khí
đồng hành, thì cùng với sự gia tăng khai thác dầu, lượng khí đồng hành phải đốt

Lòch söû ngaønh Daàu khí Vieät Nam 405
Chương 8: TRIỂN KHAI CÁC ĐỀ ÁN KHÍ VÀ...
bỏ sẽ ngày càng lớn, gây lãng phí tài nguyên và làm ô nhiễm môi trường. Do đó
ý tưởng thu gom, vận chuyển khí đồng hành vào bờ và sử dụng cho nền kinh tế
quốc dân đã hình thành.
Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 7-7-1988 của Bộ Chính trị nhấn mạnh: Nhanh
chóng lập phương án trước năm 1995 sử dụng khí đồng hành mỏ Bạch Hổ và các
mỏ khác để sản xuất phân đạm, phát điện và phục vụ đời sống nhân dân.
2.1. Về sử dụng khí đồng hành mỏ Bạch Hổ
Tại kỳ họp XI Hội đồng Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro ngày 21-10-1989,
Phía Việt Nam chính thức đề nghị được sử dụng khí đồng hành từ các mỏ của Xí
nghiệp Liên doanh Vietsovpetro mà không phải trả tiền. Ngày 3-1-1990, Trưởng
đoàn Phía Liên Xô B.A. Nikitin thông báo, Chính phủ Liên Xô đồng ý giao cho
Chính phủ Việt Nam thu gom và sử dụng khí đồng hành mỏ Bạch Hổ không phải
trả tiền cho Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro trừ phần khí sử dụng tại mỏ. Ngày
12-12-1990, sau một thời gian dài đàm phán, hai Phía Việt Nam và Liên Xô đã ký
Nghị định thư liên Chính phủ Việt - Xô, quy định: “từ ngày 1-1-1991, khí đồng hành
lấy lên trong quá trình khai thác dầu ngoài việc sử dụng cho các nhu cầu công nghệ
khai thác sẽ được giao cho Bên Việt Nam tại mỏ không phải trả tiền”1. Sự kiện này đã
tạo cơ sở để triển khai các bước tiếp theo về sử dụng khí đồng hành mỏ Bạch Hổ.
Ngày 16-7-1991, hai Chính phủ Việt Nam và Liên Xô đã ký Hiệp định sửa đổi về
tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí tại thềm lục địa phía Nam Việt Nam, trong
đó chính thức khẳng định khí đồng hành được lấy lên trong quá trình khai thác
dầu mà Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro không sử dụng cho nhu cầu công nghệ
được chuyển giao cho Phía Việt Nam tại mỏ không phải trả tiền. Trong trường hợp
phát hiện các mỏ khí hoặc condensat, việc đánh thuế sử dụng và phân chia sản
phẩm khai thác được sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng của hai Bên.
2.2. Công ty Khí đốt Việt Nam (VietGas) và Dự án khí Bạch Hổ
Để triển khai thực hiện việc thu gom, vận chuyển, xử lý và phân phối khí, ngày
20-9-1990 Bộ Công nghiệp nặng đã ra quyết định thành lập Công ty Khí đốt thuộc
Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam. Giám đốc đầu tiên của Công ty Khí
đốt Việt Nam là ông Nguyễn Quang Hạp, nguyên Vụ trưởng Vụ Kinh tế - Kế hoạch
1. Nghị định thư về một số vấn đề liên quan đến hoạt động của Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro trong
năm 1991 do Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng Trần Lum, được ủy quyền của Bên Việt Nam và Thứ
trưởng thứ nhất Bộ Công nghiệp dầu Liên Xô B.A. Nikitin, được ủy quyền của Bên Liên Xô đã ký ngày
12-12-1990.

Lòch söû ngaønh Daàu khí Vieät Nam
406
Phần thứ ba: TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM...
Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam. Năm 1998, trên cơ sở Công ty VietGas,
Công ty Chế biến và Kinh doanh các sản phẩm khí - PVGC (sau trở thành Tổng
công ty Khí Việt Nam - PV Gas) đã được thành lập. Ngay sau khi thành lập, Công
ty Khí đốt Việt Nam đã tích cực thực hiện các nhiệm vụ được Tổng công ty Dầu mỏ
và Khí đốt Việt Nam giao về lập và phối hợp triển khai các dự án khí.
Ban đầu do chưa có năng lực và kinh nghiệm thực tế, Tổng công ty Dầu mỏ
và Khí đốt Việt Nam được Hội đồng Bộ trưởng cho phép mời các công ty nước
ngoài tham gia liên doanh lập Dự án phát triển và sử dụng khí thiên nhiên ở
Việt Nam. Đã có 18 công ty nước ngoài hưởng ứng tham gia dự án (Pháp: Gaz
de France, SODEP…; Anh: BP Exploration, British Gas…; Nhật Bản: C’ITOH,
Nissho Iwai…; Đức: Liquid Gas International liên doanh với Manessman; Ấn
Độ: PEC; Bỉ: Tractebel; Niu Dilân: Gas Development Resource; Thái Lan: PTT;
Malaixia: Petronas; Đài Loan: CPIC; Hồng Kông: Search International Ltd; Mỹ: do
cấm vận nên Công ty CIREN đứng tên thay cho 10 công ty Mỹ). Trong năm 1991
và 1992, một số công ty dầu khí Nhật Bản, Pháp, Canađa, Thái Lan đã gửi Luận
chứng khả thi đề án khí đến Tổng công ty Dầu khí Việt Nam. “Qua 2 vòng phân
tích so sánh lựa chọn và sau khi được Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt, Tổng công
ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam đã chọn Tổ hợp Liquigas/SNC (Canađa) làm đối
tác liên doanh, và ngày 18-4-1992 hai Bên đã ký “Thoả thuận chung” và thảo luận
các văn bản để thành lập Liên doanh nhà máy khí hoá lỏng”1.
Ngày 17-6-1994, được sự cho phép của Thủ tướng Chính phủ, Tổng công
ty Dầu khí Việt Nam đã ký Thỏa thuận khung (Heads of Agreement) về đề án
sử dụng khí đồng hành giữa Petrovietnam với Tổ hợp Công ty British Gas PLC
(Anh), Mitsui & Co., Ltd. (Nhật Bản) và TransCanada Pipelines Ltd. (Canađa).
Sau đó, trong quá trình đàm phán Hợp đồng thành lập liên doanh do các
điều kiện mà các đối tác nước ngoài đưa ra không được Phía Việt Nam chấp
thuận, các công ty nói trên đã không thể đi đến giai đoạn triển khai thực hiện
dự án. Tuy nhiên, quá trình trao đổi, đàm phán với các công ty nước ngoài đã
giúp các chuyên gia Việt Nam từng bước nâng cao trình độ; triển khai các hoạt
động hợp tác với các tổ chức nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp khí, như
với Viện Cố vấn Nhật Bản (JCI) lập bản nghiên cứu tiền khả thi đồng bộ từ thu
gom, vận chuyển, hoá lỏng và chế biến phân đạm (chi phí do Chính phủ Nhật
Bản tài trợ)…
1. Công văn số 1964/KT-KH ngày 9-11-1992 của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam gửi Tổng Bí thư Đảng
Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười về việc Báo cáo về đề án khí và đề án lọc dầu.

