intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Những vấn đề sau cổ phần hóa các DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng

Chia sẻ: Nguyen Uyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:67

0
73
lượt xem
6
download

LUẬN VĂN: Những vấn đề sau cổ phần hóa các DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng phát triển kinh tế nhiều thành phần với sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu, nhằm phát huy mọi tiềm lực vật chất và lao động sáng tạo của toàn dân tộc để phát triển đất nước. Trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Trong những năm qua, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nói...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Những vấn đề sau cổ phần hóa các DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng

  1. LUẬN VĂN: Những vấn đề sau cổ phần hóa các DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng
  2. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng phát triển kinh tế nhiều thành phần với sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu, nhằm phát huy mọi tiềm lực vật chất và lao động sáng tạo của toàn dân tộc để phát triển đất nước. Trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Trong những năm qua, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nói chung - bộ phận nòng cốt của kinh tế nhà n ước đã đóng góp rất lớn trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động các DNNN vẫn còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế, qui mô nhỏ, hiệu quả kém, n ăng lực cạnh tranh thấp, công nghệ lạc hậu, thậm chí một số DNNN còn làm ăn thua lỗ kéo dài… Vì vậy, vấn đề cải cách DNNN được đặt ra cấp bách. Một trong những giải pháp cải cách mang tính chiến l ược là chuyển một bộ phận DNNN không cần nắm giữ 100% vốn sang công ty cổ phần. Tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước nói chung và các DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng nói riêng đã trải qua một thời gian và đã thu được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, hàng loạt vấn đề sau cổ phần hóa cần được rút kinh nghiệm, cần được giải quyết, để các công ty cổ phần của thành phố Đà Nẵng sau cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước có thể phát triển. Đây là những vấn đề không hề đơn giản chút nào, thậm chí ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp và không thể giải quyết một sớm một chiều mà cần phải đầu tư nghiên cứu. Thực tế, đối với thành phố Đà Nẵng năm 1997 sau khi chia tách tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng thành hai đơn vị hành chính, thành phố Đà Nẵng trở thành đơn vị trực thuộc Trung ương, công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước mới được Thành ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố đặc biệt quan tâm, trong đó trọng tâm là công tác CPH các doanh nghiệp Nhà nước thuộc thành phố quản lý, trong đó 10 doanh nghiệp thương mại sau khi sắp xếp, sáp nhập còn lại 05 doanh nghiệp (DN), đến nay có 04 DN thực hiện
  3. xong CPH đã đi vào hoạt động, 01 DN đang chuẩn bị CPH. Trong 04 DN sau khi CPH có 01 DN đang gặp rất nhiều khó khăn có nguy cơ phá sản, lý do phá sản có nhiều nhưng chính là do đánh giá tài sản DN không chính xác, gây hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp sau CPH và quyền lợi của cổ đông, còn lại 03 DN CPH hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) có hiệu quả nhưng cũng gặp khó khăn về nhiều mặt cần được quan tâm đề ra các giải pháp để khắc phục. Xuất phát từ những lý do trên, tôi xin chọn vấn đề: “Những vấn đề sau cổ phần hóa các DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng” để làm đề tài nghiên cứu. Với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc tìm ra các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, vướng mắc của các doanh nghiệp nhà nước sau CPH trong ngành thương mại (TM) tại thành phố Đà Nẵng. 2. Tình hình nghiên cứu Cổ phần hóa DNNN đã có nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu. Đối với nước ngoài, vấn đề này chủ yếu tập trung vào việc phân tích sự cần thiết, mục tiêu và các biện pháp chuyển đổi sở hữu DNNN nhằm phục vụ chủ trương tổ chức lại nền kinh tế quốc gia. Đối với Việt Nam chủ trương CPH DNNN đến nay không còn là điều mới mẻ, có nhiều công trình nghiên cứu về CPH nói chung và về các giải pháp nhằm thúc đẩy tiến trình CPH trên toàn quốc và ở một số địa phương. Ở Viện kinh tế - chính trị, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh có luận văn Thạc sỹ của Đỗ Thị Oanh với đề tài: “Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay, thực trạng và giải pháp” Theo đó, tác giả xác định được cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình CPH và nêu ra các giải pháp chung nhất cho cổ phần hoá. Trên Tạp chí Cộng sản số 22/2004 có bài viết của đồng chí Lê Hữu Nghĩa Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản, Phó Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương về: CPH DNNN ở Việt Nam hiện nay mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Cộng sản số 18/2004 có bài viết của đồng chí Hồ Xuân Hùng Trưởng Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp về: CPH DNNN kết quả, vướng mắc và giải pháp... Các bài viết nêu lên những vấn đề lý luận và thực tiễn, về mục tiêu của CPH; về kết quả, thuận lợi, khó khăn và các giải pháp để tháo gỡ, nhằm rút kinh nghiệm để làm tốt công tác CPH trong
  4. thời gian đến. Tuy nhiên, còn ít công trình nghiên cứu vấn đề: “Những vấn đề sau CPH các DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng” dưới góc độ khoa học kinh tế - chính trị. Do đó, đề tài luận văn này vẫn là cần thiết và không trùng lặp với các luận văn thạc sỹ kinh tế đã bảo vệ ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn - Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở khảo sát các DNNN trong ngành thương mại ở Đà Nẵng đã cổ phần hoá, tìm ra những vấn đề vướng mắc, tồn tại cần giải quyết. Từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp khắc phục. - Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau: + Phân tích thực trạng CPH và hoạt động của các công ty cổ phần từ CPH DNNN trong ngành TM của thành phố Đà Nẵng để rút ra những mặt được, tồn tại và vướng mắc cần giải quyết. + Đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại sau cổ phần hóa các DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu các công ty cổ phần từ cổ phần hóa DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng dưới góc cạnh những tồn tại, vướng mắc, thành công. Thời gian: từ năm 1997 đến nay. 5. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Chú trọng đến phương pháp phân tích, tổng hợp. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê, điều tra, tổng kết thực tiễn. 6. Những đóng góp mới của luận văn - Đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những vấn đề tồn tại, vướng mắc sau cổ phần hóa của các DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng.
  5. - Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan liên quan. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 2 chương, 4 tiết. Chương 1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN TỪ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG NGÀNH THƯƠNG MẠI CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 1.1. SỰ RA ĐỜI VÀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN Chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam đã có từ năm 1991, và bắt đầu thực hiện từ năm 1992 bằng Chỉ thị 202 ngày 8-6-1992 và Chỉ thị 84 ngày 4-8- 1993 của Thủ tướng Chính phủ. Đối với nền kinh tế nước ta lúc bấy giờ CPH DNNN là một vấn đề hoàn toàn mới, cho nên thời gian đầu còn làm thí điểm. Những doanh nghiệp được chọn thí điểm thực hiện CPH là những doanh nghiệp có qui mô nhỏ và vừa, kinh doanh có lãi và tự nguyện CPH. Suốt 4 năm (1992-1996) cả nước chỉ CPH được 5 DN. Nếu 6 năm kể từ năm 1992 đến năm 1998, chúng ta chỉ cổ phần hóa được 30 doanh nghiệp và 5 năm sau đó, kể từ 1998 đến trước Hội nghị Trung ương III (khóa IX) có 523 doanh nghịêp Nhà nước được cổ phần, thì chỉ trong 4 năm trở lại đây, chúng ta đã hoàn thành cổ phần hóa 2.437 DNNN, nâng tổng số DNNN được CPH lên đến 2.890 đơn vị, trong tổng số 5.655 DNNN cần được CPH. Nhìn chung, trong tiến trình CPH được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà n ước, cộng với sự hưởng ứng từ phía các DNNN đã đạt được những thành công nhất định. Qua khảo sát, hơn 850 công ty của Nhà nước sau hơn 1 năm cổ phần hóa cho thấy: vốn điều lệ tăng 44%, doanh thu tăng gần 24%, lợi nhuận tăng 140%, nộp ngân sách tăng 25%, thu nhập của người lao động tăng 12%.
  6. Đối với thành phố Đà Nẵng, năm 1997 sau khi chia tách tỉnh Quảng Nam – Đ à Nẵng thành hai đơn vị hành chính, thành phố Đà Nẵng trở thành đơn vị trực thuộc Trung ương, công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước mới được Thành ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố đặc biệt quan tâm, trong đó trọng tâm là công tác CPH các doanh nghiệp Nhà nước thuộc thành phố quản lý, trong đó 10 doanh nghiệp thương mại sau khi sắp xếp, sáp nhập còn lại 05 doanh nghiệp (DN), đến nay có 04 DN thực hiện xong CPH đã đi vào hoạt động, 01 DN đang chuẩn bị CPH. Bốn doanh nghiệp CPH xong đó là: 1- Công ty CP thương mại dịch vụ Đà Nẵng (vốn Nhà nước chi phối là 41,54%). 2- Công ty CP cung ứng tàu biển Đà Nẵng (vốn Nhà nước chi phối 67,68%). 3- Công ty CP công nghệ phẩm Đà Nẵng (100% vốn cổ đông). 4- Công ty CP vật tư tổng hợp Đà Nẵng (vốn Nhà nước chi phối 53,72%). Sự ra đời của công ty cổ phần từ CPH DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng nằm trong kế hoạch tổng thể của lãnh đạo Thành ủy, UBND TP về triển khai xây dựng Đề án và tổ chức thực hiện CPH theo chủ trương của Chính phủ. Uỷ Ban Nhân Dân thành phố thành lập Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp, nhằm thường xuyên theo dõi, đôn đốc và chỉ đạo kịp thời tiến độ thực hiện sắp xếp doanh nghiệp theo đề án được duyệt và theo đúng quy trình. Đến cuối năm 2005 đã có 21 doanh nghiệp của thành phố Đà Nẵng được CPH (trong đó DN thương mại là 04), bằng 65% kế hoạch được duyệt đến cuối năm 2006. Về các bước thực hiện tiến trình CPH đối với các doanh nghiệp trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng cũng nằm trong qui trình chung của tất cả các DNNN khi chuyển sang công ty CP và có thể được chia thành 4 bước: Bước 1: Chuẩn bị CPH Bước 2: Xây dựng phương án CPH Bước 3: Phê duyệt và triển khai thực hiện phương án CPH Bước 4: Ra mắt công ty cổ phần, đăng ký kinh doanh Từ các bước có thể khái quát bằng sơ đồ qui trình chuyển đổi DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng thành công ty cổ phần như sau:
  7. Sơ đồ 1.1: Qui trình chuyển đổi DNNN thành CTCP từ CPH DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng (1) Lập danh sách DNNN cổ phần hoá (2) Chuẩn bị và thành lập Ban đổi mới quản lý Chuẩn bị tại doanh nghiệp CPH (3) Phổ biến và tuyên truyền chủ trương về CPH (4) Chuẩn bị các tài liệu (5) Đánh giá giá trị, phân biệt tài sản doanh nghiệp Xây dựng (6) Quyết định giá trị thực tế của doanh nghiệp phương án CPH (7) Dự kiến phương án CPH & dự thảo điều lệ tổ chức và hoạt động của CPH (8) Phê duyệt phương án và quyết định chuyển DNNN thành CTCP Phê duyệt và triển khai (9) Thông tin về cổ phần hoá của doanh nghiệp thực hiện phương án CPH (10) Đại hội cổ đông và Bầu hội đồng quản trị (11) Bàn giao công việc Ra mắt CTCP, đăng ký kinh doanh (12) Những công việc còn lại
  8. 1.1.1. Tình hình kinh doanh Sau CPH đa số các doanh nghiệp thương mại của thành phố Đà Nẵng SXKD ổn định và có hiệu quả, đã hình thành loại hình doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu về vốn, thực hiện được sự giám sát chặt chẽ hơn trong SXKD, huy động được nhiều vốn từ xã hội, tạo điều kiện đổi mới công nghệ, thay đổi phương thức tổ chức quản lý mới cùng với đội ngũ cán bộ quản lý thích nghi hơn với cơ chế thị trường. Nhiều doanh nghiệp đã tự huy động và phát hành cổ phiếu để tăng vốn Điều lệ, tuy không lớn nhưng đã thể hiện sự tự chủ trong việc huy động các nguồn vốn phục vụ cho kinh doanh và thể hiện sự thống nhất ý thức trong việc xây dựng và phát triển đơn vị. Từ những chuyển biến nói trên đã nâng cao rõ rệt hiệu quả SXKD. Qua kết quả điều tra các doanh nghiệp trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng sau khi CPH trong thời gian qua và 6 tháng đầu năm 2006 cho thấy, bước đầu tuy có khó khăn nhưng nhìn chung vốn bình quân của doanh nghiệp tăng, có ¾ doanh nghiệp trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng sau CPH hoạt động SXKD có lãi đó là: Công ty CP thương mại dịch vụ Đà Nẵng, Công ty CP cung ứng tàu biển Đà Nẵng, Công ty CP công nghệ phẩm Đà Nẵng, tỷ suất lãi bình quân tr ước thuế tăng, mức nộp ngân sách tăng, thu nhập bình quân của người lao động tăng, năng suất lao động tăng so với khi chưa CPH. Các công ty đều thực hiện chia cổ tức hàng năm và mức cổ tức cao hơn so với lãi suất ngân hàng. Bên cạnh 03 đơn vị hoạt động SXKD có hiệu quả, còn một đơn vị KD không có hiệu quả và có nguy cơ phá sản đó là: Công ty CP vật tư tổng hợp Đà Nẵng, nguyên nhân phá sản có nhiều nhưng chủ yếu là do khi tiến hành CPH không làm tốt khâu kiểm kê đánh giá lại tài sản doanh nghiệp, sau CPH thiếu xây dựng Qui chế quản lý doanh nghiệp như: Qui chế hoạt động SXKD, Qui chế quản lý và sử dụng vốn..., mạng lưới hoạt động SXKD chưa gọn nhẹ, kém hiệu quả có những cửa hàng, chi nhánh thua lỗ kéo dài không phát hiện và xử lý kịp thời, công tác cán bộ còn xem nhẹ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt, nhận thức về CPH chưa đúng, ý thức tổ chức kỹ luật kém, thiếu trách nhiệm trong công tác được giao, lãnh đạo doanh nghiệp theo cảm tính, nghiệp vụ chuyên môn kém, buông lỏng các nguyên tắc quản lý tài chính đã đưa doanh nghiệp đi đến phá sản, mất vốn Nhà nước và cổ đông, người lao động mất việc làm, đời sống khó khăn....
  9. Cụ thể qua khảo sát sự ra đời và tình hình kinh doanh của các đơn vị được thể hiện như sau: 1) Công ty cổ phần thương mại - dịch vụ Đà Nẵng (vốn Nhà nước chi phối là 41,54%) Công ty cổ phần thương mại dịch vụ Đà Nẵng CPH theo theo Nghị định 64 của Chính phủ và được thành lập theo Quyết định số 27/2004/QĐ-UB ngày 24 tháng 2 năm 2004 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc phê duyệt phương án CPH DNNN chuyển Công ty thương mại - dịch vụ Đà Nẵng thành Công ty CP thương mại - dịch vụ Đà Nẵng, tiến hành Đại hội cổ đông ngày 31 tháng 3 năm 2004 và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/4/2004. Sau CPH, Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban giám đốc (BGĐ) công ty đã có những định hướng cơ bản cho hoạt động của đơn vị, đồng thời nhanh chóng tiến hành những biện pháp cụ thể để sắp xếp ổn định tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Phấn đấu tạo dựng thương hiệu của đơn vị làm nền tảng cho việc ổn định phát triển kinh danh lâu dài, mở rộng thị trường, ổn định và củng cố hệ thống tiêu thụ, xây dựng nhóm mặt hàng chủ lực có tính cạnh tranh cao nhằm đảm bảo kinh doanh có hiệu quả, bên cạnh đó gắn kết với nhà SX tạo mối quan hệ hợp tác bền vững trong lĩnh vực sản xuất (SX), nâng cao chất lượng loại hình kinh doanh (KD) dịch vụ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước, không ngừng nâng cao mức sống đối với người lao động, đảm bảo kinh doanh có lãi để chia cổ tức cho cổ đông. Kết quả khảo sát cụ thể tình hình kinh doanh của công ty thương mại dịch vụ như sau: Bảng 1.1: Kết quả tình hình kinh doanh của Công ty CP thương mại dịch vụ ĐN trước và sau khi cổ phần hóa. Các năm sau CPH Năm trước TT Chi tiêu ĐVT 6T khi CPH Năm 2004 Năm 2005 2006
  10. 200.000.00 40.650.00 1 Tổng doanh thu 1000đ 61.776.000 81.224.000 0 0 2 Kim ngạch XK USD 80.000 230.094 153.799 3 Nộp NSNN 1000đ 6.462.685 202.532 831.852 193.900 4 Lợi nhuận sau thuế 1000đ 107.160 652.527 360.447 76.970 Thu nhập bình 5 1000đ 853 1.062 1.523 1.500 quân 6 Cổ tức/tháng % 0,6 0,6 0,6 (Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động SXKD của công ty CP thương mại dịch vụ từ khi CPH đến nay) Qua bảng 1.1 ta nhận thấy sau khi chuyển sang CTCP đơn vị hoạt động tương đối ổn định. + Tình hình doanh thu: doanh thu của công ty tăng, năm 2005 doanh thu đạt 81,224 tỷ đồng cao hơn doanh thu năm 2004 (61,776 tỷ đồng) là 19,448 tỷ đồng và mức tăng là 31,48%. + Tình hình lợi nhuận, kim ngạch XNK: kinh doanh có lãi nhưng không tăng, KNXK tăng. + Tình hình thu nhập: Sau khi CPH lợi nhuận tuy không tăng nhưng số lao động giảm nên tình hình thu nhập tăng lên so với trước, từ thu nhập bình quân năm 2004 là 1.062.000 đồng năm 2005 lên 1.523.000 đồng với mức tăng là 43,41%. + Về cổ tức: Cổ tức chia cho cổ đông cũng tăng năm 2004 là 152.299.000 đồng năm 2005 là 191.798.000 đồng với mức tăng 25,93%. Tỷ lệ chia cổ tức thường lớn hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm ngân hàng. 2) Công ty cổ phần Công nghệ phẩm Đà Nẵng (100% vốn cổ đông) (bảng 1.2). Công ty Công nghệ phẩm Đà Nẵng là doanh nghiệp Nhà n ước, thực hiện chủ trương của thành phố về tiến hành CPH trong n ăm 2004 theo Quyết định số 196/2004/QĐUB ngày 08/12/2004 c ủa UBND thành phố Đà Nẵng V/v phê duyệt
  11. phương án CPH chuyển Công ty Công nghệ phẩm ĐN thành Công ty cổ phần Công nghệ phẩm ĐN. Đại hội cổ đông lần thứ nhất vào ngày 03/4/2005 và chính thức đi vào hoạt động ngày 18/4/2005. Sau c ổ phần công ty hoạt động theo mô hình mới đ ược sắp xếp lại, duy trì h o ạt đ ộng kinh doanh trên c ơ sở các đơn vị trực thuộc kinh doanh chuyên ngành h àng hóa, đ ồng thời loại bỏ những mặt hàng kinh doanh không có hiệu quả, tìm n h ững mặt hàng mới , gi ữ vững thị tr ư ờng cũ, mở rộng thị tr ường mới, có nhu cầu t iêu th ụ nhanh và thực hiện ph ương châm: tri ệt đ ể thực hành tiết kiệm các chi phí đ ể t ối đa hóa l ợi nhuận. HĐQT đã định hướng theo mô hình kinh doanh thương mại - dịch vu - sản xuất - xuất nhập khẩu cơ cấu hợp lý, chuyển một phần sang sản xuất để hỗ trợ cho nhau trong quá trình SXKD của đơn vị. Đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất bao bì 32 tỷ đồng, đã đi vào hoạt động từ tháng 6/2006. Tình hình kinh doanh của Công ty sau CPH bước đầu cũng gặp nhiều khó khăn vừa kinh doanh vừa ổn định củng cố, tư tưởng của cán bộ công nhân viên (CBCNV) chưa chuyển biến kịp theo hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần, mặt khác tư tưởng dao động giữa người nghỉ và người ở lại làm việc, tác động rất lớn đến tình hình kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, với sự quyết tâm của HĐQT, BGĐ đã lãnh đạo đơn vị từng bước ổn định và kinh doanh đạt hiệu quả, hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch năm 2005 và 6 tháng đầu năm 2006. * Kết quả khảo sát cụ thể tình hình kinh doanh của công ty CP công nghệ phẩm như sau: Bảng 1.2: Kết quả tình hình kinh doanh của Công ty CP Công nghệ phẩm trước và sau khi cổ phần hóa. Các năm sau CPH Trước TT Chi tiêu ĐVT Năm khi CPH 6T 2006 2005
  12. 01 Tổng doanh thu 1000đ 332.000.000 255.000.000 123.420.000 02 Kim ngạch XK USD 1.630.000 73.900 51.000 03 Kim ngạch NK USD 1.050.000 2.303.900 76.000 04 Nộp NSNN 1000đ 1.655.000 780.000 80.000 05 Lợi nhuận sau thuế 1000đ 63.540 181.000 06 Thu nhập bình quân 1000đ 867 1.200 1.500 (Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động SXKD của công ty CP công nghệ phẩm từ khi CPH đến nay) * Đây là doanh nghiệp mới CPH, vốn 100% là của cổ đông, Qua hơn một năm kinh doanh ta nhận thấy tổng doanh thu, KNXK, KNNK, nộp ngân sách của công ty giảm, do công ty thu hẹp việc kinh doanh các mặt hàng kém hiệu quả. Mặc dù doanh thu giảm nhưng lợi nhuận của công ty vẫn không thay đổi, thu nhập của người lao động tăng, năm 2004 thu nhập bình quân là 860.000 đồng, sau CPH năm 2005 thu nhập bình quân là 1.200.000 đồng với mức tăng là 13,70%, 6 tháng năm 2006 1.500.000 đồng. 3) Công ty CP Cung ứng tàu biển (Vốn Nhà nước chi phối 67,68%) (bảng 1.3). Công ty CP Cung ứng tàu biển Đà Nẵng CPH theo theo Nghị định 64 của Chính phủ và được thành lập theo Quyết định số 23/QĐ-UB ngày 01 tháng 3 năm 2000 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc phê duyệt phương án CPH DNNN chuyển Công ty Cung ứng tàu biển thương mại và du lịch Đà Nẵng thành Công ty CP Cung ứng tàu biển thương mại và du lịch Đà Nẵng, từ năm 2005 đến nay tên công ty được rút ngắn lại thành Công ty CP Cung ứng tàu biển, Công ty CP chính thức đi vào hoạt động từ tháng 01 năm 2001 đây là một trong những DNNN của thành phố nói chung của ngành thương mại nói riêng đi đầu trong công tác CPH. Sau CPH, mặc dù tình hình SXKD của đơn vị khó khăn nhưng đơn vị vẫn cố gắng duy trì công ăn việc làm cho người lao động, với định hướng họat động theo mô hình kinh doanh kinh doanh cung ứng tàu biển, du lịch dịch vụ, khách sạn, nhà hàng.
  13. Qua khảo sát tình hình kinh doanh của công ty sau 5 năm CPH ta nhận thấy như sau: Bảng 1.3: Kết quả tình hình kinh doanh của Công ty CP Cung ứng tàu biển ĐN trước và sau khi cổ phần hóa. Năm Các năm sau CPH trước STT Chi tiêu ĐVT Năm Năm Năm Năm Năm khi 2001 2002 2003 2004 2005 CPH Doanh thu thực 38.599. 39.541.4 27.776.5 47.848.1 45.289.6 55.019.9 01 1000đ hiện 321 28 46 82 26 23 Lãi (+), lỗ (-) 02 1000đ 73.448 181.324 187.518 329.691 562.164 648.035 thực hiện Lợi nhuận sau 03 1000đ 49.994 135.993 140.639 247.268 233.296 486.036 thuế Lợi nhuận 04 dùng để chia 1000đ 127.429 127.308 212.181 159.135 341.730 cổ tức 3.378.8 7.024.33 1.278.20 3.513.91 3.039.06 05 Nộp NSNN 1000d 963.162 77 9 5 4 1 Thu nhập BQ 06 1000đ 799 1.068 1.413 1.398 1.420 1.500 (người/tháng) (Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động SXKD của công ty CP Cung ứng tàu biển từ khi CPH đến nay) * Qua bảng 1.3 ta nhận thấy sau CPH những năm đầu công ty kinh doanh tuy có khó khăn nhưng tình hình kinh doanh của công ty phát triển tương đối tốt, doanh thu tăng không đều nhưng hiệu quả kinh doanh qua các năm đều tăng, cổ tức chia cho cổ đông tăng theo từng năm, thu nhập bình quân của người lao động tăng, với mức tăng so với những năm đầu khi mới CPH là 30%, đóng góp cho ngân sách nhà nước lớn.
  14. 4) Công ty CP vật tư tổng hợp: (Vốn nhà nước chi phối 53,72%) (bảng 1.4). Công ty vật tư tổng hợp Đà Nẵng là DNNN được chuyển sang Công ty CP vật tư tổng hợp theo Quyết định số 141/QĐ-UB ngày 15 tháng 10 năm 2003 của UBND thành phố Đà Nẵng và bắt đầu chính thức đi vào hoạt động công ty CP từ tháng 01 năm 2004. Sau khi CPH những tháng đầu năm 2004 tình hình kinh doanh của đơn vị thực hiện tốt, thị trường, thị phần vẫn duy trì, thu nhập của người lao động ổn định. Nhưng đến cuối năm 2004 và đầu năm 2005 tình hình kinh doanh giảm sút nghiêm trọng, thị trường, thị phần bị thu hẹp do thiếu vốn hoạt động, tình hình tài chính mất cân đối, nợ bị chiếm dụng lớn không thu hồi được, kinh doanh thua lỗ, 6 tháng đầu năm 2006 hoạt động kinh doanh hoàn toàn ngưng hẳn, tài chính thâm hụt lớn, mất khả năng kinh doanh, đơn vị xin phá sản, đang chờ ý kiến của lãnh đạo thành phố Đà Nẵng. Bảng 1.4: Kết quả tình hình kinh doanh của Công ty CP Vật tư tổng hợp ĐN trước và sau khi cổ phần hóa. Các năm sau CPH STT Chi tiêu ĐVT Trước CPH Năm Năm 2004 2005 1000đ 232.000.000 144.800.00 01 Tổng doanh thu 67.700.000 0 02 Nộp NSNN 1000đ 57.000.000 2.300.000 1.700.000 03 Lợi nhuận 1000đ 50.000. - 518.200 - 1.400.000 Thu nhập bình 1000đ 1.050 04 1.300 850 quân (Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động SXKD của công ty CP Vật tư tổng hợp từ khi CPH đến nay) * Sau CPH tình hình kinh doanh của đơn vị đi xuống, doanh thu giảm, nộp ngân sách giảm, doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, thu nhập giảm mạnh, người lao động không có việc làm, đơn vị chuẩn bị phá sản.
  15. Qua tình hình kinh doanh 4 DN CPH trong ngành thương mại của TP Đà Nẵng ta nhận thấy, sau CPH các doanh nghiệp tập trung vào tiết kiệm chi phí, giảm giá thành sản phẩm để tăng lợi nhuận, chia cổ tức, chưa chú trọng đến vấn đề có ảnh hưởng đến hoạt động lâu dài của DN là thực hiện đổi mới công nghệ, đầu tư vốn vào phát triển SXKD. Chính vì vậy, bên cạnh những DN làm ăn có hiệu quả vẫn còn DN làm ăn kém hiệu quả như Công ty CP vật tư tổng hợp Đà Nẵng, ngoài nguyên nhân ban đầu như đã nêu là xác định giá trị DN không chính xác, quản lý tài chính lỏng lẻo, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý... doanh nghiệp không dám hoạt động vì càng hoạt động càng lỗ, không những thế, gần đây các nhà quản lý đã nhận thấy có một số DNNN sau khi CPH đã biến mất trên thương trường. Mặc dù số lượng DN này không nhiều song đây là hiện tượng tiêu cực, ảnh hưởng đến uy tín của DNNN CPH, đến chủ trương CPH của Đảng và Nhà nước cần được quan tâm khắc phục. 1.1.2. Tình hình tài chính Một trong những mục tiêu quan trọng của CPH là tạo khả năng huy động vốn của xã hội một cách linh hoạt nhằm khắc phục tình trạng thiếu vốn ở hầu hết các DN. Trước CPH các DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng phần lớn có quy mô vừa và nhỏ. Hầu hết các doanh nghiệp đều thiếu vốn hoạt động. Qua khảo sát, sau CPH tình hình tài chính của đa số các doanh nghiệp trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng được làm trong sạch, lành mạnh, hơn nữa nợ trước CPH được Nhà nước tham gia xử lý, những công nợ chuyển sang trước khi cổ phần các đơn vị tiếp tục xử lý thu hồi, đa số công nợ có thế chấp, có tài sản. Nợ sau CPH được xác định trách nhiệm rõ ràng và được qui định cụ thể trong Điều lệ hoạt động của các đơn vị; vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp đã tăng lên. Các đơn vị vẫn duy trì và giữ vững được sự tín nhiệm đối với ngân hàng, với các tổ chức tín dụng các khế ước vay vốn được trả đúng hạn. Tuy nhiên, tình hình vay vốn của các doanh nghiệp trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng sau khi CPH đang gặp rất nhiều khó khăn, Mặc dù Nhà nước qui định các công ty CP được vay vốn tín dụng tại ngân hàng thương mại, công ty tài chính và các tổ chức tín dụng khác của Nhà nước như các DNNN nhưng thực tế không hoàn toàn thuận
  16. lợi như văn bản quy định (Điều 26 Nghị định số 64/2004/NĐ-CP về doanh nghiệp nhà nước thành lập công ty cổ phần). Từ khi Nhà nước có chủ trương CPH, có tình trạng phân biệt đối xử trong hoạt động cho vay tín dụng của các ngân hàng thương mại nhà nước. Các DNNN có thể không cần thế chấp để được vay vốn, các DN CP là phải có tài sản để thế chấp, các thủ tục thế chấp tài sản ra công chứng kéo dài, chậm trễ, do các đơn vị cổ phần chưa được cấp giấy chứng nhận sở hữu nhà đất, tài sản hoặc không có đơn vị chủ quản bảo lãnh để vay tín chấp. Hơn nữa, ngân hàng luôn dè dặt, thận trọng khi cho công ty cổ phần đặc biệt là các công ty CP nhà nước không giữ CP chi phối vay vốn, do nhận thức các phương án kinh doanh của công ty CP không còn được cơ quan nhà nước phê duyệt phương án vay vốn. Bên cạnh đó, các nguồn vốn ưu đãi, các “đặc ân” của thành phố đối với doanh nghiệp cổ phần không còn như trước kia là DNNN, làm cho doanh nghiệp khó khăn về tài chính, đÔi khi “lỡ nhịp”, mất cơ hội trong các thương vụ kinh doanh. Qua khảo sát các doanh nghiệp trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng bên cạnh ¾ đơn vị (Công ty CP thương mại dịch vụ Đà Nẵng, Công ty CP Công nghệ phẩm Đà Nẵng, Công ty CP Cung ứng tàu biển Đà Nẵng) sau CPH tình hình tài chính được làm tương đối trong sạch, lành mạnh còn 01 doanh nghiệp (Công ty CP Vật tư tổng hợp Đà Nẵng) sau CPH tình hình tài chính hết sức khó khăn. Nguyên nhân khó khăn do khi tiến hành các bước thực hiện CPH không làm tốt khâu kiểm kê đánh giá lại tài sản doanh nghiệp. Theo quy định trước khi CPH Hội đồng thẩm định tài sản doanh nghiệp phải kiểm kê, đánh giá cụ thể hàng tồn kho, giá trị tài sản doanh nghiệp nhưng do chủ quan, chỉ đánh giá, kiểm kê lại tài sản doanh nghiệp trên giấy tờ, văn bản thiếu thực tế; sau CPH thiếu xây dựng Quy chế quản lý doanh nghiệp như quy chế sử dụng vốn, một số đơn vị để thua lỗ kéo dài không xử lý kịp thời, buông lỏng nguyên tắc quản lý tài chính. Bên cạnh đó, các đơn vị cấp dưới báo cáo thiếu trung thực, dấu lỗ...Những nguyên nhân cơ bản trên đã đưa doanh nghiệp đi đến phá sản, mất vốn của Nhà nước và cổ đông. Mặc dù đã được UBND thành phố Đà Nẵng đồng ý giải quyết cho bán một số tài sản lớn như nhà, xe ô tô để trả nợ vay ngân hàng, cùng với một số biện pháp khác của đơn vị nhưng vẫn không cứu vãn được tình hình, doanh nghiệp đang chuẩn bị làm các thủ tục phá sản.
  17. Qua khảo sát tình hình tài chính của các doanh nghiệp CP trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng như sau: Bảng 1.5: Tình hình tài chính của Công ty CP Thương mại Dịch vu Đà Nẵng Trước Năm Năm 6T STT Chỉ tiêu ĐVT CPH 2004 2005 2006 01 Vốn kinh doanh: Tỷ đồng 4,580 2,962 2,653 2,653 Trg đó:-Vốn Tỷ đồng 3,199 1,411 1,102 1,102 N.nước(%) Tỷ đồng 1,381 1,551 1,551 1,551 -Vốn DN (%) 02 Lợi nhuận trước thuế 1000đ 107.160 652.527 360.447 87.232 03 Lợi nhuận sau thuế 1000đ 107.160 652.527 360.447 87.232 04 Các khoản phải thu Tỷ đồng 20,369 10,090 11,105 13,271 05 Nợ phải trả Tỷ đồng 32,587 16,199 16,255 18,875 06 Cổ tức % % 0,6 0,6 0,6 (Nguồn: Báo cáo tình hình SXKD của đơn vị qua các năm) Bảng 1.6: Tình hình tài chính của Công ty CP Công nghệ phẩm Đà Nẵng Trước 6T STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2005 CPH 2006 01 Vốn kinh doanh: Tỷ 6.387 6.389 6.387 đồng Trg đó:-Vốn N.nước (%) 0 0 0 1000đ -Vốn DN (%) 6.387 6.387 6.387 1000đ 02 Lợi nhuận trước thuế 1000đ 88.400 251.000 03 Lợi nhuận sau thuế 1000đ 63.540 181.000 04 Nợ phải thu Tỷ 61.195 50.580
