Luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp xoá đói giảm nghèo cho hộ nông dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”

Chia sẻ: Vu Tuan Phong Phongvan | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:35

0
825
lượt xem
441
download

Luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp xoá đói giảm nghèo cho hộ nông dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đói nghèo là một vấn đề mang tính chất toàn cầu. Nó không chỉ là một thực tế đang diễn ra ở nước ta mà còn là một tồn tại phổ biến trên toàn thế giới và trong khu vực. Ngay cả những nước phát triển cao, vẫn còn một bộ phận dân cư sống ở mức nghèo khổ. So với năm 2008, số người nghèo trên thế giới năm 2009 đã tăng trên 100 triệu người. Thủ phạm chính của tình trạng này là cuộc khủng hoảng lương thực kết hợp với suy thoái kinh tế toàn cầu....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp xoá đói giảm nghèo cho hộ nông dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”

  1. Luận văn Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp xoá đói giảm nghèo cho hộ nông dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
  2. Contents PHẦN MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 3 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ..................................................................... 3 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài .............................................................................. 5 2.1 Mục tiêu chung...................................................................................................... 5 2.1 Mục tiêu cụ thể ...................................................................................................... 5 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ......................................................... 5 3.1 Đối tượng nghiên cứu ........................................................................................... 5 3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài .............................................................................. 5 3.2.1 Không gian nghiên cứu........................................................................................ 5 3.2.2 Thời gian nghiên cứu ........................................................................................... 5 3.2.3 Nội dung nghiên cứu ........................................................................................... 5 4. Đóng góp mới của luận văn.................................................................................... 5 5. Bố cục của luận văn. ............................................................................................... 6 Phần mở đầu ................................................................................................................ 6 Chương II: Thực trạng nghèo đói của huyện Võ Nhai .................................................. 6 CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............. 7 1.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài ...................................................................................... 7 1.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài ................................................................................ 11 1.2. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 29 1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu .......................................................................................... 29 1.2.2 Các phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 30 1.2.3 Hệ số các chỉ tiêu nghiên cứu .......................................................................... 34 CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI CỦA HUYỆN VÕ NHAI............... 35 2.1 Tình hình cơ bản của huyện Võ Nhai ................................................................ 35 2.2 Thực trạng nghèo đói của huyện Võ Nhai ........................................................ 35 CHƯƠNG II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÓ ĐÓI GIẢM NGHÈO ................................. 35 3.2 Một số giải pháp xoá đói giảm nghèo cho hộ nông dân .................................... 35
  3. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Đói nghèo là một vấn đề mang tính chất toàn cầu. Nó không chỉ là một thực tế đang diễn ra ở nước ta mà còn là một tồn tại phổ biến trên toàn thế giới và trong khu vực. Ngay cả những nước phát triển cao, vẫn còn một bộ phận dân cư sống ở mức nghèo khổ. So với năm 2008, số người nghèo trên thế giới năm 2009 đã tăng trên 100 triệu người. Thủ phạm chính của tình trạng này là cuộc khủng hoảng lương thực kết hợp với suy thoái kinh tế toàn cầu. Các nước thành viên của Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) đã cam kết đến năm 2015 giảm một nửa số người bị đói trên thế giới. Nhưng từ đó đến nay, số người bị đói trên thế giới đã tăng từ 850 triệu người lên gần một tỷ người và cứ 6 giây có một đứa trẻ bị chết đói. Theo các bản báo cáo của FAO, từ nay đến năm 2050, sản xuất nông nghiệp phải tăng 70% mới có thể có đủ lương thực để nuôi 9 tỷ người trên thế giới. Theo Ngân hàng Thế giới, giá lương thực lên cao làm tăng ngay số người nghèo đói lên và sự giảm sút về thu nhập trên toàn cầu cũng là một nguyên nhân làm cho tình trạng nghèo đói tồi tệ hơn. Điều trớ trêu là hầu hết những người nghèo đói của thế giới lại là nông dân, những người sản xuất ra lương thực. Thực tế, hơn 60% người dân châu Phi làm việc ở nông thôn, trồng trọt và chăn nuôi súc vật, chỉ kiếm được chưa đầy 1 USD/ngày. Năng suất các vụ mùa của họ chỉ bằng 20% năng suất các vụ mùa ở châu Âu và Mỹ, bởi vì họ không tiếp cận được với tất cả những điều kiện cần thiết để tăng sản lượng như giống, phân bón, nước, điện, kỹ thuật và khả năng tiếp cận thị trường. Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường trong sản xuất nông nghiệp thực hiện giao khoán đến hộ đã nhảy vọt từ nước đang thiếu lương thực vươn lên thành nước xuất khẩu gạo, và giữ vị trí trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới từ đó đến nay, an ninh lương thực đã vững vàng. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn tỷ lệ đói nghèo (bao gồm cả thiếu lương thực) mà đa số phân bố ở các xã thuộc chương trình 135 (xã nghèo). Đầu thập niên 1990, Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ đói nghèo đã được nhận rõ, mà trước hết là số liệu trẻ em suy dinh dưỡng đã ở mức báo động (gần 50%). Ngay đầu năm 1991, vấn đề xoá đói giảm nghèo đã đề ra trong các diễn đàn, các nghiên cứu, và triển khai thành phong trào xoá đói giảm nghèo. Hiện nay, theo chuẩn nghèo quốc gia thì tỷ lệ số hộ nghèo toàn quốc đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 14,8% năm 2007; theo chuẩn quốc tế thì từ 58%
