intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

LUẬN VĂN: Kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn tỉnh Vĩnh Long

Chia sẻ: Nguyenn Uyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:105

0
147
lượt xem
74
download

LUẬN VĂN: Kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn tỉnh Vĩnh Long

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Xoá đói, giảm nghèo trở thành vấn đề toàn cầu, là mục tiêu của thiên niên kỷ XXI và thế giới đã lấy ngày 17 tháng 10 hàng năm là “Ngày Thế giới xoá đói, giảm nghèo”. Có thể nói, nghèo đói đã và đang diễn ra trên khắp các châu lục với những mức độ khác nhau. Đặc biệt là ở các nước lạc hậu, chậm phát triển, kể cả các nước đang phát triển và nước giàu có; nghèo đói đang là vấn đề nhức nhối, thách thức đối với sự phát triển hay tụt hậu của...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn tỉnh Vĩnh Long

  1. LUẬN VĂN: Kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn tỉnh Vĩnh Long
  2. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Xoá đói, giảm nghèo trở thành vấn đề toàn cầu, là mục tiêu của thiên niên kỷ XXI và thế giới đã lấy ngày 17 tháng 10 hàng năm là “Ngày Thế giới xoá đói, giảm nghèo”. Có thể nói, nghèo đói đã và đang diễn ra trên khắp các châu lục với những mức độ khác nhau. Đặc biệt là ở các nước lạc hậu, chậm phát triển, kể cả các nước đang phát triển và nước giàu có; nghèo đói đang là vấn đề nhức nhối, thách thức đối với sự phát triển hay tụt hậu của một quốc gia. Ở nước ta, ngay từ những ngày đầu khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 vừa thành công, Chính phủ Cách mạng lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu vừa được thành lập, ngày đêm phải lo đối phó với thù trong, giặc ngoài, nhưng vẫn dành sự quan tâm sâu sắc đến việc chăm lo cuộc sống cho nhân dân vừa thoát khỏi cảnh nô lệ, bị áp bức, bóc lột. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến vấn đề đói. Người kêu gọi toàn dân cùng Chính phủ tập trung lực lượng để chống ba thứ giặc là: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, trong đó giặc đói được Người đặt lên hàng đầu, với lý do: Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Nhưng nếu nước ta được độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc, thì độc lập đó chẳng có ý nghĩa gì. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo đến đời sống nhân dân, Người nói: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi”; và “Dân đủ ăn đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ sẽ dễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy thì cũng không thực hiện được" [27, tr.572]. Người đã sớm phát động cuộc vận động thi đua ái quốc kêu gọi toàn dân bằng nhiều phương pháp, cách thức khác nhau để giúp nhân dân như: tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, nhường cơm sẽ áo, quyên góp gạo cứu đói,… Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ nhiệm vụ chung của cách mạng bao gồm cả phát triển kinh tế - xã hội lẫn văn hoá tinh thần, để giúp nhân dân lao động thoát khỏi nghèo đói và ai ai cũng có việc làm, được ấm no và sống hạnh phúc. Đó là những nhiệm vụ rất lâu dài khó
  3. khăn, bởi cơ sở vật chất của chúng ta còn thiếu và yếu, do phải dốc sức cho cuộc chiến tranh giành độc lập tự do, phải hoàn thành hai nhiệm vụ đồng thời là: vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, kháng chiến để mang về cái quý giá cho dân tộc vì “Không có gì quý hơn độc lập tự do” còn kiến quốc để “đảm bảo đời sống của nhân dân”. Đến nay đói, nghèo vẫn đang là vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc. Xóa đói, giảm nghèo toàn diện, bền vững luôn luôn được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và xác định là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, nhiệm kỳ (2001-2005) đã khẳng định: “Việc tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xoá đói, giảm nghèo ngay trong từng bước đi và trong suốt quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước”. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, nhiệm kỳ (2006-2010) tiếp tục nhấn mạnh: Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và trợ giúp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo và cải thiện mức sống một cách bền vững; kết hợp chính sách Nhà nước với sự giúp đỡ trực tiếp và có hiệu quả của toàn xã hội, của những người khá giả cho người nghèo, hộ nghèo, nhất là đối với những vùng đặc biệt khó khăn. Ngăn chặn tình trạng tái nghèo… [17, tr.217]. Qua hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, công tác xoá đói, giảm nghèo đã được xã hội hoá, trở thành công việc của mọi cấp, mọi ngành và thu hút được sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Thành tựu xoá đói, giảm nghèo của Việt Nam đã được thế giới đánh giá cao là một trong 10 nước có tốc độ xoá đói, giảm nghèo nhanh nhất. Thực hiện thành công mục tiêu xoá đói, giảm nghèo có ý nghĩa quyết định trong việc “đưa nước ta ra khỏi tình trạng một nước kém phát triển trước năm 2010 mà Đại hội X của Đảng” đã đề ra. Tuy nhiên công cuộc xoá đói, giảm nghèo ở nước ta hiện nay phải đối mặt với những khó khăn và thách thức lớn, đó là do hậu quả của chiến tranh nên xuất phát điểm của Việt Nam thuộc diện nước nghèo; thu nhập và mức chi dùng bình quân đầu người thấp. Khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng và các nhóm dân cư có xu hướng gia tăng. Tỷ lệ người nghèo là người dân tộc thiểu số còn
  4. cao, nguy cơ tái nghèo có thể gia tăng do nhiều nguyên nhân như: thiên tai, dịch bệnh, biến động giá cả, tác động của hội nhập,… Cơ hội tìm việc làm của người nghèo cũng sẽ ít hơn. Tỷ lệ hộ dân tái nghèo ở nước ta còn lớn, xoá đói, giảm nghèo thiếu tính bền vững. Vĩnh Long là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, toàn bộ lãnh thổ của tỉnh nằm giữa hai con sông lớn là sông Tiền và sông Hậu. Diện tích tự nhiên 1.475,19 km2, dân số 1.051.000 người, mật độ dân số đạt 704 người/km2, là một trong những tỉnh có mật độ dân số cao nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Long rất quan tâm đến công tác xoá đói, giảm nghèo, thực hiện nhiều chính sách và các dự án xoá đói, giảm nghèo mang lại hiệu quả thiết thực, với sự nỗ lực của các ngành, các cấp và bản thân của các hộ nghèo đã phấn đấu góp phần hạ thấp tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh từ 13,8%, với 27.677 hộ năm 1994 giảm xuống còn 3,51%, với 8.089 hộ vào cuối năm 2005 (theo tiêu chí cũ), với kết quả này đã về đích trước thời hạn so với Nghị quyết của Tỉnh đề ra là 5%. Tuy nhiên về lợi thế so sánh tài nguyên thiên nhiên, Vĩnh Long không có biển, không có núi, không có rừng. Mặt khác Vĩnh Long là một tỉnh diện tích đất hẹp người đông, trình độ dân trí còn hạn chế, kết cấu hạ tầng còn thấp, kinh tế phát triển chưa đồng đều giữa các vùng. Thu nhập bình quân đầu người còn thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo của tỉnh còn cao, theo tiêu chí mới, đến cuối năm 2007 còn 9,86% so tổng số hộ toàn tỉnh, trong đó tỷ lệ hộ nghèo là người dân tộc khmer còn rất cao, chiếm 50,50% so tổng số hộ khmer trong tỉnh, tập trung ở 4 huyện Tam Bình, Bình Minh, Trà Ôn, Vũng Liêm. Có gần 92% hộ nghèo sống ở nông thôn và toàn tỉnh còn 5 ấp và 3 xã đặc biệt khó khăn. Do vậy, vấn đề đặt ra cho Tỉnh Vĩnh Long trong việc kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn không chỉ có ý nghĩa thực hiện mục tiêu chung của cả nước mà còn có vai trò thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển, vươn lên tránh tụt hậu so với các tỉnh trong khu vực, đồng thời đáp ứng yêu cầu trong tiến trình hội nhập và phát triển. Trước yêu cầu đó, việc nghiên cứu, lý giải một cách đầy đủ có cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội, trước hết là ở nông thôn để đưa ra các giải pháp phù hợp với thực tiễn của địa phương Vĩnh Long là yêu cầu cấp thiết, cho nên tác giả đã chọn đề tài “Kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn tỉnh Vĩnh Long” để làm luận văn thạc sĩ Kinh tế.
  5. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Xoá đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn, một quyết sách lớn và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, do đó vấn đề xoá đói, giảm nghèo được các cấp lãnh đạo chính quyền địa phương quan tâm nhằm tìm ra giải pháp tốt nhất để thực hiện chủ trương này. Cho nên vấn đề đã được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau. Đến nay ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều luận văn tốt nghiệp đã đề cập đến vấn đề xoá đói, giảm nghèo. Trong các công trình đã được nghiên cứu đáng chú ý là: - Trần Thị Hằng “Vấn đề xoá đói, giảm nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2001. - Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam tổ chức hội thảo , “Xoá đói, giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số: Ph ương pháp tiếp cận”, năm 2001. - Ngân hàng Thế giới, “Đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam”, năm 2004. - Nguyễn Hoàng Lý, “Xoá đói, giảm nghèo ở tỉnh gia Lai - Thực trạng và giải pháp”, năm 2005. - Trương Văn Thành, “Thực trạng và giải pháp xoá đói, giảm nghèo ở Tây Ninh hiện nay”, năm 2000. - Trần Đình Đàn, “Những giải pháp kinh tế - xã hội chủ yếu nhằm xoá đói, giảm nghèo ở Hà Tỉnh”, năm 2002. - Vi Văn Vân, “Xoá đói, giảm nghèo ở vùng các dân tộc thiểu số huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An”, năm 2004 - Hội thảo khoa học về xoá đói, giảm nghèo do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Tạp chí Cộng sản, tổ chức tháng 4 năm 2006. - Hội thảo “Đồng bằng sông Cửu Long với công cuộc xoá đói, giảm nghèo thông qua phát triển du lịch cộng đồng” do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Vĩnh Long, đăng cai tổ chức tại Thị xã Vĩnh Long tháng 10/2007. - Phân tích hiện trạng nghèo đói Đồng bằng sông Cửu Long, năm 2005.
  6. Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận và nghiên cứu vấn đề xoá đói, giảm nghèo ở nhiều góc độ, nhiều địa phương khác nhau và gợi mở ra hướng nghiên cứu mới bổ ích. Đây là những tư liệu quý sẽ được tiếp thu có chọn lọc trong quá trình viết luận văn này. Song cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu xoá đói, giảm nghèo gắn với phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. Đặc biệt là ở Vĩnh Long chưa có một công trình nào nghiên cứu như đã nêu dưới góc độ kinh tế chính trị. Vì vậy, đề tài mà tác giả lựa chọn để nghiên cứu không trùng với các công trình nghiên cứu đã được công bố. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 3.1. Mục đích Làm rõ thực trạng đói nghèo và việc thực hiện xóa đói, giảm nghèo gắn với phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Vĩnh Long từ năm 2001 đến nay. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần thực hiện tốt công tác xóa đói, giảm nghèo gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Vĩnh Long đến 2010 và dự báo đến 2015. 3.2. Nhiệm vụ - Làm rõ một số vấn đề lý luận về kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. - Phân tích đánh giá thực trạng việc kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn tỉnh Vĩnh Long. - Đưa ra những giải pháp cơ bản về kết hợp xoá đói, giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Vĩnh Long. 4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn 4.1. Về nội dung: Kết hợp xóa đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn có nội dung rất rộng. Ở góc độ khoa học kinh tế chính trị, luận văn tập trung nghiên cứu các quan hệ kinh tế có quan hệ trực tiếp đến việc kết hợp xóa đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, luận văn không nghiên cứu các vấn đề về kỹ thuật nghiệp vụ thực hiện xoá đói, giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội. Mặt khác, luận văn nghiên cứu việc kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn Vĩnh Long, mà trọng tâm là nghiên cứu xoá đói, giảm nghèo không đi sâu vào
  7. những vấn đề cụ thể của phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn mà lấy phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn làm tiền đề giải quyết xoá đói, giảm nghèo bền vững. 4.2. Về thời gian: Kết hợp xoá đói, giảm nghèo gắn với phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Vĩnh Long từ năm 2001 đến nay. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn - Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng để nghiêng cứu vấn đề dưới góc độ kinh tế chính trị kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng. - Trong quá trình phân tích, luận văn vận dụng phương pháp trừu tượng hoá khoa học và kết hợp các phương pháp khác như: khảo sát, điều tra, thống kê, hệ thống, so sánh,…tổng hợp báo cáo tổng kết công tác xóa đói, giảm nghèo và các báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Long, để làm rõ vấn đề nghiên cứu và rút ra các kết luận cần thiết. 6. Những đóng góp của luận văn - Làm rõ một số vấn đề lý luận về quan hệ giữa xóa đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội nông thôn. - Phân tích, đánh giá thực trạng việc kết hợp xóa đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Vĩnh Long. Nêu rõ những thành công, những khó khăn, hạn chế và những vấn đề đặt ra cần thiết phải xoá đói, giảm nghèo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. - Luận văn đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm kết hợp xóa đói, giảm nghèo với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Vĩnh Long. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
  8. Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KẾT HỢP XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN 1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HỢP X0Á ĐÓI, GIẢM NGHÈO VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN 1.1.1. Đói, nghèo và nguyên nhân của đói, nghèo 1.1.1.1. Quan niệm về đói, nghèo Những năm gần đây, vấn đề đói nghèo đã thu hút sự quan tâm to lớn của cộng đồng quốc tế, đồng thời khẳng định cần có sự nỗ lực toàn cầu trong giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội và xóa đói, giảm nghèo. Tuyên bố Thiên niên kỷ và các mục tiêu phát triển, đã tạo đà và tầm nhìn về một thế giới mà ở đó không còn đói nghèo, ai cũng được chăm lo về y tế, giáo dục, môi trường, mọi người được tự do bình đẳng... Nền kinh tế càng tăng trưởng càng nảy sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc và chi phí khắc phục hậu quả của nó ngày một tốn kém hơn. Trong các vấn đề xã hội bức xúc đó, vấn đề đói nghèo nổi lên hàng đầu và được cả cộng đồng quốc tế quan tâm. Những năm đầu của thế kỷ 21 có tới 78 quốc gia thuộc nhóm các nước nghèo và đang phát triển xây dựng chiến lược nghèo toàn diện; trong đó có gần 30 tổ chức quốc tế, bao gồm cả tổ chức đa phương, song phương và NGO xây dựng chiến lược hỗ trợ các nước nghèo trong cuộc chiến chống nghèo đói. Quan niệm về đói, nghèo hay nhận dạng về đói, nghèo của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người. Sự khác nhau chủ yếu là xác định mức độ thoả mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào yếu tố lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia.
  9. Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do (ESCAP) tổ chức ở Băng Cốc, Thái Lan vào tháng 9 -1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao về khái niệm nghèo đói như sau: Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận [5]. Ở khái niệm về nghèo khổ trên, cần xem xét ba vấn đề sau: (i) Nhu cầu cơ bản của con người bao gồm: ăn ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội. (ii) Nghèo khổ thay đổi theo thời gian: Thước đo nghèo khổ sẽ thay đổi theo thời gian, kinh tế càng phát triển, thì nhu cầu cơ bản của con người cũng sẽ thay đổi theo và có xu hướng ngày một cao hơn. (iii) Nghèo khổ thay đổi theo không gian: Thông qua định nghĩa này đã chỉ cho chúng ta thấy rằng hiện tại thì chưa nhưng trong tương lai sẽ có chuẩn nghèo chung cho tất cả các nước, vì nó phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, từng vùng. Xu hướng chung là các nước đang phát triển ngưỡng đo nghèo đói ngày càng cao. Nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith chia sẽ với quan niệm này cho rằng con người bị coi là nghèo đói khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng. Khi đó, họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mức. Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một quan niệm cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” [21]. Ông Abapia Sen, một chuyên gia hàng đầu của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) - người được giải thưởng Nôben về kinh tế năm 1998, cho rằng: Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu, người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân
  10. biệt họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống, thông thường người giàu có cơ hội lựa chọn nhiều hơn, người nghèo có cơ hội lựa chọn ít hơn. Ngân hàng thế giới còn đưa ra quan điểm: Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như: dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực. Tháp tiếp cận về nghèo đói [29]. 1. Tiêu dùng 2. Tiêu dùng + tài sản 3. Tiêu dùng + tài sản + con người 4. Tiêu dùng + tài sản + con người + văn hoá - xã hội 5. Tiêu dùng + tài sản + con người + văn hoá - xã hội + chính trị 6. Tiêu dùng + tài sản + con người + văn hoá - xã hội + chính trị + bảo vệ Quan niệm của bản thân người nghèo ở nước ta cũng như một số quốc gia khác trên thế giới về nghèo đói đơn giản hơn, trực diện hơn. Một số cuộc tham vấn có sự tham gia của người dân, họ nói rằng: Nghèo đói là gì ư ? là hôm nay con tôi ăn khoai, ngày mai không biết con tôi ăn gì? Bạn nhìn nhà ở của tôi thì biết, ngồi trong nhà cũng thấy mặt trời, khi mưa thì trong nhà cũng như ngoài sân. Một số người khác thì trả lời nghèo đói đồng nghĩa với nhà ở bằng tranh tre, nứa, lá tạm bợ, xiêu vẹo, dột nát; không đủ đất đai để sản xuất, không có trâu, bò, không có ti vi, con cái thất học, ốm đau không có tiền đi khám chữa bệnh… Các quan niệm về đói nghèo nêu trên phản ánh 3 khía cạnh của người nghèo. (i) Không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người. (ii) Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. (iii) Thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia trong quá trình phát triển cộng đồng. Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành hai loại: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
  11. Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế, giáo dục...). Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định. Những quan niệm về đói nghèo nêu trên, phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo là: Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người; có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng; thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Nghèo tuyệt đối chủ yếu phản ánh tình trạng một bộ phận dân cư không được thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu của con người, trước hết là ăn, mặc, ở...; Nghèo tương đối lại phản ánh sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư khi so sánh với mức sống trung bình của cộng đồng địa phương trong một thời kỳ nhất định. Do đó, có thể xóa dần nghèo tuyệt đối, còn nghèo tương đối luôn xảy ra trong xã hội, vấn đề quan tâm ở đây là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo và hạn chế sự phân hóa giàu nghèo, giảm thiểu tới mức thấp nhất tỷ lệ nghèo tương đối. Dựa vào những khái niệm chung do các tổ chức quốc tế đưa ra và căn cứ vào thực trạng kinh tế - xã hội ở Việt Nam, trong chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói, giảm nghèo đến năm 2005 và 2010, Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993. Đồng thời vấn đề đói nghèo ở Việt Nam còn được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng, do đó bên cạnh khái niệm nghèo đói, ở nước ta còn có một số khái niệm sau: Đói: Là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cộng đồng. Hộ đói: Là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không được học hành đầy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà ở tạm bợ, rách nát...
  12. Hộ nghèo: Là hộ đói ăn không đủ bữa, mặc không đủ lành, không đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất... Xã nghèo: Là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, không có hoặc rất thiếu những cơ sở hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, nước sạch... trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao. Vùng nghèo: Là địa bàn tương đối rộng nằm ở những khu vực khó khăn hiểm trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao. Như vậy, đói nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện như: thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định... Qua nghiên cứu chúng ta nhận thấy đói nghèo có nguồn gốc căn nguyên từ kinh tế; nhưng với tư cách là hiện tượng tồn tại phổ biến ở các quốc gia trong tiến trình phát triển, đói nghèo thực chất là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, chứ không thuần túy chỉ là vấn đề kinh tế cho dù các tiêu chí đánh giá của nó trước hết và chủ yếu dựa trên các tiêu chí về kinh tế. Vì vậy, khi nghiên cứu những tác động ảnh hưởng đến thực trạng, xu hướng, cách thức giải quyết vấn đề đói nghèo cần phải đánh giá những tác động của nhân tố chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng có như vậy mới đề ra được các giải pháp đồng bộ cho công tác xoá đói, giảm nghèo ở nước ta. Quan niệm về hộ nghèo, xã nghèo là những thuật ngữ đã được người dân Việt Nam sử dụng từ ngàn đời xưa, còn thuật ngữ “xoá đói, giảm nghèo” chỉ mới xuất hiện trong những năm gần đây. Trong cuộc sống cộng đồng làng xã, người dân cũng đã có những nhận xét, so sánh về tình trạng, mức độ nghèo đói của các hộ gia đình, họ đánh giá nhà này giàu có, nhà kia khá giả, nhà nọ nghèo khổ…sự nghèo khó khá giả hoặc nghèo khổ theo cách nghĩ, cách đánh giá của người dân chủ yếu dựa vào các yếu tố quan sát được hoặc hiểu biết được các thông tin qua trao đổi hoặc giao tiếp hằng ngày. Các yếu tố mà họ sử dụng làm căn cứ cho những nhận xét chủ yếu là nhà ở, tài sản, tư liệu sản xuất, thu nhập, chi tiêu và đồ dùng sinh hoạt hằng ngày; đặc biệt là chi tiêu cho ăn mặc, khám chữa bệnh và học hành của con cái hoặc là nhà ở, tài sản và thu nhập hàng tháng hoặc hàng năm của các hộ gia đình. Cũng có khi họ chỉ nhìn vào chi tiêu của cuộc sống sinh hoạt hàng ngày hoặc thu nhập hàng tháng, hàng năm của hộ gia đình mà không cần quan sát yếu tố nhà ở, tài sản, trong trường
  13. hợp họ thấy nhà cửa, tài sản cũng không có gì đáng giá. Với cách đánh giá như vậy người ta gọi là đánh giá định tính của người dân và sau này hình thành phương pháp đánh giá định tính, hoặc là phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân. Sự quan sát và đánh giá mang tính chất định tính của người dân phần nào cũng đã phản ánh thực trạng giàu - nghèo của các hộ gia đình ở cộng đồng. Tuy vậy nó cũng nảy sinh những khó khăn khi xem xét các hộ nằm giữa các ranh giới nghèo và không nghèo, trong trường hợp này cách đánh giá định tính có thể đúng, nhưng chưa sát thực. Mặt khác, xét trên tổng thể cũng không thể biết được hộ nào nghèo đến mức nào, vì không có tiêu chí nào để đánh giá, hay nói cách khác là không có mốc để so sánh. Tương tự như vậy, khi người dân có những nhận xét, đánh giá xã này giàu, xã kia khá, xã nọ nghèo hoặc so sánh xã này giàu hơn xã kia hoặc xã này nghèo hơn xã kia hoặc xếp xã này vào nhóm nghèo, xã kia vào nhóm không nghèo. Tuy chỉ đánh giá định tính, song không phải không có những căn cứ nhất định, mặc dù đánh giá một xã là nghèo hay không nghèo phức tạp hơn nhiều so với đánh giá hộ gia đình. Căn cứ trực quan sinh động nhất mà người dân dễ nhận thấy là số hộ có nhà cửa khang trang, số hộ có mức sống khá giả, kết cấu hạ tầng của xã như đường giao thông, trạm xá, trường học, điện, hệ thống thuỷ lợi, chợ, công trình văn hoá…trình độ phát triển kinh tế thông qua thu nhập ngày công lao động hoặc thu nhập tháng/năm của hộ gia đình. Việc đánh giá như trên phần nào cũng phản ánh được mức độ giàu nghèo của một xã. Tuy nhiên, khi đánh giá một xã là nghèo hay không nghèo cũng rất khó vì thiếu những dẫn chứng mang tính định lượng có sức thuyết phục, nhất là các xã nằm ở ranh giới nghèo và không nghèo. Một xã được đánh giá là nghèo trên thực tế không phải không có các yếu tố cụ thể nào đó trội hơn xã không nghèo, ví dụ như trường học, trạm xá, trụ sở xã hoặc hệ thống thuỷ lợi, cũng có thể số hộ (tỷ lệ hộ) có nhà ngói ngang bằng với xã không nghèo… 1.1.1.2. Tiêu chí và phương pháp xác định hộ nghèo Đối với Việt Nam, dù là trong ký ức của người dân hay trong các tài liệu của chính phủ trước đây, quan niệm về cái nghèo chưa bao giờ được coi đơn thuần là vấn đề thu nhập vật chất. Cái nghèo ở đây luôn hàm chứa cả sự nghèo nàn về đạo đức, học vấn, truyền thống…
  14. Tuy nhiên, hiện nay khi nền kinh tế chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường với sự gia tăng các nguồn viện trợ từ nước ngoài (kể cả chính phủ và phi chính phủ) thì những khái niệm về giàu nghèo dựa trên thu nhập hiện đang được chính phủ và nhân dân sử dụng ngày càng nhiều, để xác định ai "giàu" và ai "nghèo". Đối với nước ta đã 5 lần điều chỉnh chuẩn nghèo từ 1993 đến 2006. * Giai đoạn 1993 - 1995: . Hộ đói: bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 13 kg đối với thành thị, dưới 8 kg đối với khu vực nông thôn. . Hộ nghèo: bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 20 kg đối với thành thị, dưới 15 kg đối với khu vực nông thôn. * Giai đoạn 1995 - 1997: . Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13 kg, tính cho mọi vùng. . Hộ nghèo là hộ có thu nhập như sau: + Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng. + Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng. + Thành thị: dưới 25kg/người/tháng. * Giai đoạn 1997 - 2000 (Công văn số 1751/LĐTBXH): . Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13 kg, tương đương 45.000 đồng (giá năm 1997, tính cho mọi vùng). . Hộ nghèo là hộ có thu nhập tuỳ theo từng vùng ở các mức tương ứng như sau: + Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng (tương đương 55.000 đồng). + Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng (tương đương 70.000 đồng).. + Thành thị: dưới 25kg/người/tháng (tương đương 90.000 đồng). * Giai đoạn 2001 - 2005 (Quyết định số 1143/2000/QĐ - LĐTBXH): + Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 80.000 đ/người/tháng. + Vùng nông thôn đồng bằng: dưới 100.000 đ/người/tháng. + Thành thị: dưới 150.000 đ/người/tháng.
  15. * Giai đoạn 2006 - 2010 (Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg): + Thành thị: 260.000 đ/người/tháng. + Vùng nông thôn (cho cả miền núi và đồng bằng): 200.000 đồng/ người/tháng. Trước năm 2006, chuẩn nghèo cho khu vực nông thôn đồng bằng cao hơn chuẩn nghèo cho khu vực nông thôn miền núi, mức chênh lệch là 1,25 lần. Khi áp dụng chuẩn nghèo chung cho vùng nông thôn đồng bằng và nông thôn miền núi điều này sẽ có lợi hơn cho người dân khu vực nông thôn miền núi. Đây cũng là sự thể hiện quan điểm bình đẳng hơn, toàn diện hơn khi xem xét xác định chuẩn nghèo. Khu vực thành thị chuẩn nghèo mới cao gấp 1,73 lần chuẩn nghèo cũ và tương đương với 2,8 USD một ngày tính theo sức mua tương đương năm 2005. Khu vực nông thôn đồng bằng chuẩn nghèo mới cao gấp 2 lần chuẩn nghèo cũ; khu vực nông thôn miền núi chuẩn nghèo mới cao gấp 2,5 lần và tương đương với 2,2 USD một ngày tính theo sức mua tương đương năm 2005. Phương pháp xác định chuẩn nghèo [7]: có 2 phương pháp xác định chuẩn nghèo. * Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào nhu cầu chi tiêu Đây là phương pháp do các chuyên gia Ngân hàng thế giới (WB) khởi xướng và cũng là phương pháp được nhiều quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế công nhận và sử dụng trong việc xác định chuẩn nghèo ở cấp quốc gia hoặc sử dụng trong các dự án lớn. Nội dung cơ bản của phương pháp này là dựa vào nhu cầu chi tiêu để bảo đảm các nhu cầu cơ bản của con người về ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội. Bước một là xác định nhu cầu chi tiêu cho lương thực thực phẩm (nhu cầu ă n uống để tồn tại). Để xác định được nhu cầu này người ta xác định rổ hàng hoá để bình quân hàng ngày một người có được 2.100Kcal, rổ hàng hoá khoảng 40 mặt hàng. (rổ hàng hoá tính cho Việt Nam cũng 40 mặt hàng và xếp thành 16 nhóm hàng hoá: gạo các loại; lương thực khác quy gạo; thịt các loại; mở, dầ u ăn; tôm cá; trứng gia cầm các loại; đậu phụ; đường, mật, sữa, bánh kẹo mức; n ước mắm, nước chấm; chè, cà phê; rượu, bia; đồ uống khác; đỗ các loại; lạc, vừng; rau các loại; quả chín); từ rổ hàng hoá này người ta xác định được số tiền cần thiết chi tiêu cho lương thực thực phẩm. Tuy nhiên, giá cả của rổ hàng hoá ở thành thị, nông thôn và các vùng rất khác nhau, vì vậy người ta phải lấy giá trị trung bình của rổ hàng hoá này.
  16. Bước hai là xác định nhu cầu chi tiêu lương thực thực phẩm (7 nhu cầu cơ bản còn lại). Thông thường chi cho lương thực, thực phẩm chung của dân cư chiếm khoảng 60% tổng chi tiêu, còn 40% là nhu cầu phi lương thực thực phẩm. Đối với nhóm giàu tỷ lệ tương ứng là 50% và 50%; đối với nhóm nghèo 70% chi tiêu cho nhu cầu lương thực, thực phẩm, còn 30% chi tiêu cho phi lương thực, thực phẩm (ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội). Bước ba là xác định tổng nhu cầu chi tiêu cho lương thực, thực phẩm (LTTP) và phi lương thực, thực phẩm. Tổng chi tiêu = chi tiêu cho LTTP + chi tiêu cho phi LTTP Giá trị bằng tiền của tổng chi tiêu được gọi là đường nghèo chung hay còn gọi là chuẩn nghèo cao. Giá trị bằng tiền của chi tiêu cho lương thực, thực phẩm là đường nghèo lương thực, thực phẩm hay còn gọi là chuẩn nghèo thấp. Cũng bằng phương pháp trên, theo Tổng cục Thống kê đã chuyển từ mức chi tiêu sang mức thu nhập để mọi người dễ hiểu và thuận lợi hơn cho việc điều tra khảo sát và tính toán tỷ lệ nghèo đói. Những người có thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo chung được xếp vào nhóm người nghèo, còn những ai có thu nhập thấp hơn mức chi tiêu cho lương thực, thực phẩm (đường nghèo LTTP) thì được xếp vào nghèo về LTTP. Một điều đáng lưu ý là khi xác định người nghèo phải gắn chặt với tính thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình. Tuy vậy tỷ lệ hộ nghèo không đồng nghĩa với tỷ lệ người nghèo, thông thường trong một quốc gia thì tỷ lệ người nghèo bao giờ cũng cao hơn tỷ lệ hộ nghèo. * Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào so sánh với thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình Phương pháp này cũng rất khoa học và tương đối đơn giản, một số nước phát triển ở Châu Á và Mỹ đã sử dụng, họ cho rằng người nghèo là những người có thu nhập không đủ để chi phí cho lương thực, thực phẩm và các dịch vụ xã hội. Do vậy, người ta xác định chuẩn nghèo bằng khoảng 1/2 thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình trong cả nước; tuy nhiên Mỹ và Nhật Bản còn chia cụ thể cho các đối tượng khác nhau, cụ thể chuẩn nghèo vào năm 2001 ở Mỹ đối với người sống một mình, không có người ăn theo
  17. dưới 65 tuổi là 8,494 USD; đối với gia đình 9 người là 39,223 USD; đối với gia đình 4 người là 7,940 USD [22]. Tuy nhiên có tài liệu khác do trung tâm phát triển nguồn nhân lực Châu Á phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu dân số và Nguồn lao động, Bộ LĐTB&XH cho rằng “theo quan niệm chung của nhiều nước, hộ nghèo có mức thu nhập thấp dưới 1/3 mức trung bình của xã hội", theo chuẩn này thì vào năm 1993 cả thế giới có 1,1 tỷ người nghèo [6]. Theo đề tài Phương pháp xác định chuẩn nghèo, do Bộ Thương binh Lao động và xã hội thực hiện năm 2005, thì việc lấy chuẩn nghèo bằng 1/2 hay 1/3 thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình là phụ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi nước, song biên độ dao động của chuẩn nghèo sẽ nằm trong 1/2 và 1/3 mức thu nhập bình quân, nước phát triển (nước giàu) thu nhập cao, chi phí đắt đỏ có thể lấy mức 1/2, nước chậm phát triển có thể lấy mức 1/3; nước đang phát triển có thể lấy ở khoảng giữa của 1/2 và 1/3 mức thu nhập bình quân đầu người. Nước ta được xếp vào nhóm nước đang phát triển, vào thời điểm năm 2002 thu nhập bình quân đầu người là 4.281 nghìn đồng, thì chuẩn nghèo là 1.875 nghìn đồng, tương đương với 156,250 nghìn đồng/người/tháng. Năm 2005 ước tính thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình là 5.183 nghìn đồng/người/năm (tính theo tốc độ tăng bình quân của thời kỳ 1998 - 2002 là 6,58% một năm) thì chuẩn nghèo là 2.159 nghìn đồng/năm, tương đương 179,9 nghìn đồng/tháng. Công thức tính cụ thể cho nước ta như sau [7]: CNj = (TNj /2 + TNj /3): 2 Trong đó: - CNj là chuẩn nghèo năm thứ j - TNj là thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình năm thứ j Trong trường hợp này chuẩn nghèo được lấy ở khoảng giữa của 1/2 và 1/3 thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình. Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán và nó gắn rất chặc với tốc độ tăng thu nhập của dân cư, ít tốn kém kinh phí vì có thể sử dụng số liệu có sẵn, các địa phương cũng tự tính được chuẩn nghèo của mình. 1.1.1.2. Nguyên nhân ảnh hưởng đến đói nghèo
  18. Nghèo đói là một hiện tượng kinh tế - xã hội, nó vừa là vấn đề lịch sử để lại, vừa là vấn đề phát triển mà hầu hết các quốc gia đều vấp phải. Nó đụng chạm trực tiếp đến cuộc sống của con người, từ cá nhân, gia đình đến cộng đồng xã hội. Mỗi quốc gia, ở các mức độ phát triển khác nhau, đều phải quan tâm giải quyết vấn đề đói nghèo để vượt qua những trở ngại của sự phát triển nhằm vươn tới sự phồn thịnh về kinh tế và từng bước đạt tới công bằng xã hội. Có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân gây ra đói nghèo, song tựu trung lại, nghèo đói ở các nước đang phát triển chủ yếu là do các nguyên nhân cơ bản sau đây: Thứ nhất, nguồn lực hạn chế và nghèo nàn Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói và thiếu nguồn lực. Người nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì họ không thể đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của họ. Ngược lại, nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi nghèo đói. Các hộ nghèo có rất ít đất đai và tình trạng không có đất sản xuất. Thiếu đất đai ảnh hưởng đến việc bảo đảm an ninh lương thực của người nghèo cũng như khả năng đa dạng hóa sản xuất, để hướng tới sản xuất các loại cây trồng với giá trị cao hơn. Đa số người nghèo lựa chọn phương án sản xuất tự cung, tự cấp, họ vẫn giữ các phương pháp sản xuất truyền thống, thiếu cơ hội thực hiện các phương án sản xuất mang lợi nhuận cao hơn. Do vẫn thực hiện theo phương pháp sản xuất truyền thống nên giá trị sản phẩm và năng suất các loại cây trồng, vật nuôi còn thấp, thiếu tính cạnh tranh trên thị trường và vì vậy đã đưa họ vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo khó. Bên cạnh đó, đa số người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch vụ sản xuất như khuyến nông, khuyến ngư, bảo vệ động, thực vật; nhiều yếu tố đầu vào sản xuất như: điện, nước, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón... đã làm tăng chi phí, giảm thu nhập tính trên đơn vị sản phẩm. Người nghèo cũng thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng. Sự hạn chế của nguồn vốn là một trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi mới sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ, giống mới... Một mặt, do không có tài sản thế chấp, những người nghèo, phải dựa vào tín chấp với các khoản vay nhỏ, hiệu quả thấp đã làm giảm khả năng hoàn trả vốn. Mặt khác, đa số người nghèo không có kế hoạch sản xuất cụ thể, hoặc sử
  19. dụng các nguồn vốn vay không đúng mục đích, do vậy họ khó có điều kiện tiếp cận các nguồn vốn và cuối cùng sẽ làm cho họ càng nghèo hơn. Bên cạnh đó, việc thiếu các thông tin, đặc biệt là các thông tin về pháp luật, chính sách và thị trường, đã làm cho người nghèo ngày càng trở nên nghèo hơn. Thứ hai, trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định Những người nghèo phần lớn là những người có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt, ổn định. Mức thu nhập của họ hầu như chỉ bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có điều kiện để nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát khỏi cảnh nghèo khó. Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái... không những của thế hệ hiện tại mà cả thế hệ trong tương lai. Suy dinh dưỡng ở trẻ em và trẻ sơ sinh là nhân tố ảnh hưởng khả năng đến trường của con em các gia đình nghèo nhất và sẽ làm cho việc thoát nghèo thông qua giáo dục trở nên khó khăn hơn. Chi phí cho giáo dục đối với người nghèo còn lớn, chất lượng giáo dục mà người nghèo tiếp cận được còn hạn chế, gây khó khăn cho họ trong việc vươn lên thoát nghèo. Tỷ lệ nghèo giảm xuống khi trình độ giáo dục tăng lên. phần lớn số người nghèo làm các công việc trong nông nghiệp có mức thu nhập rất thấp. Trình độ học vấn thấp hạn chế khả năng kiếm việc làm trong khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao hơn và ổn định hơn. Thứ ba, các nguyên nhân về nhân khẩu Quy mô hộ gia đình là "mẫu số" quan trọng có ảnh hưởng đến mức thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ. Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của nghèo đói. Tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình nghèo còn rất cao. Đông con là một trong những đặc điểm của các hộ gia đình nghèo. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sinh cao trong các hộ nghèo là do họ không có kiến thức cũng như điều kiện tiếp cận với các biện pháp sức khỏe sinh sản. Tỷ lệ phụ nữ nghèo đặt vòng tránh thai thấp, tỷ lệ nam giới nhận thức đầy đủ trách nhiệm kế hoạch hóa gia đình và sử dụng các biện pháp tránh thai chưa cao. Mức độ hiểu biết của các cặp vợ chồng nghèo về vệ sinh, an toàn tình dục, cũng nh ư mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói, sức khỏe sinh sản và gia tăng nhân khẩu còn hạn chế.
  20. Tỷ lệ người ăn theo cao trong các hộ nghèo còn có nghĩa là nguồn lực về lao động rất thiếu, đây cũng chính là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói của họ. Thứ tư, nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác. Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày và những biến động bất thường xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộng đồng. Do nguồn thu nhập của họ rất thấp, bấp bênh, khả năng tích luỹ kém nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, mất việc làm, thiên tai, dịch hoạ, mất nguồn lao động, mất sức khỏe...). Với khả năng kinh tế mong manh của các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn lớn trong cuộc sống của họ. Các rủi ro trong sản xuất kinh doanh đối với người nghèo cũng rất cao, do họ không có trình độ tay nghề và thiếu kinh nghiệm làm ăn. Khả năng đối phó và khắc phục các rủi ro của người nghèo cũng rất kém do nguồn thu nhập hạn hẹp làm cho hộ gia đình mất khả năng khắc phục rủi ro và có thể còn gặp rủi ro hơn nữa. Mặt khác, tình trạng số hộ tái đói nghèo trong tổng số hộ vừa thoát khỏi đói nghèo vẫn còn xảy ra, do không ít số hộ đang sống bên ngưỡng đói nghèo và rất dễ bị tác động bởi các yếu tố rủi ro như thiên tai, mất việc làm, ốm đau,... Thứ năm, bất bình đẳng giới ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của phụ nữ và trẻ em. Bất bình đẳng giới làm sâu sắc hơn tình trạng nghèo đói trên tất cả các mặt. Ngoài những bất công mà cá nhân phụ nữ và trẻ em gái phải chịu đựng do bất bình đẳng thì còn có những tác động bất lợi đối với gia đình. Phụ nữ có ít cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng và đào tạo, thường gặp nhiều khó khăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyền quyết định trong hộ gia đình và thường được trả công lao động thấp hơn nam giới ở cùng một loại việc. Phụ nữ có học vấn thấp dẫn tới tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và bà mẹ cao hơn, sức khỏe của gia đình bị ảnh hưởng và trẻ em đi học ít hơn. Bất bình đẳng giới còn là yếu tố làm gia tăng tỷ lệ sinh và tăng tỷ lệ lây truyền HIV do phụ nữ thiếu tiếng nói và khả năng tự bảo vệ trong quan hệ tình dục. Thứ sáu, bệnh tật và sức khỏe yếu kém cũng là yếu tố đẩy con người vào tình trạng nghèo đói trầm trọng.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản