Luận văn Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của công ty cổ phẩn NAJIMEX

Chia sẻ: Thuytienvang_1 Thuytienvang_1 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:50

0
67
lượt xem
13
download

Luận văn Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của công ty cổ phẩn NAJIMEX

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Toàn bộ nền kinh tế Việt Nam sẽ có những thay đổi quan trọng. Đối với nhiều doanh nghiệp, sẽ có nhiều cơ hội mở rộng thị trường kinh doanh, tăng sản lượng tiêu thụ, tăng quy mô sản xuất tạo được thế mạnh cho doanh nghiệp mình. Tuy nhiên, cạnh tranh sẽ khốc liệt hơn bởi số lượng tham gia kinh doanh cùng lĩnh vực và các ngành nghề khác có liên quan sẽ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của công ty cổ phẩn NAJIMEX

  1. Luận văn Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của công ty cổ phẩn NAJIMEX 1
  2. LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Toàn bộ nền kinh tế Việt Nam sẽ có những thay đổi quan trọng. Đối với nhiều doanh nghiệp, sẽ có nhiều c ơ hội mở rộng thị trường kinh doanh, tăng sản lượng tiêu thụ, tăng quy mô sản xuất tạo được thế mạnh cho doanh nghiệp mình. Tuy nhiên, cạnh tranh sẽ khốc liệt hơn bởi số lượng tham gia kinh doanh cùng lĩnh vực và các ngành nghề khác có liên quan sẽ nhiều hơn. Môi trường kinh doanh ngày càng trở nên sôi động và khó dự báo hơn. Công ty cổ phần NAJIMEX cũng không nằm ngoài xu thế đó. Mới thành lập từ tháng 1 năm 2004. Ngành nghề kinh doanh chính là kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu, nguyên liệu sản xuất, hàng tiêu dùng và dịch vụ nhà hàng khách sạn. Sau 3 năm hoạt động kinh doanh toàn bộ cán bộ và nhân viên trong công ty đã không ngừng nỗ lực phát triển hoạt động kinh doanh của công ty, và thương hiệu sản phẩm thủ công mỹ nghệ của công ty NAJIMEX đ ã có vị trí đối với người tiêu dùng trong nước và nước ngoài. Tuy vậy công ty vẫn sẽ có nhiều khó khăn và thách thức trong môi trường kinh doanh mới, do hội nhập nền kinh tế quốc tế, mức độ cạnh tranh sẽ cao hơn. Do đó em chọn đề tài làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp là: “Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu h àng thủ công mỹ nghệ của công ty cổ phẩn NAJIMEX” 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu: Đề ra các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của của công ty cổ phần NAJIMEX và đưa ra được một số gợi ý có ích cho công tác hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của công ty trong tương lai. Nhiệm vụ nghiên cứu: Bài viết tập trung nghiên cứu các vấn đề sau: - Hệ thống hoá lý luận chung về xuất khẩu h àng hoá và nêu ra s ự cần thiết phải thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam. 2
  3. - Phân tích thực trạng hoạt động thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của công ty trong những năm qua, từ đó đánh giá ưu nhược điểm trong việc thúc đẩy xuất khẩu hang thủ công mỹ nghệ của công ty. - Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của công ty cổ phần NAJIMEX trong thời gian tới. 3. Phạm vi nghiên cứu Hoạt động kinh doanh xuất khẩu của công ty có nhiều nhóm hàng, nhưng bài viết chỉ nghiên cứu hoạt động thúc đẩy xuất khẩu nhóm hàng thủ công mỹ nghệ của công ty từ khi mới thành lập cho đến nay. 4. Bố cục bài viết Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, bài thực tập chuyên ngành được chia làm 3 chương: Chương I: Cơ sở lý luận chung về xuất khẩu hàng hoá và sự cần thiết phải thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam Chương II: Thực trạng thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của công ty giai đoạn 2004 – 2006 Chương III: Phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của công ty giai đoạn 2007 -2010 Do còn nhiều hạn chế về kiến thức hiểu biết v à thời gian thực hiện nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong đ ược sự đóng góp ý kiến và phê bình của cô giáo và các anh chị trong công ty NAJIMEX Em xin chân thành cám ơn ! 3