  4. năm 1993 xuống còn 24% vào năm 2004, năm 2008 13,4% và còn 12,3% vào năm 2009. Việt Nam đã sớm đạt mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được nước ta cũng còn rất nhiều huyện, xã chưa giải quyết tận gốc vấn đề nghèo đói. Những kết quả đạt được chưa mang tính bền vững bởi vì thu nhập của người dân hầu hết đều xoay quanh ở mức cận nghèo. Do vậy rất dễ rơi vầo tình trạng tái nghèo khi gập những tác động không thuận lợi tới đời sống và sản xuất của họ. Đặc biệt đối với hộ nông dân miền núi, nơi có những khó khăn về mặt địa hình, kinh tế xã hội, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng kém phát triển, trình độ sản xuất hàng hoá và tiếp cận thị trường còn hạn chế... Hiện nay, trong tổng số những người nghèo của cả nước, có tới 85% số người nghèo tập trung ở nông thôn và 1/3 trong số đó tập trung tại khu vực miền núi. để đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nước ta từ nay đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp thì vấn đề xoá đói giảm nghèo cần được ưu tiên thực hiện hàng đầu. Xoá đói giảm nghèo cũng như chữa bệnh, điều cốt lõi là phải tìm ra được đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói? Trong đó, nguyên nhân nào là nguyên nhân chính? Từ đó đề ra được những giải pháp đúng dắn nhất, hiệu quả nhất nhằm giúp người dân xoá nghèo. Võ Nhai là huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên, trung tâm huyện cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 37 km về phía Đông - Bắc. Toàn huyện có 14 xã, 1 thị trấn với 172 xóm, bản gồm 16.296 hộ dân. Hiện nay 11/15 xã là xã có hoàn cảnh kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo chương trình 135. Mặc dù được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm đầu tư, Võ Nhai vẫn là huyện nghèo nhất của tỉnh Thái Nguyên. Võ Nhai là huyện vùng cao nên thu nhập bình quân trên đầu người còn thấp, chỉ đạt khoảng 2.100.000 đồng/người/năm. Năm 2006 toàn huyện có 7.237 hộ nghèo chiếm 52,4%, đến năm 2009 còn 4.079 hộ nghèo chiếm 25,03%. Do vậy xoá đói giảm nghèo của huyện Võ Nhai vẫn là một yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi địa phương cũng như Trung ương phải sớm tìm gia những giải pháp hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập tiến tới “thoát nghèo”. Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp xoá đói giảm nghèo cho hộ nông dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”
  5. 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2.1 Mục tiêu chung Đề tài nghiên cứu nhằm chỉ ra được những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến đói nghèo của các hộ và đề xuất mộ số giải pháp thích hợp nhằm xoá đói giảm nghèo cho hộ nông dân huyện Võ Nhai. 2.1 Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hoá được lý luận và thực tiễn về xoá đói giảm nghèo. - Đánh giá được thục trạng nghèo đói của huyện Võ Nhai. - Chỉ ra được những nguyên nhân đích thực dẫn đến nghèo đói của hộ nông dân huyện Võ Nhai. - Đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm xoá đói giảm nghèo cho hộ nông dân huyện Võ Nhai. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hính sản xuất và nghèo đói của các hộ nông dân huyện Võ Nhai. 3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3.2.1 Không gian nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. 3.2.2 Thời gian nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu những số liệu sơ cấp năm 2009 và số liệu thứ cấp thời kỳ 2006-2009, một số số liệu năm 2010. 3.2.3 Nội dung nghiên cứu Đề tài được giới hạn trong phân tích nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập và nghèo đói của hộ nông dân, qua đó đề xuất một số giải pháp cơ bản giúp các hộ nông dân huyện Võ Nhai xoá đói giảm nghèo. 4. Đóng góp mới của luận văn - Các giải pháp đưa ra nhằm giúp các hộ nông dân pháp triển sản xuất, tăng thêm thu nhập và xoá đói giảm nghèo được xây dựng thông qua phân tích, xá định các
  6. nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, do vậy các giải pháp sẽ sát với thực tế và phù hợp với điều kiện của nhóm hộ hơn. - Ứng duụng hàm sản xuất Cobb-Douglas và phân tích sự tác động của các yếu tố tới thu nhập cho phép đưa ra các kết luận chính xác về sự tác động đó. 5. Bố cục của luận văn. Bố cục của luận văn gồm 3 chương, ngoài phần mở đầu và kết luận. Phần mở đầu Chương I: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu Chương II: Thực trạng nghèo đói của huyện Võ Nhai Chương III: Phương hướng, mục tiêu và các giải pháp xoá đói giảm nghèo cho hộ nông dân huyện Võ Nhai. Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục
  7. CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 1.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 1.1.1.1 Khái niệm về nghèo đói Trong cuộc sống hàng ngày của con người, để tồn tại được thì cần phải giải quyết được những nhu cầu thiết yếu nhất. Những nhu cầu này được chia thành hai dạng, đó là nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. - Nhu cầu về vật chất thiết yếu: ăn, ở, mặc, đi lại - Nhu cầu về tinh thần thiết yếu: Giáo dục, y tế, văn hoá và giao tiếp xã hội. Những nhu cầu này phải được đáp ứng ở một mức độ nhất định nào đó, mà người ta gọi là mức sống tối thiểu của cộng đồng. Nghĩa là nếu không đạt được đến mức này, con người không thể đảm bảo cuộc sống để phát triển một cách bình thường được. Do vậy, khi nghiên cứu đói nghèo, chúng ta phải nghiên cứu đến nhu cầu, hay còn gọi là mức sống tối thiểu của người dân. Mặt khác, nghèo đói là một khái niệm mang tính chất động, nó biến đổi tuỳ thuộc vào không gian, thời gian và xuất phát điểm của mỗi địa phương hay mỗi quốc gia. Tuỳ thuộc vào từng quốc gia, từng thời điểm khác nhau, cũng như quan điểm nghiên cứu khac nhau mà nghèo đói được quan niệm khác nhau. Từ trước đến nay có nhiều quốc gia, nhiều tổ chức trên thế giới đã đưa ra những quan điểm của mình về nghèo đói, các quan điểm này phản ánh mục tiêu nghiên cứu, cũng như phản ánh tình trạng nghèo của các nước trên thế giới. Tiêu chí chung nhất đề xác định đói nghèo vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người. Sự khác nhau chung nhất là thoả mãn ở mức độ cao hay mức độ thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình dộ phát triển kinh tế xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia. Cụ thể một số khái niệm về nghèo đói như sau: Tại hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”.
  8. Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen - Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “ Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đôla (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”. Tuy vậy, cũng có quan điểm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) - ông Abapia Sen, người được giải Nôben về kinh tế năm 1998, cho rằng: “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng”. Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và của người giầu, người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội lựa chon của mỗi người trong cuộc sống, thông thường người giầu có cơ hội lựa chon nhiều hơn, người nghèo có cơ hội lựa chon ít hơn. Quan niệm của chính người nghèo nước ta cũng như một số quốc gia khác trên thế giới về nghèo đói đơn giản hơn, trực diện hơn. Một cuộc phỏng vấn có sự tham gia của người dân ở miền núi nói rằng: “Nghèo đói là gì ư? Là hôm nay con tôi ăn khoai, ngày mai con tôi không biết ăn gì? Bạn nhìn nhà cửa của tôi thì biết, trong nhà nhìn thấy mặt trời, khi mưa thì trong nhà cũng như ngoài trời”. Một số người ở tỉnh Hà Tĩnh thì trả lời: “Nghèo đói đồng nghĩa với nhà ở bằng tranh tre, nứa lá tạm bợ, xiêu vẹo, dột nát; không đủ đất đai sản xuất, không có trâu bò, không có tivi, con cái thất học, ốm đau không có tiền đi khám bệnh...” Quan điểm nghèo đói của Việt Nam: Qua nhiều cuộc điều tra, khảo sát, nghiên cứu, các nhà nghiên cứu và quản lý của các Bộ đã đi đến thống nhất cần có một khái niệm riêng, chuẩn mực riêng cho nghèo đói ở Việt Nam: Nghèo, là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thoả mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện Đói, là tình trạng một bộ phận dận cư nghèo, có mức sống dưới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. Các quan niệm trên đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo: - Không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người. - Có mức sống thấp hơn mức sông trung bình của cộng đồng dân cư. - Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
  9. Tuy nhiên, bên cạnh những quan niệm về nghèo đói đã trình bày ở trên, tuỳ thuộc vào những giai đoạn, những hoàn cảnh khác nhau cũng như những mục tiêu nghiên cứu khác nhau mà người ta có những cách tiếp cận khác nhau về nghèo đói. Hiện nay, có thể tiếp cận nghèo đói theo các hướng sau: - Tiếp cận về dinh dưỡng: người nghèo là những người có mức tiêu thụ Calo đạt dưới 2.100 kcalo/người/ngày. Chỉ tiêu này do Tổ chức Y tế thế giới xây dựng cho mỗi thể trạng trung bình của con người. Chỉ tiêu này áp dụng cho những nước phát triển cũng như các nước đang phát triển. - Tiếp cận về thu nhập: người nghèo la những người có mức thu nhập không đảm bảo cuộc sống và chi tiêu. Trong cuộc sống hàng ngày, ngoài những nhu cầu về lương thực và thực phẩm ra, con người có nhiều những nhu cầu cần phải đảm bảo khác như nhà ở, mặc, y tế, giáo dục... Do vậy nếu thu nhập không đảm bảo trang trải được cuộc sống về chi tiêu thì được coi là nghèo đói. - Tiếp cận về xã hội: người nghèo là những người không được tiếp cận về những dịch vụ công cộng như: y tế, giáo dục, vui chơi giải trí, pháp luật... Kinh tế ngày càng phát triển, đời sống của người dận không ngừng được nâng lên về mọi mặt. Khi đó ngoài những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, con người cần phải đáp ứng nhiều những nhu cầu khác. Đánh giá về nghèo không chỉ đơn thuần chỉ về dinh dưỡng mà phải bao gồm những yếu tố khác nữa. - Người nghèo là những người dễ bị tổn thương. Người nghèo bị tổn thương bời những rủi ro trong sản xuất và đời sống. Khả năng hồi phục sau những rủi ro của người nghèo là hạn chế hơn rất nhiều so với những người khá giả. Trên đây là một số khái niệm về nghèo đói cũng như một số hướng tiếp cận nghèo đói. Tuỳ thuộc vào từng thời kỳ nghiên cứu cũng như phương hướng nghiên cứu khác nhau mà có cách tiếp cận cho phù hợp. Trong đề tài này, tác giả công nhận khái niệm nghèo đói của Việt Nam, đồng thời hướng tiếp cận nghèo đói đối với người dân là tiếp cận về kinh tế, có nghĩa là tiếp cận về thu nhập của người dân. 1.1.1.2 Tiêu chí đánh giá ghèo đói Chuẩn nghèo là một khái niệm động, nó biến động theo không gian và thời gian. - Về không gian: Nó biến đổi theo trình độ kinh tế - xã hội của từng vùng hay từng quốc gia.
  10. - Về thời gian: Chuẩn nghèo cũng có sự biến động lớn và nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của con người theo từng giai đoạn lịch sử, vì kinh tế xã hội phát triển thì đời sống của con người cũng được cải thiện tốt hơn, tất nhiên không phải là tất cả các nhóm dân cư đều có tốc độ cải thiện giống nhau, thông thường thì nhóm không nghèo có tốc độ mức tăng thu nhập, mức sống cao hơn nhóm nghèo. Có rất nhiều tiêu chí để đánh giá hộ nghèo, ở Việt Nam phổ biến nhất hiện nay thường dùng phương pháp dựa trên thu nhập của hộ. Theo tiêu chí này Bộ Lao động - thương binh và xã hội đã đưa ra chuẩn nghèo theo từng giai đoạn kinh tế xã hội khác nhau, mức chuẩn nghèo này được xây dựng khác nhau cho thành thị và nông thôn sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng thời kỳ. Cụ thể, chuẩn nghèo của Bộ Lao động – thương binh và xã hội qua các thời kỳ được thể hiện qua bảng sau: Bảng 1.1: Chuẩn mực đánh giá nghèo đói qua các giai đoạn Loại Thu nhập bình quân/ người/ tháng qua các giai đoạn Địa bàn hộ 1993-1995 1995-1997 1997-2000 2001-2005 Mọi vùng
  11. Tuy nhiên, với tình hình lạm phát như hiện nay chuẩn nghèo trên chưa đánh giá được đúng như thực tế. Chuẩn mực nghèo đói của Việt Nam vẫn còn cách quá xa sơ với chuẩn mực do Ngân hàng Thế giới đưa ra với ngưỡng 1 USD/người/ngày. Do đó Việt Nam cần phải nỗ lực hơn nữa trong công cuộc xoá đói giảm nghèo để xây dựng chuẩn nghèo tiến tới ngưỡng chung của Thế giới. 1.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 1.1.2.1 Tình hình nghèo đói trên thế giới Thực trạng nghèo đói đang diễn ra rất phổ biến và gay gắt ở tất cả mọi nơi trên thế giới. Từ những nước có nền kinh tế chậm phát triển, đang phát triển và phát triển. Nhưng nghèo đói tập trung nhiều nhất ở các nước có nền kinh tế chậm phát triển và đang phát triển. Trong những năm qua tình trạng nghèo đói trên toàn thế giới đã được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới vẫn có khoảng 1 tỷ người nghèo đói và vẫn đang có xu hướng tăng thêm, đây chính là hệ quả không thể tránh khỏi của cuộc khủng hoảng lương thực và tài chính thế giới. Số nghèo đói trên thế giới tập trung chủ yếu tại khu vực Châu Á và Châu Phi. Số người bị thiếu đói đã tăng lên 642 triệu ở khu vực châu Á Thái Bình Dương. Còn ở châu Phi và Nam Sahara, con số này là 265 triệu và ở Mỹ Latinh là 53 triệu. Con số đó ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi cũng đã lên tới 42 triệu người. Trong khi đó, nạn đói cũng bắt đầu "tăng nhiệt" ở các nước phát triển với khoảng 15 triệu người. Theo Ngân hàng Thế giới, giá lương thực lên cao làm tăng ngay số người nghèo đói lên và sự giảm sút về thu nhập trên toàn cầu cũng là một nguyên nhân làm cho tình trạng nghèo đói tồi tệ hơn. Điều trớ trêu là hầu hết những người nghèo đói của thế giới lại là nông dân, những người sản xuất ra lương thực. Thực tế, hơn 60% người dân châu Phi làm việc ở nông thôn, trồng trọt và chăn nuôi súc vật, chỉ kiếm được chưa đầy 1 USD/ngày. Năng suất các vụ mùa của họ chỉ bằng 20% năng suất các vụ mùa ở châu Âu và Mỹ, bởi vì họ không tiếp cận được với tất cả những điều kiện cần thiết để tăng sản lượng như giống, phân bón, nước, điện, kỹ thuật và khả năng tiếp cận thị trường. Khi giá lương thực giảm đi, người nông dân lại là những người bị tổn thương nhất do nông sản là những thứ họ phải bán để lấy tiền trang trải cho các khoản chi tiêu khác. Ngay như nước Mỹ, đất nước có nền kinh tế hàng đầu thế giới, tỷ lệ dân số Mỹ sống dưới mức nghèo khổ ngày càng tăng. Theo tính toán của Cục Thống kê Mỹ, trong năm 2008 tỷ lệ nghèo đói chính thức trong tổng số dân nước này sẽ tăng từ 12,5% lên 15,3%, tương đương 45,7 triệu người. Thu nhập bình quân đầu người giảm xuống còn
  12. 50.303 USD và 9,8 triệu hộ phải sống nhờ vào thực phẩm cứu trợ. Do suy thoái, khoảng cách giàu nghèo tại Mỹ tăng lên mức cao nhất trong lịch sử. Năm 2008, những người giàu nhất, có thu nhập cao hơn 11,4 lần so với nhóm cận nghèo hoặc dưới mức nghèo khổ trong khi đó năm 2007 khoảng cách này là 11,2 lần. Như vậy, thế giới mặc dù đã thu được nhiều thành công trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị, giảm xung đột sắc tộc... đời sống của người dân một số khu vực đã được nâng lên đáng kể. Tuy nhiên, vấn đề nghèo đói vẫn luôn hiện hữu trên các quốc gia. Nghèo đói không chỉ là vấn đề của các quốc gia chậm phát triển và đang phát triển mà cũng là vấn đề của các quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu trên thế giới. Điều đó cho thấy, để xoá đói giảm nghèo được thành công , không chỉ có sự nỗ lực của riêng từng quốc gia mà đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả các quốc gia trên thê giới. 1.1.2.2 Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Ấn Độ Từ năm 1991, Ấn Độ đã mở cửa thị trường, cải cách kinh tế và đạt nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, hiện nay, nghèo đói vẫn là một vấn đề nghiêm trọng, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, làm chậm bước tiến của Ấn Độ trong nhiều lĩnh vực. Biểu hiện dễ thấy nhất của nghèo đói tại Ấn Độ là thu nhập quốc dân chỉ mới đạt 820 USD/người trong năm 2006 và tính theo sức mua tương đương (PPP) mới đạt 3.800 USD/người. 70% dân số sống ở nông thôn, trong đó chỉ có 56% hộ được sử dụng điện, 52% số hộ không có nhà vệ sinh, 85% số hộ được dùng nước sạch, 61% dân số biết chữ. Chỉ số về giáo dục của Ấn Độ là 0,61, trong khi đó, chỉ số này ở Dim-ba-bu-ê là 0,77, Trung Quốc là 0,84. Về chỉ số phát triển con người (HDI), Ấn Độ đứng thứ 126/177 nước. 47% trẻ em dưới 5 tuổi ở đây bị thiếu cân (Trung Quốc chỉ có 8%, Dim- ba-bu-ê là 13%). Chênh lệch thu nhập cũng là vấn đề lớn: 39% dân số nông thôn chỉ sở hữu 5% số tài sản, trong khi đó, 8% những người giàu có chiếm tới 46% số tài sản cả nước. Những người nghèo nhất ở nông thôn Ấn Độ chỉ chi tiêu 0,2 USD/ngày. Chỉ số đói toàn cầu (GHI) của Ấn Độ đứng thứ 96/119 nước, trong khi đó, Nê-pan đứng thứ 92, Pa-ki-xtan ở vị trí thứ 88. 80% dân số sống dưới 2 USD/người/ngày. Nghèo đói dẫn tới 15 triệu trẻ em Ấn Độ phải lao động kiếm sống - là mức cao nhất thế giới Để giải quyết cơ bản vấn đề nghèo đói, trước mắt, Ấn Độ đã tăng đầu tư cho nông nghiệp. Năm 1995-1996 Ấn Độ chi 4,1 tỉ USD cho nông nghiệp nhưng năm 2006-2007 tăng lên 19,5 tỉ USD. Đây là mức tăng đáng kể dành cho nông nghiệp. Dự kiến, từ năm 2007 đến năm 2010, Ngân hàng trung ương Ấn Độ sẽ cho nông nghiệp vay gấp 2 lần. Ngân hàng lớn nhất là SBI sẽ mở thêm từ 5.000 đến 6.000 chi nhánh tại nông thôn, để
  13. vừa mở rộng kinh doanh, vừa thực hiện chủ trương tăng cường đầu tư cho nông nghiệp. Phát triển nông nghiệp, tăng cường sản xuất lương thực là một nhiệm vụ trọng tâm của kinh tế Ấn Độ. Để đạt chỉ tiêu 175 kg ngũ cốc/người, 11 kg đỗ/người vào năm 2012, Chính phủ Ấn Độ đã chi 1,2 tỉ USD cho Ủy ban An ninh lương thực, để tăng sản xuất gạo, đậu đỗ, lúa mì… và tiến hành kế hoạch chăn nuôi, nâng cấp đàn gia súc nhằm tăng lượng sữa, trứng, thịt. Một trong những trọng tâm để Ấn Độ có mức tăng trưởng từ 9 đến 10% trong kế hoạch XI là phải “cải thiện kết cấu hạ tầng nông thôn”. Ấn Độ sẽ tăng vốn để phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn từ 3 tỉ USD năm 2007 lên 3,5 tỉ USD năm 2008. Bộ Tài chính cũng tăng tín dụng phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp từ 56,25 tỉ USD năm 2007-2008 lên 62,5 tỉ USD năm 2008-2009. Ngân hàng phát triển nông nghiệp Ấn Độ sẽ cung cấp 6,7 triệu USD cho quỹ phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn. Cũng về cơ sở hạ tầng, để giúp nông dân giảm bớt khó khăn, Ấn Độ đang thúc đẩy thành lập 31 đặc khu nông nghiệp, 12 khu xuất khẩu nông sản (AEZ), một trung tâm trưng bày nông sản với chi phí hơn 5 tỉ USD và 30 công viên lương thực lớn (chi phí khoảng 4 tỉ USD). Các khu này sẽ tăng cường quản lý sau thu hoạch, cất trữ, kết nối sản xuất với các sân bay, bến cảng... để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Về thủy lợi, Ấn Độ đang có kế hoạch liên kết 14 sông lớn ở vùng Hi-ma-lay-a với 17 sông ở phía Nam, để phân bổ lại khoảng 173 tỉ m3 khối nước/năm, từ đó, đưa sản lượng lương thực của Ấn Độ từ hơn 200 triệu tấn hiện nay lên 450 triệu tấn vào năm 2050. Kết quả này sẽ góp phần quan trọng vào công cuộc xoá đói giảm nghèo. Đồng thời, Chính phủ đã chi 3,3 tỉ USD cho 300 dự án, chương trình chống lũ lụt ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Về năng lượng, Ấn Độ thực hiện ưu tiên điện khí hoá nông thôn và đang xây dựng hệ thống năng lượng cho khu vực này. Trọng tâm là khai thác năng lượng tái sinh như khí sinh học, năng lượng mặt trời, gió, thuỷ điện nhỏ, để trong 5 năm tới sẽ cung cấp điện cho 75 triệu nông hộ. Ấn Độ cũng đã tăng chi cho xóa đói giảm nghèo và coi đây là mục tiêu quan trọng, là chương trình lớn trong các kế hoạch dài hạn. Ngày 15-8-1995, Ấn Độ đã đưa ra Kế hoạch quốc gia về hỗ trợ xã hội cho những người sống dưới mức nghèo khổ: những người nghèo trên 65 tuổi sẽ được trợ cấp 2 USD/tháng; hỗ trợ từ 130 đến 250 USD cho những gia đình nghèo có người chết; hỗ trợ 10 USD cho những phụ nữ trên 19 tuổi trong 2 lần sinh đầu. Từ năm 1999, Ấn Độ đã thực hiện hỗ trợ 10 kg lương thực
  14. cho những người già không có lương hưu. Gần đây, chương trình này đã mở rộng cho cả những người có lương hưu. Ngày 25-9-2001, Ấn Độ đưa ra chương trình bảo đảm lương thực và việc làm cho nông thôn, chương trình nhà ở, chương trình bảo đảm lợi ích người lao động trong khu vực nông nghiệp… Năm 2006, Chính phủ đã đầu tư 800 triệu USD vào những vùng lạc hậu; năm 2007, lập quỹ 700 triệu USD giúp những vùng nông thôn lạc hậu. Trong kế hoạch lần thứ XI, Ấn Độ sẽ đưa ra chương trình đặc biệt để phát triển kinh tế cho 75 nhóm lạc hậu đang sống trong những điều kiện hết sức nghèo nàn. Cũng trong kế hoạch lần này, Ấn Độ sẽ chi 1 tỉ USD để xóa bỏ tình trạng lao động trẻ em. Tăng trợ cấp sản xuất nông nghiệp cũng là một biện pháp quan trọng để xóa đói giảm nghèo. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ X, Ấn Độ đã hỗ trợ sản xuất nông nghiệp là 18 tỉ USD và kế hoạch lần thứ XI là 27 tỉ USD. Trợ cấp trong từng ngành là rất cụ thể: tháng 3-2007, trợ cấp vận chuyển đường là 37USD/tấn; Ngành chè được trợ cấp 22 triệu USD; Mỗi ha chuối được trợ cấp 700 USD để tăng cường sản xuất và xuất khẩu. Chính phủ đã chi 11 tỉ USD để trợ giá phân bón trong năm 2007-2008 và năm 2008-2009 sẽ là 16 tỉ USD. Mỗi hộ nông dân sẽ được trợ cấp 150 USD tiền điện. Bảo hiểm nông nghiệp sẽ tăng từ 16% lên 80-90% số nông hộ. Năm 2008, Chính phủ sẽ xóa nợ cho nông dân 15 tỉ USD, giảm thuế cho những hộ có diện tích dưới 3 ha. Khoảng 30 triệu nông dân đang mắc nợ sẽ được lợi từ kế hoạch này. Tạo việc làm là một trong những biện pháp quan trọng để xóa đói giảm nghèo. Chính vì thế, chương trình việc làm luôn luôn là một nội dung quan trọng trong các kế hoạch của Chính phủ. Tháng 8-2005, Ấn Độ thông qua Luật Bảo đảm việc làm cho nông dân - một trong những văn bản pháp lý quan trọng nhất được ban hành từ khi Ấn Độ giành được độc lập. Luật này sẽ bảo đảm về pháp lý để mỗi nông dân có đủ 100 ngày có việc làm/năm, với mức lương 1,5 USD/ngày. Nếu không có việc làm, nông dân sẽ nhận được một khoản trợ cấp thất nghiệp. Giai đoạn đầu, chương trình này sẽ áp dụng trong 200 huyện; 4 năm tiếp theo sẽ mở rộng ra toàn Ấn Độ. Theo nhiều đánh giá, chương trình này được coi là có nhiều kì vọng nhất trên thế giới để xóa đói giảm nghèo. Triển khai Luật trên, năm 2005-2006 Ấn Độ đã chi 3 tỉ USD, năm 2006-2007 là 2,7 tỉ USD và năm 2007-2008 là 2,8 tỉ USD cho chương trình việc làm nông thôn. Gần đây, Ấn Độ đã mở rộng Luật trên, tăng chi tiêu để trong 7 năm tới tạo thêm 50 triệu việc làm.
  15. Trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, Ấn Độ đã nhận được sự giúp đỡ hết sức tích cực của quốc tế. Ngân hàng thế giới (WB) đã cho Ấn Độ vay nhiều nhất, với 3,75 tỉ USD, bằng 15% tổng mức cho vay của WB trong năm 2007. Trong lượng vốn trên, một phần quan trọng đã được đưa vào nông nghiệp, nông thôn, vừa giúp Ấn Độ phát triển các lĩnh vực nói chung, vừa tăng cường công cuộc xóa đói giảm nghèo tại nông thôn. WB đã cấp 225 triệu USD để xóa đói giảm nghèo tại bang Mát-hi-a (Madhya). WB cũng giúp 463 triệu USD cho bang Bi-ha - bang nghèo nhất Ấn Độ, với 44% dân số nghèo khổ. Năm 2007, WB đã cho Ấn Độ vay thêm 600 triệu USD để trợ giúp các trang trại, 944 triệu USD để tăng cường hệ thống tài chính nông thôn, thực hiện bảo hiểm nông nghiệp và các dự án quản lý nguồn nước. Cùng với WB, không kể các khoản vốn đã cấp, từ 2007-2010 Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) sẽ cho các bang nghèo nhất của Ấn Độ vay 2,1 tỉ và sẽ đầu tư thêm 9,2 tỉ USD vào cơ sở hạ tầng, nhất là cho những bang nghèo như Bi-ha (Bihar), Giắc-hen (Jharkhand). Thủ tướng Anh, trong chuyến thăm Ấn Độ tháng 1-2008 đã tuyên bố viện trợ phát triển 1,6 tỉ USD cho những bang nghèo nhất của Ấn Độ. Nhờ những cố gắng trên, nghèo đói ở Ấn Độ đã giảm nhiều. Các chỉ số xã hội như thu nhập, giáo dục, y tế, giao thông, điện, nước uống… ở hầu hết những vùng nông thôn nghèo đã được cải thiện đáng kể từ năm 1991. Tỷ lệ nghèo ở nông thôn đã giảm từ 45,76% trong năm 1983 xuống 37,26% trong năm 1994 và 29,18% trong năm 2005. Số lượng người nghèo tương ứng với các thời điểm trên là 252,05 triệu; 247,8 triệu và 232,16 triệu. Đa số nông dân đã có đủ lương thực, với tỷ lệ đủ ăn tăng từ 94,5% (năm 1994-1995) lên 97,1% (năm 2004-2005). Những thành tựu nông nghiệp đã giúp Chính phủ cung cấp lương thực cho những người nghèo nhất. Phân phối lương thực đã tăng từ 10 kg, lên 20 kg và đến tháng 7- 2001 là 25 kg/gia đình/tháng. Chính phủ cũng đã bỏ ra hàng triệu tấn lương thực để cứu trợ những vùng bị thiên tai. Việc phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn đã giải quyết nhiều việc làm cho nông dân, qua đó, giúp họ cải thiện, ổn định đời sống. Một trong những thành tựu đáng kể của công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Ấn Độ là đã thực hiện bữa ăn trưa miễn phí cho 120 triệu trẻ em, chủ yếu ở nông thôn. Chính phủ sẽ chi thêm 10,7 tỉ USD cho kế hoạch này. Về chương trình hỗ trợ xã hội, lương hưu cho người nghèo trên 65 tuổi sẽ tăng từ 1,5USD/tháng lên 4,5 USD/tháng. Sau 17 năm cải cách, mức tiêu dùng ở nông thôn Ấn Độ đã tăng lên. Số hộ dùng ga tăng gấp 6 lần. Chi tiêu cho giáo dục từ năm 1999-2000 đến năm 2004-2005 tăng từ 29% lên 44%
  16. 1.1.2.3 Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Thái Lan Thông qua chính sách phát triển, Thái Lan thực hiện việc loại trừ đói nghèo ở vùng trọng điểm. Từ năm 1980 đến nay, Thái Lan áp dụng mô hình gắn liền chính sách quốc gia với chính sách phát triển nông thôn thông qua việc phát triển nông thon, phát triển các xí nghiệp ở các làng quê nghèo, phát triển doanh nghiệp nhỏ, mở rộng các trung tâm dạy nghề ở nông thôn để giảm bớt nghèo khổ. Chính phủ ban hành chính sách cải cách ruộng đất, theo đó người nông dân được quyền làm chủ về đất đai, Nhà nước tạo điều kiện để họ có khả năng tích tụ ruộng đất, mở rộng quy mô, hướng nông dân đi vào sản xuất hàng hoá. Thái Lan đã thực hiện tốt mô hình đổi mới Hợp tác xã nông nghiệp theo hình thức tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi, hoạt động của Hợp tác xã chủ yếu mang tính chất dịch vụ. Kết quả là người nghèo ở Thái Lan từ 30% dân số trong thập niên 80 đã giảm xuống 23% vào năm 1990 (3 triệu người) 1.1.2.4 Tình hình nghèo đói của Việt Nam- Kinh nghiệm và giải pháp a. Tình hình nghèo đói của Việt Nam Ở Việt Nam, đói, nghèo vẫn đang là vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc. Xóa đói, giảm nghèo toàn diện, bền vững luôn luôn được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và xác định là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong gần 20 năm đổi mới, nhờ thực hiện cơ chế, chính sách phù hợp với thực tiễn nước ta, công cuộc xóa đói, giảm nghèo đã đạt được thành tựu đáng kể, có ý nghĩa to lớn cả về kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh - quốc phòng, phát huy được bản chất tốt đẹp của dân tộc ta và góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước bền vững. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh trong khoảng thời gian 5 năm từ 17,2% năm 2001 với 2,8 triệu hộ, xuống còn 8,3% năm 2004 với 1,44 triệu hộ, bình quân mỗi năm giảm 34 vạn hộ, đến cuối năm 2005 còn khoảng dưới 7% với 1,1 triệu hộ. "Những thành tựu giảm nghèo của Việt Nam là một trong những câu chuyện thành công nhất trong phát triển kinh tế". Đó là đánh giá trong "Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004" của Ngân hàng thế giới. Do đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, cùng với định hướng chung là từng bước tiếp cận với trình độ của các nước đang phát triển trong khu vực, nên
  17. chuẩn nghèo đã được điều chỉnh lại, trong đó có tính đến các nhân tố ảnh hưởng. Với sự phấn đấu không mệt mỏi của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong nhiều năm qua, công cuộc xóa đói, giảm nghèo đã đạt được một số thành tựu quan trọng. Tình hình nghèo đói của Việt Nam trong những năm qua được thể hiện qua bảng sau: Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới của Chính phủ giai đoạn 2006-2010 Đơn vị tính: % Khu vực Năm Năm Năm 2004 2006 2008 Chung cả nước 18,1 15,5 13,4 I. Phân theo khu vực Thành thị - Nông thôn 1. Thành thị 8,6 7,7 6,7 2. Nông thôn 21,2 17,0 16,1 II. Phân theo vùng 1. Đồng bằn sông Hồng 12,7 10,0 8,6 2. Trung du và miền núi phía Bắc 29,4 27,5 25,1 3. Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung 25,3 22,2 19,2 4. Tây Nguyên 29,2 24,0 21,0 5. Đông Nam Bộ 4,6 3,1 2,5 6. Đồng bằng sông Cửu Long 15,3 13,0 11,4 Như vậy ta thấy theo chuẩn nghèo giai đoạn năm 2006-2010 của Chính phủ thì tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước giảm từ 15,5% năm 2006 xuống mức 13,4% năm 2008. Vùng trung du và miền núi phía bắc là vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất nước 25,1% (2008), vùng có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ là 2,5% (2008). Theo dự báo tỷ lệ hộ nghèo của nước ta có thể giảm xuống mức 10% trong năm 2010. Tuy đạt được nhiều thành công, song nước ta vẫn còn một số tồn tại trong xoá đói giảm nghèo như: - Chuẩn nghèo của nước ta còn cách xa so với chuẩn nghèo thế giới. - Kết quả xoá đói giảm nghèo không mang tính bền vững, tỷ lệ hộ dân có thu nhập quanh mức chuẩn nghèo còn cao do đó khi có sự biến động về chuẩn nghèo hoặc những tác động của các yếu tố ngoại cảnh rất dễ dẫn đến tình trạng tái nghèo. - Hầu hết số người nghèo đói của nước ta đều tập trung ở khu vực nông thôn, nơi khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội. Điều này gây trở ngại cho công tác xoá đói giảm nghèo.
  18. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo của Ngân hàng thế gới Đơn vị tính: % Khu vực Năm Năm Năm Năm Năm 1998 2002 2004 2006 2008 Chung cả nước 37,4 28,9 19,5 16,0 14,5 I. Phân theo khu vực Thành thị - Nông thôn 1. Thành thị 9,5 6,6 3,6 3,9 3,3 2. Nông thôn 44,9 35,6 25,0 20,4 18,7 II. Phân theo vùng 1. Đồng bằn sông Hồng 30,7 21,5 11,8 8,9 8,0 2. Trung du và miền núi phía Bắc 64,5 47,9 38,3 32,3 31,6 3. Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung 42,5 35,7 25,9 22,3 18,4 4. Tây Nguyên 52,4 51,8 33,1 28,6 24,1 5. Đông Nam Bộ 7,6 8,2 3,6 3,8 2,3 6. Đồng bằng sông Cửu Long 36,9 23,4 15,9 10,3 12,3 b. Kinh nghiệm Xoá đói giảm nghèo của tỉnh Hà Giang Trong 62 huyện nghèo nhất nước thì Hà Giang có tới 6/11 huyện thị nằm trong danh sách này. Những năm qua nhờ chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, cùng với công tác chỉ đạo sát sao, xã hội hoá các nguồn lực, phát huy tinh thần tương thân, tương ái của đồng bào dân tộc trong tỉnh mà công tác xoá nhà tạm, xoá đói giảm nghèo của Hà Giang đã đạt được kết quả rất tích cực. Tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh giảm nhanh từ 51,05% năm 2005 xuống còn 27,64% năm 2008, cơ sở hạ tầng ở các xã đặc biệt khó khăn đã có nhiều thay đổi, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Trong đó, việc xã hội hoá công tác xoá đói giảm nghèo là quan trọng và việc tác động làm thay đổi nhận thức của người dân về ý thức tự vươn lên thoát nghèo, ổn định cuộc sống, tránh trông chờ ỷ lại là điểm mấu chốt. Những năm qua, nhiều cơ quan, doanh nghiệp đã rất tích cực trong công tác xoá đói giảm nghèo của tỉnh. Ngoài ra, tỉnh cũng phát động nhiều cuộc vận động thu hút các ngành và đông đảo cán bộ, đảng viên và tầng lớp nhân dân trong tỉnh giúp dân giảm nghèo. Tiêu biểu như cuộc vận động ủng hộ giống gia súc nuôi luân chuyển và phản nằm, màn cho các hộ nghèo, thu hút 633 cơ quan, trên 5 nghìn cán bộ, đảng viên tự nguyện trích một phần tiền lương và thu nhập để tham gia ủng hộ. Qua đó, hỗ trợ được 184 con trâu, 302 con bò, 4.374 con dê và trên 5 nghìn tấm phản nằm, với tổng số tiền lên tới 4,24 tỷ đồng, bảo đảm ít nhất mỗi hộ nghèo được hỗ trợ 1 con trâu (bò), hoặc từ 2 - 3 con dê sinh sản. Để làm được điều đó, tỉnh vận động các đồng chí ủy viên, lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể nêu cao tinh thần gương mẫu, mỗi đồng chí
  19. ủng hộ ít nhất 1 hộ nghèo trở lên, mỗi hộ 2 con dê, 1 tấm phản nằm, 1 chiếc màn; cán bộ công nhân viên mỗi người trích một phần thu nhập để trợ giúp giống trâu, bò, dê, lợn cho các hộ nghèo theo đơn vị đã được phân công phụ trách. Ngoài ra, các hộ có điều kiện sẽ giúp giống gia súc cho các hộ nghèo nuôi rẽ. Các huyện ít hộ nghèo sẽ giúp các huyện, xã có nhiều hộ nghèo hơn. Việc thống kê các hộ cần hỗ trợ phải được nêu tên, địa chỉ cụ thể rõ ràng. Gắn với cuộc vận động này, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh việc xoá nhà tạm để đảm bảo cho người dân có nơi an cư lạc nghiệp, qua đề án hỗ trợ thêm 5.836 hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167. Quá trình thực hiện cũng mang tính xã hội hoá cao, ngoài nguồn vốn của Nhà nước, các doanh nghiệp Trung ương cũng đã hỗ trợ rất nhiều, cùng với nguồn tài chính của gia đình, dòng họ, thôn xóm giúp đỡ. Việc huy động các nguồn tiền đóng góp ủng hộ đồng bào xây dựng nhà cũng được tỉnh cho từng sở, ban, ngành, doanh nghiệp phụ trách từng xã đặc biệt khó khăn một cách cụ thể. Ví dụ như huyện Mèo Vạc chỉ trong một thời gian ngắn đã huy động được 3 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo xoá nhà tạm. Đến nay, tỉnh Hà Giang đã xoá được khoảng 14.000 căn nhà tạm. Riêng năm 2009, xoá được 6.287 căn nhà tạm thì có 2.212 nhà xây, 1.312 nhà trình tường, 1.372 nhà sàn và 1.048 nhà gỗ. Trong tổng số gần 140 tỷ dùng xoá nhà tạm thì nguồn tiền xã hội hoá chiếm tới 2/5. Nhiều ngôi nhà vững chắc đã được dựng lên đảm bảo theo những tiêu chí đã đặt ra tạo điều kiện cho bà con có chỗ ở tốt hơn d. Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo tại huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam Hiện nay, toàn huyện Phú Ninh có diện tích tự nhiên 25.116ha, dân số trên 83 ngàn người. Cơ cấu của huyện nhiều năm qua phát triển theo hướng Nông nghiệp là chính. Tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao, năm 2007 là gần 16%. Nguyên nhân nghèo là do một số địa phương dân cư ở không tập trung, địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, nhất là mùa mưa lũ, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân còn thiếu thốn, đầu tư chưa đồng bộ. Xuất phát điểm của huyện là nền kinh tế phát triển chậm, dân trí không đồng đều, tập quán canh tác nhiều địa phương còn lạc hậu, đội ngũ cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo ở cơ sở còn thiếu kinh nghiệm... Trước thực trạng trên, Đảng bộ và chính quyền của huyện Phú Ninh sau khi được thành lập đã tập trung tuyên truyền giáo dục, nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện để mọi người, mọi ngành hiểu rõ tầm quan trọng của công tác xoá đói giảm nghèo, tích cực tham gia thực hiện các biện pháp xoá đói
  20. giảm nghèo trên địa bàn. Huyện còn tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện bằng những chủ trương, giải pháp đồng bộ trong sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi, phát triển trang trại, phát triển thủ công nghiệp; tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi xã hội công cộng có liên quan trực tiếp đến sản xuất, nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển và cải thiện đời sống nhân dân như: công trình thuỷ lợi kênh mương nội đồng, công trình nước sinh hoạt, hệ thống điện lưới quốc gia, làm đường giao thông, tổ chức đào tạo nghề; đẩy mạnh xuất khẩu lao động... Mục tiêu được đề ra đến năm 2010 toàn huyện phải giảm được số hộ nghèo xuống dưới 10%. Mỗi năm phấn đấu giải quyết việc làm mới cho từ 150-200 lao động thuộc diện hộ nghèo, giới thiệu từ 30-40 lao động được đi xuất khẩu lao động v.v... Thực tế cho thấy, sau gần 4 năm thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo, đến nay, số hộ nghèo trên địa bàn huyện từ 15.99% năm 2007 giảm xuống còn hơn 14 % năm 2008. Hiện nay, số hộ nghèo do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự biến động của giá cả thị trường đang là một trong những thách thức lớn đối với huyện. Làm sao để tỷ lệ hộ đói nghèo của huyện giảm xuống nhanh chóng cũng là sự trăn trở đối với các cấp lãnh đạo địa phương ở huyện nhà. Để làm được điều đó, huyện uỷ Phú Ninh đã ra ban hành nhiều Đề án, Nghị quyết, chủ trương về xoá đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng thâm canh tăng năng xuất và chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu cây trồng mùa vụ, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để đạt hiệu quả cao trên một đơn vị diện tích. Nhờ có các giải pháp khả thi và do làm tốt các chủ trương về xoá đói giảm nghèo của tỉnh, huyện, xã nên năm 2008, đời sống của nhân dân trên địa bàn được nâng cao hơn. Cạnh đó, trong công tác này, huyện còn đề ra một số chương trình, dự án để phát triển kinh tế - xã hội và xoá đói giảm nghèo trên địa bàn như: dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, chương trình xã hội hóa trường học; đầu tư nâng cấp trạm y tế, chương trình giao thông nông thôn, nước sạch và vệ sinh môi trường với tổng số tiền hàng tỷ đồng. Đặc biệt là từ sau khi thành lập đến nay, được sự quan tâm của Chính phủ và các cấp, các ngành, huyện Phú Ninh đã được đầu tư xây dựng một số cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân, làm thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn. Đến Phú Ninh hôm nay, nhiều xã đã có đường giao thông liên xã, có tuyến đường nhựa chạy qua, 6/10 xã đạt chuẩn về y tế, nhiều xã được đầu tư các công trình thuỷ lợi lớn nhỏ, có đường điện lưới quốc gia... Kết thúc năm 2008, tổng sản lượng lương thực tăng 5,1% so với năm 2007, giá trị thu nhập bình quân đạt 36,86 triệu

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản