intTypePromotion=1

Luận án Tiến sĩ: Diễn ngôn hội thoại trong truyện ngắn Nam Cao - Đối thoại, độc thoại và mạch lạc

Chia sẻ: Na Na | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:175

0
135
lượt xem
31
download

Luận án Tiến sĩ: Diễn ngôn hội thoại trong truyện ngắn Nam Cao - Đối thoại, độc thoại và mạch lạc

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận án hướng tới tập hợp, xây dựng cơ sở lý thuyết về hội thoại trên cơ sở tổng hợp lý thuyết về hội thoại của ngôn ngữ học thế giới và Việt Nam và vận dụng nó để nhận diện các hình thức sử dụng hội thoại, nghiên cứu, phát hiện và miêu tả cấu trúc của các hình thức sử dụng hội thoại (đối thoại, độc thoại nội tâm) và vấn đề mạch lạc diễn ngôn trong các cặp thoại Hỏi - Đáp trong truyện ngắn Nam Cao.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận án Tiến sĩ: Diễn ngôn hội thoại trong truyện ngắn Nam Cao - Đối thoại, độc thoại và mạch lạc

  1. 1 MỤC LỤC Lời cam đoan Quy ước trình bày  MỞ ĐẦU..........................................................................................................1   1. Lý do chọn đề tài .....................................................................................1   2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu........................................................2 2.1. Mục đích nghiên cứu.................................................................................2 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................3   3. Đối tượng nghiên cứu..............................................................................3   4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................3 4.1. Phương pháp thống kê...............................................................................4 4.2. Phương pháp miêu tả................................................................................4 4.3. Phương pháp phân tích hội thoại .............................................................4 4.4.  Phương pháp phân tích diễn ngôn ...........................................................5   5. Ý nghĩa của luận án.................................................................................5 5.1. Ý nghĩa lý luận...........................................................................................5 5.2. Ý nghĩa thực tiễn.......................................................................................6   6. Cấu trúc của luận án...............................................................................6 CHƯƠNG 1 ̉ TÔNG QUAN VÊ VÂN ĐÊ NGHIÊN C ̀ ́ ̀ ỨU...................................................8 1.1. Diễn ngôn và phân tích diễn ngôn............................................................8 1.1.1. Diễn ngôn..........................................................................................8 1.1.2. Phân tích diễn ngôn.........................................................................17 1.1.3. Phân tích diễn ngôn truyện ngắn....................................................23 1.2. Hội thoại .................................................................................................29 1.2.1. Các quan niệm về hội thoại............................................................29 1.2.2. Các vận động hội thoại...................................................................31 1.2.3. Các quy tắc hội thoại......................................................................33   1.3. Mạch lạc ..............................................................................................39
  2. 2 1.3.1.Các quan niệm về mạch lạc ...........................................................39 1.3.2.Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi ­ Đáp.........................................44 1.4. Tiền giả định ( presupposition ­ pp') và hàm ngôn (implication ­ imp). .46 1.4.1. Tiền giả định ..................................................................................46 1.4.2. Hàm ngôn.........................................................................................52   1.5. Lịch sử vấn đề nghiên cứu................................................................56 1.5.1. Khái quát về lịch sử vấn đề nghiên cứu truyện ngắn Nam Cao........56 1.5.2.   Khái   quát   về   lịch   sử   vấn   đề   nghiên   cứu   phân   tích   diễn   ngôn  (Discourse Analysis).......................................................................................59 Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về phân tích diễn ngôn rất phong   phú và đa dạng ở nhiều góc độ, phương diện khác nhau: đặc điểm và chức  năng, ngữ cảnh và ý nghĩa, cấu trúc thông tin, bản chất quy chiếu của diễn  ngôn và sự  vận dụng phân tích diễn ngôn trong việc tìm hiểu đặc điểm  ngôn ngữ của một số kiểu loại văn bản...  Tuy nhiên, cho đến nay, ở Việt   Nam, theo chúng tôi biết chỉ  có một ít công trình vận dụng lý thuyết phân  tích diễn ngôn để  tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ  truyện ngắn của một tác   giả  cụ  thể. Tuy đa co hai luân an tiên si cung lây ng ̃ ́ ̣ ́ ́ ̃ ̀ ́ ữ liêu la truyên ngăn ̣ ̀ ̣ ́  Nam Cao va cung đa vân dung c ̀ ̃ ̃ ̣ ̣ ơ  sở  li luân cua Dung hoc, Phân tich diên ́ ̣ ̉ ̣ ̣ ́ ̃  ngôn nhưng theo môt h ̣ ương đi khac v ́ ́ ơi nh ́ ưng muc tiêu nghiên c ̃ ̣ ứu cuả   chung tôi.   ́ .......................................................................................................66 ̉ TIÊU KÊT  ́ ......................................................................................................66 CHƯƠNG 2 ĐỐI THOẠI VÀ ĐỘC THOẠI NỘI TÂM  TRONG  TRUYỆN NGẮN NAM CAO.........................................................69   2.1. Đối thoại trong truyện ngắn Nam Cao............................................69 ́ ̣ ̉ ̣ ̣ ...................................................70 2.1.2. Tân suât xuât hiên cua cac cuôc thoai ̀ ́ ́ ̣ ̣ ́ ượt lơi cua nhân vât 2.1.3. Tinh huông cuôc thoai, sô l ̀ ́ ̀ ̉ ̣ ..................................72 ̣ ́ ̀ ̀ ̉ ́ ̉ ̣ .......................75 2.1.4. Quan hê quyên thê va hoan canh giao tiêp cua nhân vât ̀ 2.1.5. Cac hinh th ́ ̀ ưc đôi thoai (song thoai va đa thoai) ́ ́ ̣ ̣ ̀ ̣ ..................................78 2.1.6. Ngôn ngữ đôi thoai cua nhân vât ́ ̣ ̉ ̣ ..........................................................87   2.2. Độc thoại nội tâm trong truyện ngắn Nam Cao.............................92
  3. 3 ́ ̣ ̣ ̣ ̣ 2.2.1. Tân suât xuât hiên đôc thoai nôi tâm ̀ ́ .....................................................93 ́ ̀ ̉ ̉ ̃ ̣ ̣ ̣ 2.2.2. Vân đê chu thê diên ngôn trong đôc thoai nôi tâm................................94 2.2.3. Chưc năng ng ́ ữ nghia cua diên ngôn đôc thoai nôi tâm trong truyên ̃ ̉ ̃ ̣ ̣ ̣ ̣   ngăn Nam Cao ́ .................................................................................................99 ̣ ̣ ̣ ̣ ̣ ́ ̣ .......................................99 2.2.3.1.Đôc thoai nôi tâm bôc lô tinh cach nhân vât ́ ̣ ̣ ̣ ̣ ̣ ưng triêt li cua nha văn 2.2.3.2. Đôc thoai nôi tâm bôc lô nh ̃ ́ ́ ̉ ̀ ........................103 ̉ TIÊU KÊT  ́ ....................................................................................................106   CHƯƠNG 3 MẠCH LẠC DIỄN NGÔN HỘI THOẠI TRONG  TRUYỆN NGẮN NAM CAO.....................................................................108 3.1. Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp...........................109 3.1.1. Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi ­ Đáp tương hợp với câu hỏi  chính danh ....................................................................................................111 3.1.2. Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi ­ Đáp tương hợp với câu hỏi có  giá trị cầu khiến............................................................................................124 3.1.3. Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi ­ Đáp tương hợp với câu hỏi có  giá trị khẳng định..........................................................................................125 3.1.4. Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi ­ Đáp tương hợp với câu hỏi có  giá trị phủ định..............................................................................................127 3.1.5. Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi ­ Đáp tương hợp với câu hỏi  biểu thị sự ngờ vực, ngần ngại, phỏng đoán, …........................................128 3.1.6. Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi ­ Đáp tương hợp với câu hỏi có  giá trị cảm thán.............................................................................................129 3.2. Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp không tương hợp................130 3.2.2. Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp không tương hợp xét từ  sự tương hợp giữa các hành động nói.........................................................140 KẾT LUẬN...................................................................................................155 TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................160
  4. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài  Những trang văn của Nam Cao ra đời cách đây đã hơn nửa thế  kỷ,  song vẫn có sức cuốn hút mạnh mẽ  đối với bạn đọc và là mẫu mực để  mọi người học hỏi. Nhiều người khi đọc tác phẩm Nam Cao có cảm nhận  là giữa nhà văn và chúng ta – những con người của thế kỷ XXI – hầu như  không có khoảng cách bởi tính chất hiện đại, mới mẻ  trong cách viết của   ông. Nam Cao đã góp vào kho tàng văn học dân tộc một gia tài truyện ngắn  đồ sộ được sáng tác ở cả hai giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám.  Truyện ngắn cũng là thể loại thành công nhất của ngòi bút nhà văn. Đã có   không ít bài viết, công trình nghiên cứu đi vào khảo sát, đánh giá sự nghiệp   văn học Nam Cao, vị  trí và những đóng góp của ông trong làng văn xuôi  Việt Nam thế kỷ XX từ lâu đã được khẳng định.  Trong lịch sử  nghiên cứu ngôn ngữ  học từ đầu thế  kỷ  XX đến nay,   các kết quả nghiên cứu của nó thường gắn với một số ngành khoa học xã   hội khác, trước hết và gần gũi hơn cả là gắn với việc nghiên cứu văn học.   Quá trình nghiên cứu ngôn ngữ học tiền ngữ dụng còn gặp nhiều hạn chế  như chỉ thấy mô hình mã mà chưa thấy mô hình suy ý; hoặc chỉ thấy nghĩa   của câu là nội dung sự kiện (hay còn gọi là sự tình) của câu ấy… Mô hình  mã và mô hình suy ý không loại trừ lẫn nhau, mà chúng cùng thể hiện nội  dung sự  tình  ở  những mặt khác nhau: kết học, nghĩa học và dụng học.  Khoảng gần ba mươi năm trở lại đây, ngôn ngữ học chuyển sang lĩnh vực  mới là nghiên cứu ngôn ngữ  trong sử dụng. Bên canh nh ̣ ưng thanh t ̃ ̀ ựu cuả   ̣   hoc̣   (Pragmatics)   là  phân   nganh Dung ̀   Phân   tich ́   diên ̃   ngôn(Discourse  Analysis ) va Phân tích di ̀ ễn ngôn phê bình (Critical Discourse Analysis). Các  phân nganh nay cùng m ̀ ̀ ột lúc tác động mạnh mẽ đến văn học, nhất là trong  
  5. 2 việc phân tích ngôn ngữ  văn chương. Vận dụng thành tựu mới của ngôn  ngữ học vào việc nghiên cứu tác phẩm của Nam Cao, chúng tôi lựa chọn đi  vào khảo sát đề  tài “Diên ngôn hôi thoai trong truyên ngăn Nam Cao­Đôi ̃ ̣ ̣ ̣ ́ ́  ̣ ̣ ̣ ̀ ̣ ̣ , bởi lý thuyết về  phân tích diễn ngôn tuy ra  thoai, đôc thoai va mach lac” đời vào những năm 60 của thế  kỷ  XX, nhưng trong thực tế  hiện nay, nó  vẫn là một mảnh đất màu mỡ đang được chú ý khai thác.   ́ ̃ ̣ ̣ ̣ Khi phân tich diên ngôn hôi thoai trong truyên ngăn Nam Cao, chung ́ ́   tôi lựa choṇ   đối thoại, độc thoại nội tâm và mạch lạc diễn ngôn của các   cặp thoại kế cận, bởi vi theo chung tôi đây la nh ̀ ́ ̀ ưng vân đê quan trong, côt ̃ ́ ̀ ̣ ́  ̃ ̉ ̣ ̣ ̣ . Chúng tôi tin rằng việc vận dụng lý thuyết  loi cua môt diên ngôn hôi thoai ̃ phân tích diễn ngôn vào việc khảo sát ngôn ngữ  truyện ngắn Nam Cao sẽ  giúp phát hiện thêm những nét độc đáo góp phần làm nên cái hay, cái đẹp,  cái tinh tế của ngòi bút đầy chất sống thực tế của nhà văn. Kết quả nghiên   cứu của đề  tài còn góp thêm kinh nghiệm thực tiễn về việc phân tích diễn  ngôn các tác phẩm văn học thuộc thể tự sự. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đề  tài “Phân tích diễn ngôn hội thoại trong truyện ngắn  Nam Cao”, chúng tôi nhằm những mục đích cụ thể sau đây: ̣ ́ ựa chon  ­ Hê thông hoa, l ́ ̣ những thanh t ̀ ựu cua cac nha ngôn ng ̉ ́ ̀ ữ hoc̣   ́ ới va trong n trên thê gi ̀ ươc vê  ́ ̀ lý thuyết về hội thoại, phân tich diên ngôn đê ́ ̃ ̉  ̣ ̣ ̣ ̣ ̣ vân dung vao viêc phân tich diên ngôn hôi thoai trên c ̀ ́ ̃ ứ liêu la truyên ngăn ̣ ̀ ̣ ́  Nam Cao.  ­ Nhận diện, miêu ta câu truc cua cac hinh th ̉ ́ ́ ̉ ́ ̀ ưc hôi thoai (đôi thoai, ́ ̣ ̣ ́ ̣   ̣ ̣ ̀ hỉ  ra những đồng nhất và khác biệt giữa các kiểu loại hội   đôc thoai) va c thoại nói trên; sử dung cac kiên th ̣ ́ ́ ưc ngôn ng ́ ữ hoc đê phân loai, miêu ta va ̣ ̉ ̣ ̉ ̀ 
  6. 3 ́ ́ ̉ ̣ ̣ ̣ ́ ̣ ̣ ̉ ́ ̣   phân tich cac biêu hiên mach lac trong cac căp thoai Hoi­Đap trong truyên ngăn Nam Cao  ́ ­ Góp phần soi sáng lý thuyết về  phân tích diễn ngôn tác phẩm văn   học, đặc biệt là các tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Từ  việc tổng hợp, tiếp cận những vấn đề  lí luận về  phân tích diễn   ngôn nói chung và phân tích diễn ngôn một tác phẩm văn học thuộc thể tự  sự  nói riêng, chúng tôi khảo sát ngôn ngữ truyện ngắn Nam Cao từ góc độ  phân tích diễn ngôn để  chỉ  ra các hình thức mạch lạc, đối thoại và độc   thoại nội tâm… trong truyện ngắn Nam Cao. Từ  đó nhận ra được  nhưng ̃   ̣ ̣ ̣ ̉ ̣ dung y nghê thuât cua nha văn trong viêc xây d ́ ̀ ựng cac cuôc thoai đat đ ́ ̣ ̣ ̣ ược  ̣ ́ ̀ ̣ ̉ cac muc đich va hiêu qua giao tiêp. ́ ́ 3. Đối tượng nghiên cứu      Để nghiên cứu Phân tích diễn ngôn hội thoại trong truyện ngắn Nam  Cao,  luận án đã khảo sát 71 truyện ngắn của Nam Cao trước và sau Cách  mạng tháng Tám 1945. Tuy số  lượng không nhiều, nhưng tác phẩm Nam   Cao đã có những  đóng góp thật sự có giá trị về nội dung tư tưởng và hình  thức nghệ  thuật. Luận án tập trung khảo sát cac cuôc hôi thoai (đôi thoai, ́ ̣ ̣ ̣ ́ ̣   ̣ ̣ ̀ ́ ̣ ̣ ̉ ́ ́ ̣ ̣ ̉ đôc thoai) va tinh mach lac cua no trong cac căp thoai Hoi –Đap trên góc nhìn ́   phân tích diễn ngôn nhăm khăng đinh thêm nh ̀ ̉ ̣ ưng gia tri nghê thuât cua ngoi ̃ ́ ̣ ̣ ̣ ̉ ̀  but Nam Cao.  ́ 4. Phương pháp nghiên cứu  Sau khi đã xác định “Phân tích diễn ngôn hội thoại trong  truyện ngắn   Nam   Cao”   làm   đề   tài   luận   án,   chúng   tôi   tiến   hành   nghiên   cứu   với   các   phương pháp sau:
  7. 4 4.1. Phương pháp thống kê Luận án chủ  yếu thống kê các cặp đối thoại trực tiếp, một số cuộc   đối thoại, độc thoại nội tâm trong truyện ngắn Nam Cao. Qua đó, tìm hiểu  và xác định hình thức  thể hiện tính mạch lạc của các cặp Hỏi – Đáp, các  hình thức của cuộc đối thoại và độc thoại nội tâm, để  tìm ra  giá trị  ngữ  nghĩa của các hình thức hội thoại. 4.2. Phương pháp miêu tả Phương pháp này được vận dụng trong suốt quá trình trình bày luận  án để phân tích, miêu tả các ngữ liệu hội thoại trong truyện ngắn Nam Cao.   ́ ̣ ̣ ̉ ̉ ́ ̀ Sau khi thông kê cac căp thoai Hoi­Đap, chung tôi đa miêu ta cac hinh th ́ ́ ́ ̃ ưć   ́ ợp phân tich nôi dung, y nghia.  kêt h ́ ̣ ́ ̃ 4.3. Phương pháp phân tích hội thoại  Một số  phương pháp cụ  thể  của dụng học (viết tắt DH) thường   được dùng trong phân tích diễn ngôn (viết tắt PTDN) liên quan đến các nội  dung sau: ­ Phân tích cách diễn đạt “hành động nói” (trong hội thoại), phát hiện  câu ngôn hành, ngôn hành hàm ẩn, hành động nói trực tiếp và gián tiếp. ­ Nguyên tắc cộng tác hội thoại (có 4 phương châm: Lượng, Chất,   Quan hệ và Cách thức).  Các phương châm này liên quan đến phương pháp của phân tích hội  thoại và PTDN như  sau: Một lời nói bình thường đúng và tường minh về  nghĩa phải được thực hiện với đầy đủ  các phương châm trên. Nếu người  phân tích (hay người nghe) nhận là rằng người nói đưa ra một lời nói khó   hiểu hoặc không thể hiểu ngay được thì lời đó có thể  thuộc một trong hai  trường hợp sau đây: (a) Hoặc là người nói đã “vô tình” sử  dụng sai một  phương châm nào đó, nên đã gây nên tình trạng nan giải vừa nêu; (b) Hoặc 
  8. 5 là người nói đã “cố ý” không tuân theo một phương châm nào đó, nhằm tạo  ra một phát ngôn “bất bình thường”, như tạo ra một ý hàm ẩn (hàm ý) nào  đó, trong trường hợp này người phân tích phải có kiến thức liên quan các  kiểu ý nghĩa như  tiền giả  định (viết tắt TGĐ), hàm ý hội thoại, lập luận,   tính lịch sự, thì có thể giải mã được các ẩn ý.  4.4.  Phương pháp phân tích diễn ngôn  Phương pháp chung thường được sử  dụng của PTDN là phân tích  ngữ  liệu trong mối quan hệ chặt chẽ với ngữ cảnh tình huống (contextual  situation) và phân tích nghĩa của lời nói (gồm cả  chức năng của lời nói là  hành động nói của DH).  Ngoài các loại phương pháp có tính chất chuyên môn trên, luận án   cũng sử  dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chung thông dụng.  ̉ ̣ ́ ̃ ́ so sanh v Trong qua trinh miêu ta, luân an đa co ́ ̀ ́ ơi tac gia khac, so sanh gi ́ ́ ̉ ́ ́ ưã   cac hinh th ́ ̀ ức xây dựng cuôc thoai v ̣ ̣ ới nhau.  5. Ý nghĩa của luận án 5.1. Ý nghĩa lý luận Vận dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn vào việc nghiên cứu truyêṇ   ̉ ̀ ̣ ương đi hoan toan m ngăn Nam Cao không phai la môt h ́ ́ ̀ ̀ ơi, nh ́ ưng triên khai ̉   ̣ ̉ theo muc tiêu cua chung tôi  ́ cho đến nay vẫn là một hướng tiếp cận mới.  Tập hợp những quan điểm đã có, kê th ́ ưa va chon loc cac c ̀ ̀ ̣ ̣ ́ ơ  sở   lý  luận về  diễn ngôn hội thoại, chung tôi đa l ́ ̃ ựa chon cho minh môt ̣ ̀ ̣    cach ́   thưc, h ́ ương đi va cac b ́ ̀ ́ ươc cu thê nhăm phân tich môt c ́ ̣ ̉ ̀ ́ ̣ ứ liêu cu thê kha ̣ ̣ ̉ ́  phưc tap –đo la tac phâm văn hoc. Qua đo, đê tai la nh ́ ̣ ́ ̀ ́ ̉ ̣ ́ ̀ ̀ ̀ ững gợi y cho cac ́ ́  hương nghiên c ́ ưu tiêp theo khi tiêp cân truyên ngăn cua cac tac gia cu thê ́ ́ ́ ̣ ̣ ́ ̉ ́ ́ ̉ ̣ ̉  ̀ ̣ khac noi chung va truyên ngăn Nam Cao noi riêng.  ́ ́ ́ ́
  9. 6 5.2. Ý nghĩa thực tiễn ­Với cách nhìn phân tích diễn ngôn, luận án hy vọng sẽ tìm ra những   dấu hiệu hình thức diễn ngôn hội thoại (đôi thoai, đôc thoai) va nh ́ ̣ ̣ ̣ ̀ ưng biêu ̃ ̉   ̣ mạch lạc diễn ngôn hội thoại trong truyên ngăn Nam Cao hiên  ̣ ́ . ­ Kết quả  của luận án có thể  góp thêm cứ  liệu, cho thấy hiệu quả  của việc nghiên cứu các diễn ngôn hội thoại được ap dung môt cach cu thê ́ ̣ ̣ ́ ̣ ̉,  góp phần làm rõ về  lý thuyết này cũng như  những vấn đề  hữu quan trong   việc giảng dạy tac phâm văn hoc ́ ̉ ̣  ở trường phổ thông.  6. Cấu trúc của luận án Ngoài phần Mở đầu,  Kết luận; Phu luc ̣ ̣  và Tài liệu tham khảo, luận  án gồm ba chương: Chương một (47 trang) trình bày một cách tổng quan những vấn đề  về diễn ngôn và phân tích diễn ngôn; những vấn đề  về mạch lạc như: các   quan niệm mạch lạc, mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp; những vấn  đề về hội thoại như: các quan niệm hội thoại, vận động hội thoại, quy tắc   hội thoại, tiền giả định và hàm ngôn. Chương 1 cua luân an  ̉ ̣ ́ đa trinh bay lich ̃ ̀ ̀ ̣   sử  vân đê nghiên c ́ ̀ ưu, qua đo chung tôi hê thông hoa, đanh gia nh ́ ́ ́ ̣ ́ ́ ́ ́ ững công  ̉ trinh tiêu biêu nghiên c ̀ ưu vê Nam Cao va vê phân tich diên ngôn. ́ ̀ ̀ ̀ ́ ̃ Chương hai (39 trang) trình bày cụ thể vấn đề đối thoại và độc thoại   nội tâm trong truyện ngắn Nam Cao qua những cuộc thoại. Về vấn đề đối  thoại, chúng tôi trình bày diễn ngôn hội thoại của người kể  chuyện, của  các vai trong truyện. Chúng tôi xét chúng qua các mối quan hệ: quan hệ  quyền thế, vị thế giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp… trong cuộc thoại (song   thoại, tam thoại và đa thoại) của một số truyện ngắn cụ thể. Vấn đề  độc   thoại nội tâm cũng là vấn đề  được quan tâm  ở  đây. Độc thoại nội tâm   được biểu hiện cụ  thể  qua những lời tự  nh ủ,  nói thầm hoặc qua những 
  10. 7 dòng suy nghĩ của nhân vật, qua lời kể  của tác giả, bằng những lời kể  chính giọng điệu của nhân vật, diễn ngôn trần thuật của người kể chuyện  và diễn ngôn nhân vật… để trần thuật, để triết lý… Chương ba (54 trang) trình bày cac  ́  vấn đề mạch lạc diễn ngôn của  các cặp thoại Hỏi – Đáp (tương hợp và không tương hợp).  Đối với mạch  lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp, chúng tôi trình bày sáu loại  cơ bản. Luân an đa phân tich nh ̣ ́ ̃ ́ ưng vi du cu thê cho t ̃ ́ ̣ ̣ ̉ ưng loai căp thoai đo, ̀ ̣ ̣ ̣ ́  đông th ̀ ơi chi ra s ̀ ̉ ự phong phu, đa dang va biên hoa cua nha văn khi xây d ́ ̣ ̀ ́ ́ ̉ ̀ ựng  ̣ ̣ ̉   mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi ­ Đáp không  cac cuôc thoai. Tim hiêu ́ ̀ tương hợp, chúng tôi trình bày hai loại cơ bản sau đây: mạch lạc trong các   cặp thoại Hỏi ­ Đáp không tương hợp xét từ nguyên tắc cộng tác hội thoại   và mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi ­ Đáp không tương hợp xét từ  sự  tương hợp giữa các hoạt động nói.
  11. 8 CHƯƠNG 1 TÔNG QUAN VÊ VÂN ĐÊ NGHIÊN C ̉ ̀ ́ ̀ ƯU ́ 1.1. Diễn ngôn và phân tích diễn ngôn 1.1.1. Diễn ngôn 1.1.1.1. Khái niệm diễn ngôn Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về diễn ngôn, nhưng chưa thật sự  có một định nghĩa hoàn chỉnh nhất.  Người đầu tiên đề  xướng ra khái niệm này là Z. Harris trong công  trình “Discourse Analysis” – Phân tích diễn ngôn (1952). Diễn ngôn được  hiểu với tư cách là một văn bản liên kết ở bậc cao hơn câu. Công trình này  đã góp phần quan trọng cho ngành ngôn ngữ  học văn bản còn non trẻ  vào   việc nghiên cứu lĩnh vực chức năng của ngôn ngữ. Thuật ngữ  diễn ngôn  với tư  cách “sản phẩm” trong việc sử  dụng  ngôn ngữ  được hiểu rất rộng bao gồm tất cả các dạng tồn tại của nó, có  thể  là chữ  viết dưới mọi hình thức, có thể  âm thanh tự  nhiên khi nói hay   mọi hình thức ghi âm lời nói... Trong cách nhìn khái quát, cách tiếp cận diễn ngôn “được quy thành  hai dạng: dạng coi trọng hình thức và dạng coi trọng ngữ cảnh. PTDN dưới  dạng hình thức nhất của nó gắn liền với truyền thống logic/triết học của J.   Searle và J. L. Austin, dạng ngữ cảnh hoá cao nhất của PTDN nối kết với   lý luận văn học hiện đại” [5,73].  M. Foucault nêu: “Thay vì giảm dần các nét nghĩa đã khá mơ hồ của   từ  diễn ngôn, tôi tin rằng thực tế tôi đã bổ  sung thêm ý nghĩa của nó: lúc   thì coi nó như  một khu vực chung của tất cả các nhận định, lúc thì coi nó   như  một nhóm các nhận định được cá thể  hoá, và đôi khi lại xem nó như   một hoạt động được quy chuẩn (regulated practice) nhằm tạo nên một tập  
  12. 9 hợp các nhận định” [93,45­46]. Theo Trần Văn Toàn, trong trích dẫn trên,  Foucault cùng lúc đưa ra ba định nghĩa về  diễn ngôn. Định nghĩa thứ  nhất,   diễn ngôn bao gồm “tất cả  các nhận định” nói chung; định nghĩa thứ  hai,  diễn ngôn như  là “một nhóm các nhận định được cá thể  hoá”; định nghĩa  thứ ba, diễn ngôn “như một hoạt động được quy chuẩn (regulated practice)   nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định”.  Mặc dù ba định nghĩa của  Foucault được liệt kê khá độc lập nhưng trong thực tế nghiên cứu các định  nghĩa này luôn được sử dụng xen kẽ nhau và định nghĩa này có thể bao trùm  lên định nghĩa khác tuỳ theo hướng triển khai của người nghiên cứu. Barthes trong La linguistique du discours (1970) coi diễn ngôn như là  một đối tượng của ngôn ngữ học văn bản mà ông đề nghị gọi là “ngôn ngữ  học diễn ngôn”. Ông viết: “…Diễn ngôn – tương tự văn bản do ngôn ngữ   học nghiên cứu, và chúng tôi sẽ  định nghĩa nó (hãy còn là sơ  bộ) như  là   một đoạn lời nói hữu tận bất kì, tạo thành một thể thống nhất xét từ  quan   điểm nội dung, được truyền đạt cùng với những mục đích giao tiếp thứ   cấp, và có một tổ  chức nội tại phù hợp với những mục đích này, vả  lại   (đoạn lời này) gắn bó với những nhân tố  văn hoá khác nữa, ngoài những   nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ”. [12,199] Còn Bellert thì cho rằng “Diễn ngôn là chuỗi liên tục những phát   ngôn S1 ..., Sn, trong đó việc lý giải nghĩa của mỗi phát ngôn S 1 (với 2 ≤ i ≤   n) lệ thuộc vào sự lý giải những phát ngôn trong chuỗi S1 …Si­1”. [12,199] Đối với Guy Cook, ông nêu: “Diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ   được nhận biết là trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích”. [12,200] Brown và Yule khi xử  lí diễn ngôn như  là “sản phẩm” hay “tiến   trình” thì lại khẳng định: “Diễn ngôn như một tiến trình”. [17,48] Trong   bài   viết  Nguồn   gốc,   vấn   đề   và   phạm   trù   của   dụng   học, 
  13. 10 Aрутюнова và Падучева viết: “…Diễn ngôn phản ánh chủ  quan của con   người và do vậy, khác với những suy luận lý thuyết, diễn ngôn không thể   xa lạ với người nói. (…) Lý thuyết về diễn ngôn như hình thức của văn bản   đã được dụng học hoá được bắt đầu từ quan niệm của E. Benveniste phân   định diện tường thuật (récit) và diện diễn ngôn (discours) ngôn ngữ “được   người nói sở hữu”. Diễn ngôn, cần được hiểu ở đây nghĩa rộng nhất, như   một phát ngôn bất kỳ  giả  định có người nói và người nghe và ý định từ   người nói tác động theo cách nhất định đến người nghe”. [3,76] Lý thuyết hiện đại về  diễn ngôn (2006) của Ekaterenburg cũng đã  dẫn ra một số định nghĩa về diễn ngôn của Teun A Van Dijk, P. Riceau, M.  Foucault, Jakob Torfing,  R. Barthes, Louis Maren… Ngoài ra có thể kể đến Crystal, Paul Gee, Nunan, Lyons… cũng có đề  cập khái niệm diễn ngôn trong tác phẩm của mình. Ở Viêt Nam, ̣  vơi công trinh  ́ ̀ Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn   bản, Diêp Quang Ban la môt trong nh ̣ ̀ ̣ ưng tac gia tiêu biêu quan tâm va ̃ ́ ̉ ̉ ̀  nghiên cưu diên ngôn. ́ ̃  Trong tác phẩm này, ông đồng tình với định nghĩa  của Cook: “Diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ  được nhận biết là trọn   nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích” [12,200]. Có thể  hình dung mối  quan hệ giữa diễn ngôn và văn bản như sau:                          Diễn ngôn Văn bản (bề mặt từ ngữ)        (nghĩa lôgic, chức năng) Sơ đồ 1: Mối quan hệ giữa diễn ngôn và văn bản Qua sơ đồ 1, ta thấy văn bản là bề mặt ngôn từ, diễn ngôn thuộc về 
  14. 11 nghĩa lôgic và chức năng. Có thể  noí  Diệp   Quang   Ban  đã góp   thêm   vào   bức   tranh   chung   về  nghiên cứu diễn ngôn của các nhà Việt ngữ học khi ông đê câp đên linh v ̀ ̣ ́ ̃ ực  phân tich diên ngôn văn ch ́ ̃ ương. Còn tác giả Nguyễn Thiện Giáp, sau khi điểm qua một số quan điểm  khác nhau về  khái niệm văn bản và diễn ngôn, ông nêu: “Thuật ngữ  diễn   ngôn và văn bản thường được coi là đồng nghĩa với nhau để  chỉ  các sản   phẩm của ngôn ngữ, viết hay nói, dài hay ngắn, tạo nên một tổng thể hợp   nhất, trong đó diễn ngôn thường được hiểu là bao hàm văn bản, còn văn   bản thiên về sản phẩm viết nhiều hơn”. [44,169] Trong công trình nghiên cứu của mình,  Nguyên Hoa ̃ ̀   nhấn mạnh sự  phân biệt hai khái niệm “diễn ngôn” và “văn bản”. Theo ông, “  Văn bản   như  là sản phẩm ngôn ngữ  ghi nhận lại quá trình giao tiếp hay sự  kiện   giao tiếp nói và viết trong một hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ  thể”. Trong  khi đó “Diễn ngôn như  là sự  kiện hay là quá trình giao tiếp hoàn chỉnh   thống nhất có mục đích không giới hạn được sự dụng trong các hoàn cảnh   giao tiếp xã hội cụ  thể” [54,28]. Mặc dù đã đưa ra sự  phân biệt hai khái  niệm như trên, song tác giả cũng thừa nhận rằng trên thực tế sự phân biệt  này chỉ  mang tính tương đối vì theo cách hiểu đó, trong văn bản sẽ  xuất   hiện một vài đặc trưng của diễn ngôn và ngược lại trong diễn ngôn cũng  nhiều khi tồn tại các thuộc tính văn bản.  Tác giả Đỗ  Hữu Châu cho rằng: “Diễn ngôn là đơn vị  lớn hơn câu,   đúng hơn là lớn hơn một phát ngôn, nó có thể là một phát ngôn mà cũng có   thể do vô số phát ngôn hợp lại.”; “Nó phải có tính mạch lạc…” [26,19]. Tác  giả cũng cho rằng, diễn ngôn có cả hình thức và nội dung nhưng cả hai đều  chịu tác dụng của ngữ cảnh. 
  15. 12 ̣ ́ ̀ ̀ ̀ ơi quan điêm vê khai niêm diên ngôn đ Luân an nay đông tinh v ́ ̉ ̀ ́ ̣ ̃ ược thể   ̣ ở  sơ  đô 1  hiên  ̀ ở trên. Do vậy, phân tích diễn ngôn là phân tích cả  các yếu  tố  hình thức của diễn ngôn, bao gồm các yếu tố  ngôn ngữ, các đơn vị  từ  vựng, các quy tắc kết học, các hành vi ngôn ngữ  tạo nên diễn ngôn. Các  yếu tố  kèm lời và phi lời,  theo chung tôi ́ , cũng được xem là các yếu tố  thuộc hình thức của phát ngôn. Về  nội dung,  chung tôi nhât tri v ́ ́ ́ ơi quan ́   ̉ ̀  diễn ngôn bao gồm nội dung thông tin và nội dung miêu tả.  điêm cho răng Hai thành tố nội dung này có thể hiện diện tường minh qua các yếu tố ngôn  ngữ hình thức của diễn ngôn, hoặc tồn tại khiếm diện trong đích giao tiếp   của đối tượng.  1.1.1.2. Đặc điểm về diễn ngôn ­ Diễn ngôn là đơn vị  lớn hơn câu/phat ngôn.N ́ ó có thể  là một phát  ngôn mà cũng có thể do vô số phát ngôn hợp lại. ­ Nó phải có tính mạch lạc, nghĩa là có một đề  tài, có chủ đề chung,  giữa các phát ngôn trong một diễn ngôn phải có quan hệ  hình thức và nội  dung. Trong một cuộc giao tiếp có bao nhiêu đề tài, bao nhiêu chủ đề thì có  bấy nhiêu diễn ngôn. ­ Môĩ  loại hình diễn ngôn có cấu trúc mô hình riêng. Mô hình đó   được quy định bởi hành động giao tiếp chủ đạo như hành động tự sự, thỉnh   cầu, lập luận … 1.1.1.3. Phân loại diễn ngôn  Dựa vào cấp độ  của diễn ngôn có thể  chia diễn ngôn thành: diễn   ngôn và siêu diễn ngôn. Khổng Tử  sáng lập ra siêu diễn ngôn Nho giáo,  Thích ca Mâu ni (Siddharta Gautama) sáng lập ra siêu diễn ngôn Phật giáo,  Freud sáng lập siêu diễn ngôn Phân tâm học, Ann Radcliffe sáng tạo ra diễn  ngôn tiểu thuyết kinh dị, Bakhtin tạo ra diễn ngôn đa thanh phức điệu. Chủ 
  16. 13 thể  của các siêu ngôn không chỉ  khai phá ra một loại diễn ngôn mới, một  ngôn ngữ mới mà còn mở ra một con đường mới, mở ra các bước đi tạo ra   các diễn ngôn khác. Các siêu diễn ngôn luôn tạo ra sau nó vô số  các diễn   ngôn đồng dạng, đồng chất với nó. Dựa vào tính chất phát triển của diễn ngôn có thể  chia diễn ngôn  thành: diễn ngôn liên tục và diễn ngôn ngắt quãng.  + Diễn ngôn liên tục  Ví dụ (1): Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh.  Hỡi đồng bào cả nước, “ Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền   không ai có thể  xâm phạm được; trong những quyền  ấy, có quyền được sống,   quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng   ra, câu  ấy có ý nghĩa là: tất cả  các dân tộc trên thế  giới đều sinh ra bình đẳng,   dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng   nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự   do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được. Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác   ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với   nhân đạo và chính nghĩa. Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung,   Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta   đoàn kết. Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những   người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong  
  17. 14 những bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược. Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu   thốn, nước ta xơ  xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên   liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng. Chúng đặt ra hàng trăm thứ  thuế  vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân   buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một   cách vô cùng tàn nhẫn. Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để  mở thêm căn cứ   đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước   Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực   khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến   Bắc kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói. Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân   Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo   hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật. Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để   chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp  ứng lại thẳng tay khủng bố  Việt   Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông   tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng. Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ  một thái độ  khoan hồng và   nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người   Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và   bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ. Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không   phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta   đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ  các xiềng xích  
  18. 15 thực dân gần 100 năm nay để  gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại   đánh đổ  chế  độ  quân chủ  mấy mươi thế  kỷ  mà lập nên chế  độ  Dân chủ  Cộng   hòa. Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu   cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những   hiệp  ước mà Pháp đã ký về  nước Việt Nam, xóa bỏ  tất cả  mọi đặc quyền của   Pháp trên đất nước Việt Nam. Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn   thực dân Pháp. Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc   bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công   nhận quyền độc lập của dân Việt Nam. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc   đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải   được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập! Vì những lẽ  trên, chúng tôi, chính phủ  lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ   Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự  thật đã thành một nước   tự  do độc lập. Toàn thể  dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả  tinh thần và lực   lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy. + Diễn ngôn ngắt quãng  Ví dụ (2):  Đoạn thoại giữa Kim Trọng và Thuý Kiều: ­ "Sinh rằng gió mát trăng trong Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam Chầy sương chưa nện cầu Lam Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng ? ­ Nàng rằng: Hồng diệp xích thằng Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri Đừng điều nguyệt nọ hoa kia Ngoài ra ai có tiếc gì với ai ­ Rằng nghe nổi tiếng Chương Đài
  19. 16 Nước non luống những lắng tai Chung Kì ­ Thưa rằng: Tiện kĩ xá chi Đã lòng dạy đến dạy thì phải vâng"). (Truyện Kiều – Nguyễn Du) Đoạn thoại trên có hai diễn ngôn: một diễn ngôn thỉnh cầu Kiều  đánh đàn của chàng Kim; một diễn ngôn chấp thuận lời thỉnh cầu đó của  nàng Kiều. Cả  hai diễn ngôn này đều là diễn ngôn cách quãng gồm một  phần mở  và phần trung tâm. Phần mở  của diễn ngôn Kim Trọng là lời  ướm, phần trung tâm là hành động và nội dung thỉnh cầu. Phần mở  của   diễn ngôn Thuý Kiều là lời rào đón và phần trung tâm là lời chấp nhận. Cả  hai diễn ngôn của hai người tạo thành một sự  kiện lời nói. Bên canh đo, ̣ ́  dựa vao môt sô tiêu chi khac, chung ta cung co thê phân chia diên ngôn theo ̀ ̣ ́ ́ ́ ́ ̃ ́ ̉ ̃   ̣ ́ ́ môt sô cach khac nhau.  ́
  20. 17 1.1.2. Phân tích diễn ngôn 1.1.2.1. Một số cách tiếp cận trong phân tích diễn ngôn  ́ ̣ Khai niêm “ Diễn ngôn” ra đời vào những năm 60 của thế kỷ XX. Từ  đó đến nay, lý luận về  diễn ngôn đã tiến một bước dài.   Ở  nươc ngoai, ́ ̀  quan tâm đến lĩnh vực phân tích diễn ngôn tự  sự  có thể  kể  đến Roland  Barthes với Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể, Todorov với Ngữ pháp   truyện   kể,  David   Rumelhart   với  Ghi   chú   lược   đồ   về   các   câu   chuyện,  Gérard Genette với Diễn ngôn tự sự, David Nunan với Dẫn nhập phân tích   diễn ngôn, Gillian Brown và George Yule với Phân tích diễn ngôn...  Ở Việt  Nam, một số  các công trình nghiên cứu đề  cập đến việc phân tích diễn   ngôn tự sự như: Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản (Diệp Quang  Ban),  Phân   tích   diễn   ngôn:   Một   số   vấn   đề   lý   luận   và   phương   pháp   (Nguyễn Hoà), Biểu hiện của quan hệ quyền thế trong các diễn ngôn hội   thoại (Phạm Thị  Thu Trang), Mạch lạc diễn ngôn hội thoại trong một số   tác phẩm văn học hiện đại (Trần Thị Thu Hương)… Với những hướng tiếp cận và  ứng dụng khác nhau: dựa trên chủ  nghĩa cấu trúc và kí hiệu học, ngữ pháp chuyển hoá tạo sinh, đường hướng  dụng học, đường hướng giao tiếp liên văn hoá,… các công trình nghiên cứu  nói trên đã góp phần soi sáng một số vấn đề lý thuyết và thực hành về phân  tích diễn ngôn tự  sự. Tuy nhiên, phân tích diễn ngôn văn học là việc khó,   cho đến nay  hầu như  chưa có một   nhà ngôn ngữ  học nào đưa ra một   đường hướng phân tích diễn ngôn tác phẩm tự  sự  một cách hoàn chỉnh,   khoa học, thao tác hoá được cách nghiên cứu diễn ngôn tác phẩm truyện  của mọi thời, mọi ngôn ngữ. Căn nguyên của điều này đã được Schiffrin  chỉ rõ: phân tích diễn ngôn là một lĩnh vực đa ngành, do vậy tuy được nhiều  người quan tâm nó vẫn là một địa hạt “  rộng mênh mông và ít nhiều còn  
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2