  4. Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA VIỆT NAM I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU 1. Khái niệm, vai trò và các hình thức xuất khẩu hàng hoá 1.1. Khái niệm xuất khẩu Xuất khẩu là hoạt động bán hàng hoá hoạc dịch vụ của một quốc gia này sang quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm chức năng thanh toán. Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là hoạt động mua bán trao đổi h àng hoá (bao gồm cả hàng hoá hữu hình và vô hình) trong nước. Khi sản xuất phát triển và trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi, hoạt động n ày này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của quốc gia hoạc của thị trường nội địa. Như vậy, ta thấy xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế. Nó không chỉ là những hành vi buôn bán riêng lẻ, mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong thương mại có tổ chức. Các quốc gia khi tham gia hoạt động buôn bán, giao dịch quốc tế đều phải tuân theo các thông lệ quốc tế đ ã quy định. 1.2. Vai trò của xuất khẩu Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu đ ược coi là vấn đề có ý nghĩa quan trọng chiến lược để phát triển kinh tế và tiến hành quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Vai trò của xuất khẩu thể hiện ở các mặt: 1.2.1. Xuất khẩu tạo ra nguồn vốn quan trọng để thoả mãn nhu cầu nhập khẩu và tích luỹ phát triển sản xuất Nhập khẩu cũng như vốn đầu tư của một đất nước thường dựa vào 3 nguồn tiền chủ yếu: Viện trợ, đi vay và xuất khẩu. Trong đó xuất khẩu là nguồn vốn quan trọng nhất để thoả m ãn nhu cầu nhập khẩu những tư liệu sản xuất thiết yếu phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá đất n ước. Trong thực 4
  5. tiến xuất khẩu và nhập khẩu có quan hệ mật thiết với nhau, vừa là kết quả, vừa là tiền đề của nhau, đẩy mạnh xuất khẩu là để tăng cường nhập khẩu và có vốn để tích luỹ đầu tư, tăng nhập khẩu để mở rộng và tăng khả năng xuất khẩu. Cho nên trong kinh doanh ph ải luôn kết hợp giữa xuất khẩu và nhập khẩu, kết hợp trong sản xuất, kết hợp trong mua bán, kết hợp trên thị trường, kết hợp giứa các mặt hàng xuất khẩu và nhập khẩu. 1.2.2. Đẩy mạnh xuất khẩu đ ược xem là yếu tố quan trọng kích thích sự tăng trưởng kinh tế Việc đẩy mạnh xuất khẩu cho phép mở rộng quy mô sản xuất, nhiều ngành nghề mới ra đời phục vụ cho xuất khẩu, phản ứng dây chuyền giúp các ngành kinh tế khác phát triển theo, kết quả tăng tổng sản phẩm xã hội và nền kinh tế phát triển mạnh, có hiệu quả. Sự tác động của xuất khẩu tới sản xuất thể hiện ở nhiều khía cạnh như: xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển, chẳng hạn như việc phát triển ngành dệt may xuất khẩu sẽ tạo cơ hội cho việc hình thành và phát triển các ngành sản xuất nguyên liệu: bông, sợi tổng hợp, thuốc nhuộm…Xuất khẩu còn tạo điều kiện mở rộng khả năng cung ứng các yếu tố đầu vào cho sản xuất qua hoạt động nhập khẩu, từ đó nâng cao năng lực sản xuất của các quốc gia. Dó đó xuất khẩu là yếu tố quan trọng để kích thích sự tăng trưởng kinh tế. 1.2.3. Xuất khẩu kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường thế giới về quy cách chất lượng sản phẩm thì một mặt phải đổi mới trang thiết bị công nghệ trong quá trính sản xuất, mặt khác người lao động phải nâng cao tay nghề, học hỏi những kinh nghiệm sản xuất tiên tiến. Ngoài ra, còn phải kể đến sự cạnh tranh trên thị trường thế giới có tác động tích cực đến sản xuất. Để tồn tại và có thị phần trên thương trường, các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Để nâng cao khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp phải chú trọng đến việc tăng năng suất lao động, sử dụng hợp lí các yếu tố đầu vào, cải tiến mẫu mã và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ. Qua 5
  6. đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu vươn lên hợp lí hóa và phát triển doanh nghiệp lên tầm cao mới, phù hợp với sự phát triển của thời đại. 1.2.4. Đẩy mạnh xuất khẩu có tác động thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sử dụng hiệu quả nhất lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối của đất nước Xuất khẩu theo như cách nhìn nhận cổ điển, nó chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu trong nước, trong trường hợp nền kinh tế còn chậm phát triển và lạc hậu như nước ta, sản xuất về cơ bản vẫn chưa đủ cho tiêu dùng. Nếu như chờ ở sự thừa ra của sản xuất, tất yếu xuất khẩu sẽ vẫn chỉ nhỏ bé với tăng trưởng không đáng kể. Vì vậy, để đẩy mạnh xuất khẩu đòi hỏi phải có sự thay đổi cơ cấu kinh tế. Xuất khẩu chính là nhân tố đóng góp vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hay nói cách khác xuất khẩu là động lực của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Xuất khẩu là việc xác định thị trường quốc tế từ đó làm định hướng quan trọng để tổ chức sản xuất. Chuyên môn hoá ngành nghề, lĩnh vực quan trọng của một quốc gia Nó có tác động tích cực đến sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế, thúc đấy sản xuất phát triển. 1.2.5. Đẩy mạnh xuất khẩu làm cho sản phẩm sản xuất của quốc gia sẽ tăng thông qua mở rộng thị trường ra quốc tế, cho phép các quốc gia đang phát triển thực hiện quy mô lợi thế kinh tế m à có thể bị giới hạn trong thị trường nội địa Đối với doanh nghiệp, xuất khẩu tạo ra khả năng tiêu thụ sản phẩm bằng việc khai thác tốt không những thị trường trong nước mà cả thị trường quốc tế. Với thị trường trong nước, đôi khi nhu cấu tiêu thụ còn nhỏ chưa tạo ra động lực cho doanh nghiệp trong việc tăng quy mô, tăng năng lực sản xuất. Với hoạt động xuất khẩu nó mở ra cho doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa cao nhờ có thị trường rộng lớn với sức mua cao. Điều này đồng nghĩa với tổng sản phẩm sản xuất của quốc gia tăng thông qua mở rộng với thị trường quốc tế. 6
  7. Một nền công nghệp mà không có sự cạnh tranh với bên ngoài thường không tạo động lực cho sự cải tiến. Mở cửa kinh tế, phát triển hướng về xuất khẩu có thể nuôi dưỡng sự tăng trưởng của xí nghiệp công nghiệp non trẻ, có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới bằng việc mở rộng thị trường và đưa ra những sản phẩm và quy trình sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường và nhu cầu về các loại sản phẩm khác nhau ở các quốc gia. Điều này cho phép các quốc gia đang phát triển thực hiện quy mô lợi thế kinh tế m à cho thể bị giới hạn trong thị trường nội địa. 1.2.6. Đẩy mạnh xuất khẩu có tác dụng tích cực và hiệu quả đến nâng cao mức sống của nhân dân Trước hết là để sản xuất hàng xuất khẩu và các dịch vụ liên quan. Nó tạo ra công ăn việc làm thu hút hàng triệu lao động, mang lại thu nhập không thấp, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp trong cả n ước. Ngoài ra một phần kim ngạch xuất khẩu dùng để nhập khẩu những hàng tiêu dùng thiết yếu góp phần cải tiến mức sống của người dân. Hàng năm, hoạt động xuất khẩu đóng góp vào tổng thu nhập quốc dân – GDP một lượng không nhỏ, là nhân tố tạo đà cho công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. 1.2.7. Đẩy mạnh xuất khẩu làm tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa các nước, nâng cao vị trí và vai trò của nước ta trên trường quốc tế Với sự hợp tác song phương và đa phương với các quốc gia đã tạo ra cơ hội lớn cho đất nước phát triển kinh tế bằng các hình thức hợp tác liên kết xuất khẩu giữa các nước. Một minh chứng rõ nét là nhờ khả năng xuất khẩu dầu thô và gạo của chúng ta lớn mà nhiều nước muốn thiết lập các mối quan hệ buôn bán và đầu tư với Việt Nam, đồng thời thiết lập được các mối quan hệ với các nước về các lĩnh vực khác như: quốc phòng, anh ninh, giao dục… Tóm lại: Xuất khẩu có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế của đất nước bằng việc thông qua mở rộng thị trường, tạo tiền đề cho các doanh nghiệp tăng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động, từ đó tạo ra mức sống cao hơn 7
  8. của ngươi dân. Xuất khẩu tạo ra cơ hội cho các ngành, các doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường quốc tế. 1.3. Các hình thức xuất khẩu hàng hoá chủ yếu 1.3.1. Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là hình thức mà một doanh nghiệp bán trực tiếp sản phầm của mình cho khách hàng ở thị trường mục tiêu. Tức họ trực tiếp tiến hành các giao dịch với khách hàng ở nước ngoài thông qua các tổ chức của mình. Hình thức này được áp dụng khi nhà sản xuất đã đủ mạnh để tiến tới tiến trình thành lập tổ chức bán hàng riêng của mình và kiểm soát được toàn bộ quá trình xuất khẩu thông qua đại diện bán hàng và nhà phân phối. Hình thức này có ưu điểm là doanh nghiệp chủ động tự mình khai thác, tìm kiếm và thâm nhập thị trường, chính vì vậy doanh nghiệp có thể đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, gợi mở và kích nhu cầu. Hơn nữa lợi nhuận thu được của doanh nghiệp thường cao hơn các hình thức xuất khẩu khác vì không tốn các chi phí trung gian. Với vai trò là người bán hàng trực tiếp, doanh nghiệp có thể tự khẳng định mình trên thị trường quốc tế… từ đó nâng cao uy tín của mình, dần nâng cao doanh thu cũng như lợi nhuận. Tuy nhiên, nhược điểm hình thức này là đòi hỏi doanh nghiêp phải có một lượng vốn lớn để thu mua sản phẩm hoạc sản xuất, phải am hiểu thị trường quốc tế vì có thể gặp nhiều rủi ro như: không xuất hàng được, khách hàng chậm trể trong việc thanh toán. 1.3.2. Xuất khẩu gián tiếp Xuất khẩu gián tiếp là hình thức mà một doanh nghiệp bán sản phẩm của mình cho người trung gian và người trung gian sẽ bán sản p hẩm cho khách hàng ở thị trường mục tiêu. Hình thức này thường được các doanh nghiệp mới tham gia kinh doanh vào th ị trường áp dụng. Hình thức này có ưu điểm là các doanh nghiệp không phải đầu tư nhiều cũng như không phải triển khai lực lượng bán hàng và các hoạt động xúc tiến 8
  9. thương mại. Hơn nữa, rủi ro cũng hạn chế vì trách nhiệm bán hàng thuộc về các tổ chức trung gian. Nhược điểm của hình thức này là doanh nghiệp phải chia sẻ lợi nhuận cho các tổ chức trung gian vì không liên hệ trực tiếp với khách hàng nước ngoài. Do vậy việc nắm bắt thông tin về thị trường cũng bị hạn chế, dẫn đến việc phản ứng chậm với các biến động của thị trường. 1.3.3. Buôn bán đối lưu Đây là hình thức giao dịch mà xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng hoá trao đổi có giá trị tương đương nhau. Có nhiều loại hình buôn bán đối lưu như: Đối lưu thông thường, mua đối lưu, giao dịch bồi hoàn, chuyển nợ, mua lại sản phẩm. Phương thức này ít dung đến ngoại tệ cho nên phù hợp với các nước thiếu ngoại tệ và cũng phù hợp với các nhà xuất khẩu mở rộng thị trường, tăng doanh số bán hàng. Hơn nữa phương thức này ít chi phí và rủi ro. Tuy nhiên, phương thức này cũng gây không ít khó khăn cho các nh à xuất khẩu không chuyên sâu về một mặt hàng và nhà xuất khẩu đôi khi lại trở thành nhà khai thác thị trường cho bạn hàng vì phương thức này gắn liền xuất khẩu với nhập khẩu. 1.3.4. Xuất khẩu theo nghị địch thư Xuất khẩu theo nghị định thư là hình thức mà doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu theo chỉ tiêu Nhà nước giao cho về một hoạc một số h àng hóa nhất định cho chính phủ nước ngoài trên cơ sở nghị định thư đã kỹ kết giữa hai chính phủ. Hình thức này cho phép các doanh nghiệp tiết kiệm được các khoản chi phí tìm kiếm bạn hàng, rủi ro trong thanh toán. Tuy nhiên, hình thức này lại không tạo ra tính linh hoạt trong kinh doanh. Doanh nghiệp phải phụ thuộc vào các chỉ tiêu của nhà nước bàn giao. 1.3.5. Xuất khẩu tại chỗ 9
  10. Đặc điểm của loại hình này là hàng hoá và d ịch vụ chưa vượt ra ngoài biên giới quốc gia nhưng ý nghĩa của nó tương tự như hoạt động xuất khẩu. Đó là việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho các đoàn ngoại giao, cho khách du lịch quốc tế. Hoạt động xuất khẩu tại chỗ có thể đạt hiệu quả cao do giảm bớt chi phí bao bì, đóng gói, chi phí bảo quản, chi phí vận tải… tránh được những rắc rối hải quan, thu hồi vốn nhanh. Hình thức này phát triển mạnh ở các nước có thế mạnh về du lịch, thu hút đ ược một lượng lớn du khách đến tham quan và mua hàng hoá. Tuy vậy, hình thức này lại không cung cấp được thị trường mục tiêu với quy mô lớn vì không thể có được lượng khách lớn như xuất khẩu trực tiếp. 1.3.6. Xuất khẩu gia công Xuất khẩu gia công là một hoạt động kinh doanh th ương mại trong đó một bên ( gọi là bên nhận gia công ) nhập nguyên liệu hoạc bán thành phẩm của một bên khác ( gọi là bên đặt gia công ) để chế biến thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao ( gọi là chi phí gia công ). Gia công quốc tế ngày nay khá phổ biến trong buôn bán ngoại th ương của các nước. Ưu điểm của hình thức này là: với bên đặt gia công thì phương thức này giúp họ lợi dụng được giá rẻ về nguyên phụ liệu của nước nhận gia công. Đối với bên nhận gia công, hình thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho nhân công lao động trong nước hoạc nhận được thiết bị hay công nghệ mới về nước mình. Nhược điểm của hình thức này là: Các doanh nghiệp nhận gia công thường bị động về vấn đề thị trường, không chủ động tìm kiếm thị trường, chính vì vậy lợi nhuận đạt được từ hoạt động này rất thấp so với các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất khẩu trực tiếp. Hình thức này phù hợp với các nước đang phát triển, có nguồn lao động dồi d ào, kinh nghiệm sản xuất còn non yếu, vốn ít. 10
  11. 1.3.7. Xuất khẩu uỷ thác Trong hình thức này, đơn vị có hàng xuất khẩu đóng vai trò trung gian xuất khẩu (bên nhận uỷ thác), làm thay cho các đơn vị sản xuất (bên u ỷ thác) những thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng hoá và được hưởng phần trăm theo giá trị hàng xuất khẩu đạt được thoả thuận. Ưu điểm của hình thức này là: Công ty u ỷ thác xuất khẩu không phải bỏ vốn vào kinh doanh, tránh được rủi ro trong kinh doanh m à vẫn thu được khoản lợi nhuận là hoa hồng xuất khẩu. Do chỉ thực hiện hợp đồng xuất khẩu nên tất cả các chi phí từ nghiên cứu thị trường, giao dịch đàm phán ký kết hợp đồng và thức hiện hợp đồng là do công ty u ỷ thác xuất khẩu đảm nhiệm dấn đến giảm chi phí trong hoạt động kinh doanh của công ty. Nhược điểm của hình thức này là: Hiệu quả kinh doanh thấp vì công ty u ỷ thác xuất khẩu không phải bỏ vốn vào kinh doanh nên không b ảo đảm tính chủ động trong kinh doanh, thị trường và khách hàng bị thu hẹp, lợi nhuận bị chia sẻ. Vì vậy hình thức này chỉ áp dụng khi thật cần thiết. Đó là khi thâm nhập vào thị trường mới, khi tập quán đòi hỏi phải bán hàng thông qua trung gian hay khi mặt hàng đòi hỏi sự chăm sóc đặc biệt. 1.3.8. Tái xuất khẩu Tái xuất khẩu là việc xuất khẩu trở lại ra nước ngoài những hàng hoá trước đây đã nhập khẩu thông qua chế biến ở nước tái xuất. Tái xuất có thể thực hiện bằng một trong hai hình thức sau: Tái xuất theo đúng nghĩa của nó: Trong hình thức này hàng hoá đi từ nước xuất khẩu đến nước tái xuất rồi lại được xuất khẩu từ nước tái xuất sang nước nhập khẩu. Ngược chiều với sự vận động của h àng hoá là sự vận động của tiền, nước tái suất trả tiền nước xuất khẩu và thu tiền nước nhập khẩu. Chuyển khẩu: Trong đó hàng hoá từ nước xuất khẩu trực tiếp sang nước nhập khẩu, nước tái xuất trả tiền cho nước xuất khẩu và thu tiền của nước nhập khẩu. 11
  12. Mục đích của việc thực hiện giao dịch tái xuất là mua rẻ hàng hoá ở nước này bán đắt hàng hoá ở nước khác và thu về ngoại tệ lớn hơn ban đầu. Hình thức này được áp dụng khi doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ tái xuất khẩu phải có kinh nghiệm kinh doanh, am hiểu về thị trường và giá cả, có nhiều bạn hàng ở nước ngoài, có những nhân viên giỏi về nghiệp vụ thanh toán. Tóm lại: Có nhiều hình thức xuất khẩu, mỗi hình thức đều có ưu điểm và nhược điểm. Trên đây là một số loại hình xuất khẩu điển hình thường thấy trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu. Trong đó mặt h àng của ngành thủ công m ỹ nghệ cũng thường hoạt động theo các hình thức xuất khẩu này. Đặc biệt xuất khẩu gián tiếp, xuất khẩu tại chỗ, xuất khẩu gia công là các hình thức xuất khẩu thường được sử dụng đối với mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam. 2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu 2.1. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 2.1.1. Nhân tố chính trị Chính trị là tổng thể các quan đểm, các phương pháp hoạt động thực tế của Đảng, của Nhà nước, của giai cấp. Nó bao gồm cả các yếu tố khách quan và chủ quan. Chính trị có thể kích thích cũng như có thể cản phá quá trình quốc tế hoá các hoạt động kinh doanh phát triển theo hướng nhất định. Ví dụ, đường lối chính sách sai sẽ dẫn đến bế tắc về kinh tế thậm chí đổ vỡ cả hệ thống chính trị. Sự bất ổn có thể ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh nên buộc đối tác phải tạm ngừng kinh doanh và đánh giá lại các cơ hội kinh doanh trên thị trường để phân bố lại nguồn lực vào thị trường có độ an toàn cao hơn. 2.1.2. Nhân tố văn hoá Văn hoá là phạm trù chỉ các giá trị tín ngưỡng, luật lệ và thể chế do một nhóm người lập nên. Văn hoá phản ánh thẩm mỹ, giá trị và thái độ, phong tục và tập quán, cấu trúc xã hội, tôn giáo, giao tiếp cá nhân, giáo dục, môi trường vật chất và môi trường tự nhiên. Các hoạt động kinh doanh quốc tế thường bị cản trở bởi sự khác nhau về văn hoá giữa các quốc gia, các dân tộc. Nhiều hợp 12
  13. đồng không thực hiện được do sự chống đối của người dân của quốc gia nhập khẩu khi mà một số yếu tố thuộc sản phẩm không phù hợp với phong tục, tập quán của người dân. Một sản phẩm sản xuất ra muốn xuất khẩu được thì phải phù hợp với sở thích tiêu dùng địa phương, nơi nhà kinh doanh xuất khẩu hàng. Muốn đạt được điều này, nhà sản xuất và nhà xuất khẩu phải có kiến thức và am hiểu về văn hoá của khách hàng. 2.1.3. Nhân tố kinh tế - xã hội Hoạt động xuất khẩu là một nội dung của hoạt động kinh tế. Nó phụ thuộc rất nhiều vào tiềm lực sản xuất trong nước. Nếu một quốc gia có nền kinh tế xã hội ổn định và phát triển bên vững thì sẽ thúc đẩy hoạt động xuất khẩu và ngược lại, nếu một quốc gia có nền kinh tế bất ổn sẽ làm cho hoạt động xuất khẩu bị đình trệ. Những bất ổn về kinh tế - xã hội ở quốc gia xuất khẩu cũng như ở quốc gia nhập khẩu sẽ làm tăng mức độ rủi ro cho các nhà xuất khẩu vì hiện tượng này làm cho các ngành xuất khẩu không thể dự đoán đ ược chính xác các thay đổi về môi trường bên ngoài như: Thị trường cung ứng vật liệu, mức tăng giảm nhu cầu thị trường, chi phí sản xuất… Từ đó nh à xuất khẩu không đua ra được các biện pháp chống đỡ. Hầu hết các doanh nghiệp thuộc các n ước đang phát triển như Việt Nam thường rất lúng túng khi mà nền kinh tế - xã hội thay đổi không theo đúng quy luật bởi khả năng chịu đựng rủi ro của họ rất thấp, và thường thì họ chọn phương án “an toàn”. Như vậy sự bất ổn về kinh tế - xã hội của một quốc gia sẽ là nguyên nhân làm cho năng lực sản xuất và hoạt động xuất khẩu bị giảm sút. Cơ sở hạ tầng cũng có tác động không nhỏ tới hoạt động xuất khẩu của một quốc gia. Thông th ường một quốc gia có kết kấu hạ tầng hiện đại th ì sẽ làm cho hoạt động xuất khẩu được thuận lợi hơn vì các kết cấu hạ tầng liên quan đến số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất ra. Quy mô nh à xưởng sẽ quyết định đến số lượng sản phẩm, hạ tầng kỹ thuật sẽ tác động đến chất lượng sản phẩm bởi sản phẩm được sử lý trên dây chuyền kỹ thuật hiện đại sẽ làm 13
  14. cho chất lượng sản phẩm đồng đều. Sản phẩm được bảo quản cẩn thận và đúng yêu cầu kỹ thuật cộng thêm việc vận chuyển bảo đảm sẽ làm giảm số lượng sản phẩm loại do bị hỏng và kém phẩm chất. 2.1.4. Định hướng xuất khẩu của Chính phủ và các công cụ thuế quan của Nhà nước 2.1.4.1. Thuế quan Một trong những nhân tố tác động đến xuất khẩu trước hết phải kể đến thuế quan - thuế xuất nhập khẩu. Thuế xuất nhập khẩu là loại thuế gián thu đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu khi qua lĩnh vực thuế quan của một quốc gia. Đối với các hàng hóa xuất khẩu, một số loại mặt hàng sẽ phải chịu hai loại thuế: thuế xuất khẩu do chính quốc gia sở tại đánh thuế và thứ hai là thuế nhập khẩu ở thị trường mà hàng hoá xuất khẩu được đưa vào. Loại thuế thứ nhất sẽ ít ảnh hưởng tới xuất khẩu, bởi lẽ các quốc gia đa phần đều khuyến khích xuất khẩu, vì vậy hàng hoá xuất khẩu sẽ được ưu tiên và chỉ bị đánh thuế với tỷ lệ nhỏ, thậm chí được miễm thuế. Rào cản lớn nhất mà hàng xuất khẩu phải chịu là thuế nhập khẩu của một quốc gia, n ơi có thị trường mục tiêu. Thuế nhập khẩu yêu cầu người nhập khẩu hàng hoá phải trả một tỷ lệ thanh toán cụ thể theo giá cả trong nước. Qua đó nó làm tăng chi phí của hàng hoá nhập khẩu. Để đảm bảo có lợi nhuận trong trường hợp này, các thương nhân, doanh nghiệp buộc phải nâng cao giá bán hàng hoá. Khi giá hàng hoá được bán ở mức cao hơn sẽ có tác động làm giảm mức tiêu thụ nội địa theo đúng quy luật cung cầu: giá cao dẫn đến cầu giảm tất yếu khi đó ảnh hưởng đến xuất khẩu ở thị trường nguồn. Giả sử cung hàng hóa trên thị trường đều do nhập khẩu (đường cung SS) cung ứng. DD là đường cầu nội địa. Bây giờ ta sẽ xem xét sự ảnh h ưởng của thuế nhập khẩu đến hoạt động xuất khẩu. Khi chưa có thuế quan, giả thiết thị trường đang ở điểm cân bằng E, với mức sản lượng cân bằng Qe và mức giá cân bằng Pe. Khi mức thuế nhập khẩu 14
  15. được áp dụng, giá cả hàng hoá tăng lên từ Pe đến P1 dẫn đến nhu cầu về h àng hoá giảm đi từ Qe đến Q1. Theo đúng quy luật cung cầu, giá cả tăng dẫn đến nhu cầu giảm. Khi nhu cầu giảm từ Qe đến Q1, nếu cung h àng hoá không kịp thời điều chỉnh nó sẽ tạo ra một lượng dư thừa bằng hiệu Qe-Q1. Để thích ứng với điều này buộc phải giảm nhập khẩu và chỉ nhập khẩu tới mức sản lượng Q1 nghĩa là giảm hơn nhiều khi chưa có thuế. Sự sụt giảm nhập khẩu n ày sẽ kéo theo việc giảm lượng xuất khẩu tại thị trường nguồn. D S B A P1 C E PE D S Q3 Q2 Q1 QE Hình 1: Sự ảnh hưởng của thuế quan đến hoạt động xuất khẩu 2.1.4.2. Các biện pháp phi thuế quan - Hạn ngạch Hạn ngạch được hiểu là quy định của nhà nước về số lượng (hay giá trị) của một mặt hàng hoặc một nhóm hàng được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu từ một thị trường nhất định thông qua h ình thức cấp phép (Quota xuất – nhập khẩu). Hạn ngạch thường là những quy định hạn chế về mặt số lượng đối với 15
  16. những mặt hàng dễ đo đếm, kiểm kê và có gía trị lớn. Nó thường không được áp dụng hoặc hạn chế đối với những mặt hàng khó đo đếm, kiểm kê. - Tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái là quan hệ về sức mua giữa bản tệ (hay nội tệ) so với các ngoại tệ khác đặc biệt là các ngoại tệ có khả năng chuyển đổi tự do. Tỷ giá hối đoái là loại giá quan trọng nhất, chi phối những loại giá khác và có tác động trực tiếp đến xuất nhập khẩu. Xuất nhập khẩu là lĩnh vực chịu sự tác động trực tiếp và nhạy cảm nhất trước sự biến động của tỷ giá hối đoái. Bởi vì, nó là loại giá quốc tế, tỷ giá hối đoái dùng để tính toán, thanh toán cho hàng hoá , dịch vụ xuất nhập khẩu. Tỷ giá hối đoái gồm hai loại: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực tế. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ lệ mà tại đó một người đổi đồng tiền của quốc gia này lấy một đồng tiền của quốc gia khác. Một nước có đồng tiền mạnh có khả năng tạo ra sức mua lớn hơn, nhờ khả năng thu được nhiều ngoại tệ hơn khi quy đổi đồng nội tệ của mình, và như vậy có lợi thế trong việc nhập khẩu. Tuy nhiên đối với xuất khẩu thì ngược lại, hàng hoá xuất khẩu của các quốc gia này thường kém khả năng cạnh tranh về giá so với các h àng hoá ở các quốc gia khác. Tuy nhiên thước đo chính xác nhất để đánh giá lợi thế cạnh tranh cho hàng xuất nhập khẩu phải được nhìn nhận thông qua loại tỷ giá hối đoái thứ hai là tỷ giá hối đoái thực tế. Tỷ giá hối đoái thực tế là t ỷ lệ mà tại đó một người trao đổi dịch vụ, hàng hoá nước này lấy dịch vụ, hàng hoá nước khác. Tỷ giá hối đoái thực tế được tính bằng công thức: Tỷ giá hối đoái thực tế = ( tỷ giá hối đoái danh nghĩa × chỉ số giá quốc tế)/chỉ số giá cả trong nước Tỷ giá hối đoái thực tế có hai mục đích: một là để điều chỉnh tác động của mức lạm phát và hai là phản ánh những biến đổi thực tế trong khả năng 16
  17. cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu hay nhập khẩu của nền kinh tế một quốc gia. Như vậy khi tỷ giá hối đoái thực tế của một quốc gia thấp, lượng hàng hoá dịch vụ trao đổi được từ nước khác sẽ ít hay lượng hàng hoá nhập khẩu sẽ bị hạn chế đồng thời thuận lợi cho xuất khẩu. Và ngược lại khi tỷ giá hối đoái thực tế của một quốc gia cao sẽ kích thích nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu. - Các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật Đây là các quy định về tiêu chuẩn vệ sinh, đo lường, an toàn lao động, bao bì đóng gói, đặc biệt là các tiêu chuẩn vệ sinh về môi trường sinh thái. Những quy định này thường xuất phát từ các đòi hỏi thực tế của đời sống xã hội và phản ánh trình độ phát triển đạt được của nền văn minh nhân loại. Những trên thực tế người ta sử dụng tiêu chuẩn này thành công cụ cạnh tranh có lợi cho nước chủ nhà trong các quan hệ thương mại quốc tế. Theo điều tra thống kê, hiện nay trên thế giới có hơn 1/3 lượng hàng hoá buôn bán quốc tế gặp phải những trở ngại do quá nhiều tiêu chuẩn kỹ thuật được đặt ra. Một liên minh điển hình trong việc đặt ra các tiêu chuẩn kỹ thuật là Liên minh Châu Âu EU. Để được xuất khẩu và bán hàng trên thị trường này một yêu cầu đầu tiên là hàng hoá đó phải đáp ứng được các tiêu chuẩn do EU đặt ra. Đây gần như là yêu cầu khắt khe nhất khi xuất khẩu hàng hoá sang EU. - Trợ cấp xuất khẩu Đây là những biện pháp của nhà nước hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu nhằm tăng nhanh số lượng hàng và trị giá kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ. Trợ cấp xuất khẩu là những biện pháp mà chính phủ áp dụng như trợ cấp trực tiếp hoặc cho vay với tỷ lệ lãi suất thấp, miễn thuế cho các nh à xuất khẩu trong nước. Chính phủ cũng có thể thực hiện một khoản vay ưu đã đối với các bạn hàng nước ngoài, để phía nhập khẩu có điều kiện thu mua các sản phẩm do nước mình sản xuất ra một cách nhanh và hợp lí nhất. Đây chính là chế độ ưu đãi dành cho đối tác, để khuyến khích xuất khẩu của n ước mình. 17
  18. Biện pháp này thường được các nước công nghiệp phát triển áp dụng dưới danh nghĩa khoản tín dụng, viện trợ cho các nước đang phát triển vay. Trợ cấp xuất khẩu là đòn bẩy kinh tế có tác dụng tích cực dến việc phát triển xuất khẩu - Hàng rào phi thuế quan Đây là những quy định hành chính phân biệt đối xử nhằm chống lại hàng hoá nước ngoài và ủng hộ sản xuất nội địa. Hàng rào phi thuế quan được coi là những khác biệt trong những quy định hoặc tập quán của các quốc gia làm cản trở lưu thông tự do của các hàng hoá dịch vụ và các yếu tố sản xuất đối với các nước. Nhà nước dùng các biện pháp như tuyên truyền quảng cáo, khuyên người tiêu dùng chỉ nên sử dụng hàng hoá nội địa, hạn chế dùng hàng hoá nhập khẩu. Để xuất khẩu hàng hoá vào các nước có hàng rào phi thuế quan đòi hỏi hàng xuất khẩu phải đáp ứng được các nhu cầu đặt ra như mẫu mã chủng loại, an toàn vệ sinh, phù hợp với các tiêu chuẩn đặt ra. Đây là những đòi hỏi bắt buộc đối với hàng xuất khẩu. Tuy nhiên việc đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu này không phải là dễ, chính điều này làm hạn chế khả năng xuất khẩu. Biện pháp hạn chế xuất khẩu tự nguyện cũng là một trong những hình thức của hàng rào mậu dịch phi thuế quan. Hình thức này thường đựơc áp dụng cho các nước có khối lượng xuất khẩu quá lớn về mặt h àng nào đó, nhất là đối với những mặt hàng có sức cạnh tranh cao có xu hướng mở rộng nhanh thị phần trên thị trường của nước bị thâm nhập. 2.2. Các nhân tố thuộc bên trong doanh nghiệp 2.1.1. Năng lực quản trị của ban lãnh đạo Đây là một bộ phận đầu não của doanh nghiệp, là nơi xây dựng chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp, để đề ra các mục tiêu, chiến lược phát triển công ty, đồng thời giám sát, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch đề ra. Đồng thời họ cũng là người gánh vác trách nhiệm kinh doanh trực tiếp trước cơ quan Nhà nước trực thuộc địa phương nơi mà doanh nghiệp đó có trụ sở chính. 18
  19. Ví vậy, trình độ năng lực quản lý của ban lãnh đạo có ảnh hương trực tiếp tới toàn bộ quá trình hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp. 2.1.2. Cơ cấu tố chức bộ máy hoạt động của doanh nghiệp Một cơ cấu hợp lý sẽ loại trừ các “nhiếu” trong sự truyền tải thông tin từ ban lãnh đạo tới các thành viên trong công ty. Cơ cấu tổ chức này có thể sửa đổi, bổ sung lượng thông tin kịp thời, chính xác, đúng vị trí. Đồng thờ i cơ cấu tổ chức cũng ảnh hưởng tới việc ra quyết định, giúp ban lãnh đạo đưa ra những quyết định, khách quan hợp lý. Như vậy, cơ cấu tổ chức không những ảnh hưởng tới quá trình ra quyết định kinh doanh mà còn ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh ngh iệp. 2.1.3. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Con người có vị trí trung tâm và có vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Vì vậy mọi chính sách và biện pháp được áp dụng trong doanh nghiệp phải hướng vào mục tiêu cơ bản là vì sự phát triển của bản thân người lao động và doanh nghiệp. Lao động trong donh nghiệp thương mại có vị trí và đặc điểm rất quan trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Thứ nhất: Nguồn nhân lực là một trong ba yếu tố cơ bản, hơn thê nữa là yếu tố quyết định các hoạt động của doanh nghiệp. Nếu không có con người với những trình độ chuyên môn, kỹ thuật nghiệp vụ nhất định thì bộ máy doanh nghiệp không thể vận hành được. Các yếu tố vốn, tài sản chỉ là các điều kiện cần thiết để quá trình hoạt động của doanh nghiệp có thể được thực hiện. Thứ hai: Lao động là yếu tố sáng tạo ra giá trị mới. Việc nâng cao năng xuất lao động là nguyên nhân cơ bản, quyết định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Quy mô lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc quản trị lực lượng lao động của doanh nghiệp. Thứ ba: Hiệu quả trong doanh nghiệp thương mại cũng chịu ảnh hưởng giới hạn bởi các yếu tố về thời gian làm việc, thể lực, trí lực và các yếu tố tâm sinh lý. 19
  20. Hoạt động xuất khẩu được coi là hoạt động lưu thông hàng hoá. Vì vậy không những lĩnh vực sản xuất vật chất đòi hỏi phải hao phí sức lao động m à hoạt động xuất khẩu lưu thông hàng hoá cũng đòi hỏi phải hao phí sức lao động để thực hiện việc lưu thông hàng hoá từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng. Các Mác nói: “hàng hoá không thể tự mình đi tới thị trường được, cũng không thể tự mình trao đổi với nhau được”. Lưu thông hàng hoá là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, do đó đòi hỏi bộ phận lao động trong lĩnh vực kinh doanh xuất khẩu ngày càng gia tăng và chuyên nghiệp. Do vậy có thể thấy tậm quan trọng của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Là nhân tố quyết định tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, quy trình hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu. 2.1.4. Nguồn vốn kinh doanh Trong các doanh nghiệp thương mại, vốn kinh doanh có vai trò quan trọng quyết đinh việc ra đời, hoạt động, phát triển và giải thể doanh nghiệp. Vốn kinh doanh ở doanh nghiệp th ương mại là thể hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản doanh nghiệp dùng trong kinh doanh bao gồm: Tài sản bằng hiện vật như nhà cửa, kho tàng, cửa hàng, quầy hàng, hàng hoá… Tiền, ngoại tệ, vàng, bạc, đã quý… Thương hiệu, bằng bản quyền sở hữu công nghiệp, sở hữu trí tuệ… Muốn thành lập doanh nghiệp thương mại cần phải có vốn pháp định, vốn điều lệ hoạc vốn đăng ký kinh doanh. Muốn tiến hành các hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có vốn kinh doanh để tiến h ành các hoạt động nghiệp vụ như mua, bán, dự trữ hàng hoá, vận chuyển, xếp dỡ… Muốn phát triển kinh doanh, mở rông thị trường và khách hàng, doanh nghiệp cần phải có nguồn hàng đủ lớn, phải mở rộng mạng lưới thu mua, bán hàng cũng như có đội ngũ đông đảo cán bộ công nhân viên thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản