Lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) Cấu tạo và sinh lý-2

Chia sẻ: Nguyễn Thị Phương Anh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
113
lượt xem
32
download

Lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) Cấu tạo và sinh lý-2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hệ tiêu hoá: Phần lớn chân rìu ăn các vụn bã hữu cơ lắng đọng, động vật và thực vật nổi cỡ bé, một số ít ăn thịt (nhóm Mang ngắn) hay ăn gỗ (nhóm Hà) nhờ vào hệ vi sinh vật cộng sinh trong ruột. Lấy cấu tạo hệ tiêu hóa của trai sông là ví dụ: gồm có miệng, thực quản, dạ dày, ruột giữa, ruột sau và khối gan tụy. Thực quản là một ống lớn thông với phần trước của dạ dày.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) Cấu tạo và sinh lý-2

  1. Lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) - Cấu tạo và sinh lý-2 Hệ tiêu hoá: Phần lớn chân rìu ăn các vụn bã hữu cơ lắng đọng, động vật và thực vật nổi cỡ bé, một số ít ăn thịt (nhóm Mang ngắn) hay ăn gỗ (nhóm Hà) nhờ vào hệ vi sinh vật cộng sinh trong ruột. Lấy cấu tạo hệ tiêu hóa của trai sông là ví dụ: gồm có miệng, thực quản, dạ dày, ruột giữa, ruột sau và khối gan tụy. Thực quản là một ống lớn thông với phần trước của dạ dày. Dạ dày không có hình dạng nhất định và có thể tích khá lớn. Tiếp theo là ruột giữa khá dài, cuộn thành nhiều khúc: Đoạn đầu ruột chạy từ dạ dày hướng ra phía sau và xuống dưới, đoạn cuối
  2. cùng nằm gần song song đọan đầu nhưng theo chiều ngược lại, từ dưới lên trên, hướng về phía trước. Tiếp theo là ruột sau, có một đoạn chui qua tâm thất. Hậu môn nằm gần xiphông thoát, trong xoang áo. Cặn vẩn hay thức ăn được đưa đến lỗ miệng nhờ hoạt động của tiêm mao trên tấm miệng hay tấm mang, có khi kết thành từng giải nhờ chất nhầy do mô bì tiết ra. Một số có trụ gelatin, mài lên một tấm kitin cứng trên thành dạ dày để giải phóng các enzym như amilaza, glycogenaza. Một số loài thuộc nhóm Mang ngăn có ống hút đủ khả năng để hút vào xoang áo các mồi bé như giáp xác và giun. Tấm miệng và dạ dày có cơ khoẻ, hoạt động như một tấm nghiền để nghiền thức ăn, do vậy trụ gelatin không phát triển. Đáng chú ý một số chân rìu sống ở vùng nước nông và sâu có sự cộng sinh của vi khuẩn hoá tổng hợp trong mang với số lượng lớn (hình 6.18).
  3. Đặc biệt cơ thể của các loài này có sự biến đổi hình thái rất lớn như tiêu giảm một phần cơ quan vận chuyển mồi và tiêu hoá, thay đổi tính chất sinh lý như tăng cường khả năng chống ngộ độc H2S. Đây là một vấn đề rất thú vị nhằm giải thích nhiều hiện tượng dinh dưỡng của các
  4. động vật sống những nơi có điều kiện sống khắc nghiệt dưới biển sâu (hình 6.18). Hệ tuần hoàn: Chân rìu có hệ tuần hoàn hở, phần lớn có trực tràng xuyên qua tâm thất. rìu là tim - hệ khe xoang - đơn thận - mang - tim. Tuy nhiên có thể thay đổi tuỳ nhóm loài.
  5. Hệ hô hấp: Cơ quan hô hấp của động vật chân rìu là dạng biến đổi của mang lá đối, đặc trưng cho từng nhóm. Nhóm Mang nguyên thủy có mang bám hai bên phía sau cơ thể, mỗi mang có nhiều tấm mang hình tam giác xếp thành 2 dãy (hình 6.19). Tấm mang của nhóm Mang sợi có hình sợi, mỗi tấm mang có phần gốc hướng xuống dưới và phần ngọn hướng lên trên. Dãy tấm mang trong ở về phía cuối chân còn dãy tấm mang ngoài ở phía vạt áo. Trong các tấm mang cùng dãy giữa phần gốc và phần ngọn có thể có các cầu nối. Còn tấm mang của nhóm Mang chính thức bao giờ cũng có cầu nối dọc giữa các tấm mang cùng dãy và cầu nối giữa phần gốc và phần ngọn của mỗi tấm. Ngọn của các tấm mang còn có phần dính vào gốc mang hình thành xoang gốc mang (suprabrachium), ít nhiều phân biệt với xoang
  6. áo. Mang của nhóm Mang ngăn tiêu giảm, một vách ngăn phát triển trong xoang áo, chia xoang ra phần dưới và phần trên (phần hô hấp). Vách ngăn thủng một số đôi lỗ đổ nước vào xoang hô hấp. Ngoài chức phận hô hấp, hoạt động của tiêm mao trên bề mặt mang còn có khả năng vận chuyển và cuốn thức ăn về miệng. Hệ bài tiết là một đôi hậu đơn thận nằm ở 2 bên xoang bao tim, mỗi đơn thận hình chữ V (cơ quan Keber), có phần nhọn hướng về phía sau. Hai nhánh có một mở vào phần của xoang bao Một số loài trong nhóm Mang nguyên thủy và Mang sợi có tim nằm trên trực tràng như sò huyết (Arca), Nacula... hay nằm dưới trực tràng như hàu, Meleagrina... Vị trí của tim so với trực tràng thay đổi ở các loài rất gần gũi nhau về quan hệ phát sinh chủng loại. Phần lớn máu của chân rìu không có màu, ở sò huyết có
  7. máu màu đỏ. Vòng tuần hoàn điển hình của chân tim còn một qua lỗ bài tiết mở vào xoang áo. Hậu đơn thận của nhóm Mang chính thức có phần tuyến và phần ống. Phần tuyến của trai sông đen như nhung. Hậu đơn thận của nhóm Mang nguyên thủy chưa phân biệt thành các phần như trên. Hệ thần kinh và giác quan: Có cấu tạo tương đối đồng nhất trong tất cả được chân rìu. Não là do đôi hạch não và
  8. hạch bên nhập lại, một số loài của nhóm Mang nguyên thuỷ (giống Nacula) còn tách biệt. Giữa 2 hạch não còn có cầu nối ngang trên hầu. Từ não có dây thần kinh não - chân đi đến chân, dây thần kinh não - nội tạng đi đến hạch nội tạng nằm trên cơ khép vỏ sau (hình 6.20). Giác quan của động vật chân rìu nói chung kém phát triển. Cơ quan thăng bằng là bình nang nằm cạnh hạch chân. Cấu tạo bình nang hoặc đơn giản, là một túi để ngỏ (giống Yoldia) hay là một túi kín cấu tạo phức tạp. Một số chân rìu có mắt trên bờ vạt áo (điệp), hay bên bờ ống hút và thoát nước (giống Cardium). Mắt có màng cứng, thể thủy tinh và võng mạc để nhận ảnh. Tấm miệng và các sợi trên bờ áo giữ nhiệm vụ xúc giác. Hệ sinh dục: Phần lớn động vật chân rìu đơn tính, tuyến sinh dục chiếm 1 phần thể xoang và nằm quanh ruột. Ống sinh dục ngắn và đổ vào
  9. phần cuối của thân (ở nhóm Mang nguyên thủy hay Mang sợi), một số loài khác lỗ sinh dục nằm ngay cạnh lỗ bài tiết. Một số ít loài chân rìu lưỡng tính như Cardium, Poromya, một số loài hàu, điệp, họ Sphaeridae và một số ít loài trong họ Trùng trục (Unionidae). Tuyến sinh dục đực và cái nằm cạnh nhau quanh ruột. Hương Thảo (thao giáo trình ĐVKXS)

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản