intTypePromotion=1

Lớp từ ngữ giữ chức năng định danh, xưng hô trong hồi kí từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc của Phạm Khắc Hòe

Chia sẻ: Lâm Đức Duy | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
70
lượt xem
0
download

Lớp từ ngữ giữ chức năng định danh, xưng hô trong hồi kí từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc của Phạm Khắc Hòe

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết Lớp từ ngữ giữ chức năng định danh, xưng hô trong hồi kí từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc của phạm khắc hòe trình bày: Cuốn hồi kì Từ Triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc của Phạm Khắc Hòe, chúng tôi sẽ làm nổi bật vai trò, tác dụng của vốn từ trong quá trình thể hiện hệ tư tưởng, quan điểm và thái độ chính trị của tác giả đối với,... Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Lớp từ ngữ giữ chức năng định danh, xưng hô trong hồi kí từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc của Phạm Khắc Hòe

LỚP TỪ NGỮ GIỮ CHỨC NĂNG ĐỊNH DANH, XƯNG HÔ<br /> TRONG HỒI KÍ TỪ TRIỀU ĐÌNH HUẾ ĐẾN CHIẾN KHU VIỆT BẮC<br /> CỦA PHẠM KHẮC HÒE<br /> TRẦN BÌNH TUYÊN<br /> Nhà xuất bản Đại học Huế<br /> Tóm tắt: Thông qua lớp từ ngữ giữ chức năng định danh, xưng hô trong<br /> cuốn hồi kì Từ Triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc của Phạm Khắc<br /> Hòe, chúng tôi sẽ làm nổi bật vai trò, tác dụng của vốn từ trong quá trình thể<br /> hiện hệ tư tưởng, quan điểm và thái độ chính trị của tác giả đối với các hiện<br /> tượng xã hội trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt của dân tộc.<br /> <br /> 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG<br /> 1.1. Trong ngôn ngữ, lớp từ ngữ giữ chức năng định danh, xưng hô có giá trị biểu đạt<br /> nội dung sâu sắc. Thông qua lớp từ này, vị thế xã hội của các nhân vật giao tiếp được<br /> thể hiện một cách cụ thể, chính xác trong từng điều kiện và hoàn cảnh xã hội. Đối với<br /> lớp từ ngữ định danh, giá trị biểu đạt đó còn rất đa dạng, phong phú thông qua chức<br /> năng quy chiếu của ngôn ngữ. Một sự vật, hiện tượng có thể được quy chiếu bởi hệ<br /> thống từ ngữ đồng quy chiếu khác nhau, do đó, bên cạnh nội dung biểu đạt vị thế xã hội,<br /> lớp từ này còn giúp tác giả thể hiện cách nhìn và cách đánh giá cũng như bộc lộ tâm tư<br /> tình cảm, tư tưởng xã hội đối với đối tượng được đề cập. Bên cạnh đó, từ xưng hô là<br /> một cách quy chiếu đối tượng người tham gia giao tiếp trực tiếp hoặc là đối tượng được<br /> đề cập đến trong phát ngôn (diễn ngôn). Trong hoạt động giao tiếp, lớp từ này có chức<br /> năng định vị các đối tượng trong quan hệ với người nói và hoàn cảnh giao tiếp, đồng<br /> thời chúng còn biểu hiện một cách sâu sắc các quan hệ liên nhân trong xã hội của các<br /> vai giao tiếp được phản ánh. Như vậy, ngôn ngữ nói chung và lớp từ ngữ định danh,<br /> xưng hô nói riêng có các chức năng đặc biệt nhằm truyền tải nội dung, tư tưởng của<br /> người viết đối với các hiện tượng xã hội. Trong bài viết này, chúng ta có thể thấy được<br /> cụ thể hơn vai trò và tác động của các lớp từ ngữ này trong quá trình thể hiện cách nhìn<br /> cũng như quan điểm, thái độ chính trị của tác giả đối với xã hội.<br /> 1.2. Cuốn hồi kí Từ Triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc của Phạm Khắc Hòe là cuốn<br /> hồi kí tái hiện lại những vấn đề xã hội Việt Nam trong một ngữ cảnh đặc biệt, đó là sự<br /> giao nhau về mặt thời gian: trước và sau Cách mạng tháng Tám với hai giai đoạn. Giai<br /> đoạn thứ nhất, chế độ thực dân nửa phong kiến ngày càng thối nát, mục ruỗng nhưng<br /> vẫn cố ngoi lên trong cơn hấp hối, giãy chết cuối cùng của nó. Thực dân Pháp và phát<br /> xít Nhật loại bỏ nhau với tham vọng độc chiếm Đông Dương. Trong hoàn cảnh đó, dưới<br /> sự lãnh đạo của Việt Minh và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, phong trào cách mạng của nhân<br /> dân dâng lên như vũ bão sẵn sàng cho cuộc thay đổi lịch sử. Giai đoạn thứ hai, nước ta<br /> đã trở thành nước độc lập tự do nhưng chúng ta cũng bắt đầu bước vào cuộc chiến đấu<br /> với thực dân Pháp, mở đầu bằng cuộc chiến căng thẳng trên mặt trận tư tưởng. Nội dung<br /> Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế<br /> ISSN 1859-1612, Số 01(17)/2011: tr. 72-79<br /> <br /> LỚP TỪ NGỮ GIỮ CHỨC NĂNG ĐỊNH DANH, XƯNG HÔ...<br /> <br /> 73<br /> <br /> cuốn hồi kí tập trung vào ba nội dung cơ bản: nội dung về lịch sử, nội dung về xã hội và<br /> nội dung về sự chuyển biến nhận thức tư tưởng, hành động của người trần thuật.<br /> 2. LỚP TỪ NGỮ GIỮ CHỨC NĂNG ĐỊNH DANH, XƯNG HÔ TRONG HỒI KÍ TỪ<br /> TRIỀU ĐÌNH HUẾ ĐẾN CHIẾN KHU VIỆT BẮC CỦA PHẠM KHẮC HÒE<br /> Dựa vào đặc điểm phân bố của lớp từ ngữ giữ chức năng định danh, xưng hô trong tác<br /> phẩm chúng tôi đã tiến hành khảo sát lớp từ này trong 404 trang hồi kí với bốn tuyến<br /> nhân vật: nhân vật tôi (người phát ngôn, người trần thuật), nhân vật thuộc triều đình<br /> cũ - đại diện cho lực lượng xã hội đã lỗi thời, nhân vật cách mạng - đại diện cho tầng<br /> lớp xã hội mới với những chức năng xã hội mới, và cuối cùng là nhân vật thuộc lực<br /> lượng kẻ thù và bọn tay sai. Tuy nhiên, do dung lượng của bài viết có hạn và các tuyến<br /> nhân vật lại quá nhiều nên chúng tôi chỉ khoanh vùng trên cơ sở mỗi tuyến nhân vật sẽ<br /> lựa chọn những nhân vật tiêu biểu nhất, đại diện cho từng tuyến nhân vật để khảo sát.<br /> Từ kết quả khảo sát về cách sử dụng hoặc tần số xuất hiện lớp từ này trong từng tuyến<br /> nhân vật, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích giá trị biểu hiện của chúng dựa trên hai nội<br /> dung tiêu biểu: giá trị biểu hiện mối quan hệ liên nhân giữa các nhân vật và đặc biệt là<br /> thái độ của người trần thuật đối với các vai giao tiếp trong cuốn hồi kí. Tuy nhiên, do<br /> thời điểm trong hồi kí là thời điểm lịch sử của một giai đoạn đặc biệt trong xã hội Việt<br /> Nam: trước và sau Cách mạng đã tạo ra những sự thay đổi của các định danh vai xã hội<br /> của nhiều đối tượng. Đối với người trần thuật, sự thay đổi về hai giai đoạn của xã hội<br /> Việt Nam - ở thời điểm trần thuật trong hồi kí khiến cho tác giả có những chuyển biến<br /> về mặt nhận thức xã hội từ đó dẫn đến sự chuyển biến về cách quy chiếu đối tượng<br /> được đề cập. Đối với nhân vật Bảo Đại, bước ngoặt lớn nhất là thời điểm thoái vị<br /> (Chương 1), vì vậy chúng tôi tiến hành phân chia thành hai giai đoạn: trước (Chương 1)<br /> và sau khi vua Bảo Đại thoái vị (Chương 2, 3 và 4). Như vậy, đối với nhân vật triều<br /> đình, chúng tôi khảo sát những biểu thức quy chiếu khác nhau của cùng một đối tượng<br /> phân theo hai thời điểm: trước và sau khi Bảo Đại thoái vị. Trên cơ sở đó tính tỷ lệ phần<br /> trăm xem biểu thức quy chiếu nào có tần số xuất hiện nhiều nhất; đồng thời những biểu<br /> thức quy chiếu trước hoặc sau thời điểm Bảo Đại thoái vị cũng có ý nghĩa đặc biệt trong<br /> quá trình phân tích. Còn đối với nhân vật kẻ thù, không chịu sự chi phối này nên chúng<br /> tôi khảo sát lớp từ ngữ giữ chức năng định danh dưới góc nhìn rất khác nhau của ba<br /> tuyến nhân vật tiêu biểu: nhân dân, tay sai, phản động và chính kẻ thù.<br /> 2.1. Trước hết, lớp từ ngữ định danh, hô gọi đã thể hiện sâu sắc vị thế xã hội giữa các<br /> nhân vật giao tiếp trong cuốn hồi kí. Sống trong một xã hội, mỗi người đều có một vị<br /> thế nhất định. Các vị thế này do địa vị xã hội, tuổi tác, nghề nghiệp, chức quyền... đem<br /> lại. Tuy nhiên, vị thế xã hội của con người không phải là cố định, bất biến mà nó có thể<br /> thay đổi theo từng thời điểm.<br /> Để xác định vị thế xã hội của nhân vật, tác giả có nhiều cách biểu hiện. Trước hết là<br /> việc sử dụng hệ thống lớp từ ngữ định danh nhân vật. Trong hồi kí Từ triều đình Huế<br /> đến chiến khu Việt Bắc, mặc dù các tuyến nhân vật rất đa dạng nhưng mỗi nhân vật, lớp<br /> nhân vật cụ thể lại được quy chiếu bằng một hệ thống từ ngữ đồng sở chỉ riêng. Ở<br /> Chương 1, nhân vật Bảo Đại được quy chiếu bằng hàng loạt các biểu thức quy chiếu<br /> <br /> 74<br /> <br /> TRẦN BÌNH TUYÊN<br /> <br /> như Hoàng đế, Đức Hoàng đế; Vua, nhà Vua; Ngài... Nghĩa chiếu vật của các biểu<br /> thức này giúp chúng ta có thể nhận diện vị thế xã hội của nhân vật này là người đứng<br /> đầu một đất nước quân chủ phong kiến. Tuy nhiên, càng về sau, lớp từ ngữ này không<br /> còn được dùng phổ biến nữa mà thay vào đó là lớp từ ngữ hoàn toàn mới: Cựu Hoàng,<br /> ông Vĩnh Thụy. Đây chính là biểu hiện sự thay đổi vị thế xã hội của nhân vật Bảo Đại:<br /> dưới cơn bão táp cách mạng với những xoay chuyển xã hội mạnh mẽ, Bảo Đại đã buộc<br /> phải thoái vị, trao chính quyền cho cách mạng, đồng thời trở thành một công dân của<br /> nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Sau đó, nhân vật Bảo Đại lại được quy chiếu bởi một<br /> số từ ngữ định danh nghề nghiệp, chức danh cụ thể như ông Cố vấn, Cố vấn Vĩnh<br /> Thụy. Những biểu thức quy chiếu này là một sự xác nhận vị thế xã hội mới của Bảo Đại<br /> là Cố vấn Chính phủ Kháng chiến Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng cuối cùng, Bảo<br /> Đại cũng hiện rõ bản chất phản động của mình và trở thành kẻ phản bội tổ quốc với việc<br /> tác giả sử dụng đồng sở chỉ y và tay sai cho nhân vật này.<br /> Tương tự, nhân vật Từ Cung và Nam Phương cũng được quy chiếu bởi các biểu thức<br /> quy chiếu là hệ thống các từ ngữ giữ chức năng định danh để qua đó giúp người đọc xác<br /> định vị thế xã hội của các nhân vật này. Ban đầu là các từ ngữ như Hoàng Thái hậu,<br /> Đức Từ, Ngài... để xác định vị thế là mẹ vua của Từ Cung nhưng sau đó nhân vật này<br /> được quy chiếu bởi các từ ngữ định danh như bà ta, Từ Cung khi Bảo Đại thoái vị, triều<br /> đình phong kiến cuối cùng của Việt Nam bị sụp đổ. Nam Phương ở Chương 1 hồi kí dễ<br /> dàng được xác định là vợ Vua khi được định danh bằng những từ ngữ rất trang trọng<br /> như Hoàng Hậu, Ngài Hoàng, Ngài... Khi Bảo Đại thoái vị, Nam Phương cũng trở về<br /> vị thế của một người công dân bình thường được gọi theo tên chồng là bà Vĩnh Thụy<br /> (Chương 2)...<br /> Đối với nhân vật Bác Hồ, vị thế xã hội của Người cũng được xác định qua các hệ thống<br /> các biểu thức quy chiếu là lớp từ ngữ định danh. Khi còn là lãnh tụ Việt Minh, Người<br /> được quy chiếu bởi những từ ngữ như Nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc, lãnh tụ<br /> Nguyễn Ái Quốc... (Chương 1). Nhưng sau khi Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng<br /> hòa được thành lập vị thế xã hội của Người là Chủ tịch nước được xác lập qua những từ<br /> ngữ định danh như Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cụ Chủ tịch... (Chương 2, 3, 4).<br /> Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể xác định vị thế xã hội của các nhân vật qua lớp từ<br /> xưng hô. Trong giao tiếp, người nói thường hướng tới người đối thoại với hai thái độ:<br /> lịch sự hoặc không lịch sự. Sự chi tiết hóa hai thái độ này là bốn kiểu sắc thái xưng hô<br /> biểu cảm: 1. Trang trọng; 2. Trung hòa, vừa phải; 3. Thân mật, suồng sã; 4. Thô tục,<br /> khinh thường... Trong cuốn hồi kí sắc thái xưng hô biểu cảm và thái độ của người nói<br /> chủ yếu tập trung vào sắc thái trung hòa, vừa phải và sắc thái thân mật... Như chúng ta<br /> đã biết, quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng tộc người bao giờ cũng được cấu<br /> trúc theo hai kiểu: quan hệ thân tộc và quan hệ xã hội. Vì thế, trong giao tiếp xã hội,<br /> xưng hô cũng thể hiện ở hai phạm vi: xưng hô gia đình và xưng hô ngoài xã hội. Tuy<br /> nhiên, xét từ đặc điểm hệ thống các từ xưng hô trong cuốn hồi kí cũng như mục đích<br /> triển khai của đề tài, chúng tôi tập trung vào phạm vi xưng hô ngoài xã hội với một số<br /> nhân vật tiêu biểu của tác phẩm.<br /> <br /> LỚP TỪ NGỮ GIỮ CHỨC NĂNG ĐỊNH DANH, XƯNG HÔ...<br /> <br /> 75<br /> <br /> Các vai giao tiếp như Bảo Đại, Từ Cung, Nam Phương ở Chương 1 có chung lối xưng<br /> hô thể hiện rõ vị thế xã hội là những người có quyền thế và với tư cách bề trên đối với<br /> những nhân vật mà các đối tượng này giao tiếp. Theo số liệu đã khảo sát, chúng tôi thấy<br /> nhân vật Bảo Đại nhiều lần sử dụng các từ trẫm để tự xưng và gọi người đối thoại là<br /> chư khanh (Trẫm chắc rằng chư khanh sẽ làm trọn chức vụ, không làm phụ lòng<br /> Trẫm ủy thác và lòng dân kỳ vọng. [2, tr. 38]). Trẫm là cách tự xưng của vua trong xã<br /> hội phong kiến với bề tôi và các quan được vua gọi chung là khanh, chư (các) khanh.<br /> Bên cạnh đó, Bảo Đại, Nam Phương và Từ Cung thường xưng ta với đối tượng giao<br /> tiếp: Ông Tổng lý vẫn khăn áo ta như trước à! Ông giới thiệu từng người cho ta biết rõ.<br /> (lời của Từ Cung) [2, tr. 36].<br /> Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng, 1997), Ta là từ dùng để tự xưng khi nói với<br /> người khác, thường với tư cách người trên [4, tr. 846]. Thời điểm các nhân vật này<br /> xưng ta là thời điểm đang có vị thế cao nhất trong chế độ quân chủ phong kiến. Tuy<br /> nhiên, vị thế xã hội không bao giờ mang tính ổn định. Khi hoàn cảnh thay đổi, vị thế xã<br /> hội của con người cũng thay đổi, tất nhiên kéo theo cả sự thay đổi trong lối xưng hô.<br /> Trong những ngày cơn bão táp Cách mạng dâng lên mạnh mẽ ở Huế và đặc biệt sau<br /> ngày 30/8/1945, ngày Bảo Đại thoái vị, các nhân vật triều đình Huế không còn xưng hô<br /> với sắc thái bề trên, trịch thượng này nữa mà thay vào đó là lối xưng hô với sắc thái<br /> trung hòa, vừa phải: xưng tôi/ tui, gọi ông với những người đối thoại. Qua đây chúng ta<br /> có thể thấy, trong giao tiếp có nhiều yếu tố tác động đến sự lựa chọn từ ngữ xưng hô.<br /> Bên cạnh yếu tố vị thế xã hội, thái độ tình cảm còn có yếu tố xuất phát từ chính mục<br /> đích và chiến lược giao tiếp của người xưng hô. Chính vì vậy, Nguyễn Văn Chiến cho<br /> rằng: Trong giao tiếp xưng hô, để thực hiện một hành vi xưng hô nào đó với người đối<br /> thoại, người xưng - gọi thông thường chú ý đến mục đích (giao tiếp) xưng hô của mình<br /> [3, tr. 62]. Tiêu biểu nhất là trường hợp Nam Phương đã thay đổi cách xưng hô ba lần<br /> trong hai lần đối thoại với nhân vật tôi khi nhân vật này trở lại thăm Huế sau một thời<br /> gian tham gia chính quyền cách mạng. Ban đầu Nam Phương gọi nhân vật tôi là ông,<br /> xưng tôi, sau đó thân mật hơn gọi ông Hòe và cuối cùng là ông bạn. Kèm với lối xưng<br /> hô thân mật này là những hành động, cử chỉ cũng rất thân mật, một điều hoàn toàn mới<br /> lạ ở nhân vật Nam Phương. Đó là hành động bắt tay (người vốn chỉ biết đưa tay ra cho<br /> người ta cúi xuống đỡ lấy và hôn) và hành động “tự mình xích hai cái ghế lại gần<br /> nhau”. Như vậy, trong trường hợp này, mục đích và chiến lược giao tiếp là yếu tố quyết<br /> định cho sự lựa chọn từ ngữ xưng hô của vai giao tiếp này. Thái độ thân mật hóa của<br /> Nam Phương từ thái độ bề trên chuyển dần đến bình đẳng rồi thân mật là nhằm mục<br /> đích tranh thủ nhân vật tôi, và qua nhân vật tôi để lôi kéo những người khác nhằm thực<br /> hiện tham vọng chính trị của mình... Bên cạnh đó, một “mục đích và chiến lược giao<br /> tiếp” rất đáng chú ý cũng đã được tác giả sử dụng thành công là các thay đổi xưng hô<br /> khá thú vị của ta đối với thực dân Pháp. Sau những buổi đối đầu căng thẳng trên bàn<br /> đàm phán giữa ta và Pháp tại hội nghị trù bị Đà Lạt, ta có tổ chức một buổi chiêu đãi<br /> Phái đoàn Pháp. Để tạo không khí vui vẻ, thân thiện, tác giả đã sử dụng cụm từ các bạn<br /> Pháp để khởi nguồn cho những câu chuyện hòa nhã giữa hai bên. Hiệu quả là ta và<br /> Pháp đã có một buổi tiệc vui vẻ, thân thiện, xóa tan những căng thẳng đã có trước đó;<br /> <br /> 76<br /> <br /> TRẦN BÌNH TUYÊN<br /> <br /> đồng thời cũng cho Pháp thấy rõ quan điểm của ta trong cuộc đối đầu với Pháp trên mặt<br /> trận tư tưởng là dựa trên cơ sở hòa bình, thân thiện.<br /> 2.2. Bên cạnh thể hiện vị thế xã hội của các nhân vật, lớp từ định danh, hô gọi cũng thể<br /> hiện rất rõ thái độ, tình cảm của các nhân vật nói và các vai tham gia giao tiếp. Trong<br /> cuốn hồi ký, lớp từ ngữ đồng sở chỉ biểu thị các nhân vật như Bảo Đại, Từ Cung và<br /> Nam Phương trước khi Bảo Đại thoái vị như Hoàng đế, Đức Từ, Ngài Hoàng... được<br /> nhân vật triều đình Huế sử dụng tuyệt đối. Đặc biệt, ngay cả khi Bảo Đại đã thoái vị<br /> (Chương 2) các nhân vật triều đình cũ vẫn sử dụng các từ ngữ dành cho hoàng gia (Ví<br /> dụ, từ Hoàng đế: 5 lượt, chiếm 12,82%; từ Đức Từ: 7 lượt, chiếm 70%; từ Ngài<br /> Hoàng; 7 lượt, chiếm 77,78%). Xét về ngôn ngữ tác giả, cách dùng này mang thái độ<br /> mỉa mai sâu sắc trước thói quen hay đúng hơn là tư tưởng tham quyền cố vị của Hoàng<br /> gia cũ trong khi thực tế nó đã lỗi thời và không còn tồn tại nữa... Đối với Bảo Đại, nhân<br /> vật thuộc triều đình cũ luôn thể hiện thái độ, tình cảm trân trọng với việc sử dụng nhiều<br /> những từ ngữ như Hoàng đế, Vua... Tuy nhiên, khi biết được những hành động phản<br /> bội của Bảo Đại đối với mình ở Hà Nội, Nam Phương đã thay đổi thái độ rõ rệt. Không<br /> còn sự cung kính, trân trọng nữa mà thay vào đó là thái độ hờn ghen, căm phẫn được thể<br /> hiện qua việc Nam Phương chuyển từ việc gọi chồng mình là Hoàng đế sang gọi chồng<br /> mình một cách xa lạ là ông Vĩnh Thụy, ông Cố vấn và người ta... Đặc biệt, thái độ phê<br /> phán đối với những nhân vật triều đình cũ được thể hiện sâu sắc qua nhân vật tôi, người<br /> đã chứng kiến những bước ngoặt, những thay đổi trong cuộc đời của những nhân vật<br /> này với việc dùng các đại từ nhân xưng gốc mang sắc thái khinh thường như ông ta, y<br /> để chỉ Bảo Đại, bà ta để chỉ Nam Phương và Từ Cung... Đặc biệt, riêng đối với Bảo<br /> Đại, nhân vật tôi đã gọi đích danh niên hiệu Bảo Đại với tần số cao nhất trong tất cả các<br /> biểu thức quy chiếu đối với nhân vật này: 130 lượt, chiếm 38,69% (bên cạnh các tên gọi<br /> khác như Hoàng đế, nhà vua, ngài...). Theo quan niệm thông thường của người Việt<br /> Nam, việc gọi đích danh này là điều cấm kị, đặc biệt là đối với vua chúa. Thế nhưng từ<br /> này lại được nhân vật tôi sử dụng gần như tuyệt đối ở thời điểm khi Bảo Đại chưa thoái<br /> vị (129 lượt, chiếm 99,23%) và tuyệt đối trong câu trần thuật. Như vậy, qua đó thể hiện,<br /> nhân vật tôi đã không có thái độ thiện cảm với nhân vật Bảo Đại từ lâu và đã ăn sâu<br /> trong tiềm thức. Thái độ phê phán đối với Bảo Đại còn được đẩy lên cao trào khi chính<br /> những người Pháp đã dành cho nhân vật này những từ ngữ đầy mỉa mai, kinh thường<br /> như con vật đẹp, một bù nhìn kiểu mẫu, một người ích kỉ kinh khủng...<br /> Hệ thống từ ngữ đồng sở chỉ biểu thị nhân vật Bác Hồ được nhân vật tôi là người sử dụng<br /> nhiều nhất và với chiều hướng thân mật hóa theo tuyến tính thời gian (từ Chương 1 đến<br /> Chương 4) từ sắc thái trang trọng, có khoảng cách: Nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc,<br /> Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cuối<br /> cùng là sắc thái thân mật, tình cảm: Cụ, Cụ Chủ tịch, Người, Cụ Hồ, Bác, Bác Hồ... Qua<br /> cách nói này, nhân vật tôi không chỉ thể hiện quá trình thay đổi nhận thức sâu sắc về Bác<br /> Hồ đứng trên góc nhìn của một viên quan đại thần triều Nguyễn mà đồng thời qua đây<br /> cũng thể hiện được thái độ trân trọng, tình cảm gắn bó sâu sắc của một người con Việt<br /> Nam đối với Bác - vị lãnh tụ, người cha già kính yêu của dân tộc. Bên cạnh đó, cũng cần<br /> phải nhắc đến những từ ngữ định danh về Bác Hồ mà người nói là nhân vật triều đình cũ.<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2