  18. đồng 05 Nợ phải trả Tỷ 113.412 84.479 đồng 06 Cổ tức % 5%/năm ( Nguồn: Báo cáo tình hình SXKD của đơn vị qua các năm) Bảng 1.7: Tình hình tài chính của Công ty CP Cung ứng tàu biển Đà Nẵng Trước Năm Năm Năm Năm Năm 6T TT Chỉ tiêu ĐVT CPH 2001 2002 2003 2004 2005 2006 01 Vốn kinh 4.818 5.304 5.304 5.304 5.304 5.695 5.695 doanh: 1000 3.590 3.590 3.590 3.854 3.854 Trg đó:- Vốn đ 1.714 1.714 1.714 1.840 1.840 N.nước (%) 1000 -Vốn DN (%) đ 02 LN trước thuế 1000 181.32 187.51 329.69 562.16 648.03 320.00 73.448 đ 4 8 1 4 5 0 03 LN sau thuế 1000 135.99 140.63 247.26 233.29 486.03 240.00 49.994 đ 3 9 8 6 6 0 04 Nợ phải thu 1000 2.220 3.200 2.600 2.400 5.402 2.344 2.200 đ 05 Nợ phải trả 1000 1.900 2.800 2.200 2.100 5.751 2.266 2.150 đ
  19. 06 Cổ tức % 0,20 0,20 0,33 0,25 0,50 0,70 (Nguồn: Báo cáo tình hình SXKD của đơn vị qua các năm) Bảng 1.8: Tình hình tài chính của Công ty CP Vật tư tổng hợp Đà Nẵng Năm STT Chỉ tiêu ĐVT Trước CPH Năm 2005 2004 01 Vốn kinh doanh: Trong đó:- Vốn N.nước 1000đ 2.109.000 2.149.000 2.149.000 (%) 1000đ 1.851.000 1.851.000 -Vốn DN (%) 02 Lợi nhuận trước thuế 1000đ 121.000 85.000 Lỗ 03 Lợi nhuận sau thuế 1000đ 80.000 5.000 Lỗ 04 Nợ phải thu 1000đ 22.737.706 05 Nợ phải trả 1000đ 36.981.000 06 Cổ tức %/năm 7,2% (Nguồn: Báo cáo tình hình SXKD của đơn vị qua các năm) * Đối với Công ty CP vật tư tổng hợp về vấn đề tài chính cần được phân tích làm rõ thêm như sau: - Năm 2004 tình hình hoạt động SXKD của doanh nghiệp vẫn được duy trì, đời sống cán bộ công nhân viên giữ được mức thu nhập đủ sống, tuy nhiên tình hình tài chính ở quí 4/2004 đã có dấu hiệu biểu hiện khó khăn do vốn bị chiếm dụng quá lớn. - Năm 2005 hoạt động SXKD giảm sút nghiêm trọng, tình hình tài chính mất cân đối, nợ bị chiếm dụng không thu hồi được, tình trạng bán nợ tràn lan hầu hết ở các đơn vị
  20. trực thuộc mà nhiều nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh. Người lao động mất việc làm, thu nhập chỉ còn 70% lương, hoạt động SXKD lỗ 1,4 tỷ. - Năm 2006 SXKD hoàn toàn bị ngưng hẳn vì không có vốn, doanh nghiệp chỉ tập trung thực hiện các biện pháp thu hồi vốn bán tài sản nhưng tình hình vẫn không được cải thiện, tài chính thâm thụt ngày càng lớn dẫn đến xin phá sản. 1.1.3. Tình hình về lao động, sắp xếp lao động Căn cứ phương án CPH về sắp xếp lao động, các doanh nghiệp trong ngành thương mại của thành phố ĐN đánh giá thực trạng của doanh nghiệp mình tại thời điểm đó để có phương án sắp xếp lại lao động, dự kiến số lao động tiếp tục làm việc tại công ty, số lao động tiếp tục tuyển dụng thêm hay giải quyết tiếp số lượng dôi dư là bao nhiêu người. Phân loại và lập phương án hỗ trợ kinh phí đào tạo lại theo quy định của Chính phủ. Nhìn chung, lực lượng lao động của các doanh nghiệp trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng sau CPH được sắp xếp lại trong cơ cấu tổ chức mới phù hợp với trình độ và khả năng của từng người, các doanh nghiệp cố gắng đảm bảo toàn bộ số cán bộ, công nhân viên và người lao động được bố trí việc làm, kiên quyết cắt giảm số lượng lao động gián tiếp không cần thiết. Ban hành các quy chế rõ ràng về nghĩa vụ và quyền lợi của người lao động, gắn tiền lương và thu nhập với chất lượng công việc. Do vậy, đã nâng cao năng suất lao động và tăng thu nhập cho người lao động (mặc dù có đơn vị doanh thu không tăng). Hầu hết người lao động trong các công ty cổ phần trong ngành thương mại ở TP ĐN đều là các cổ đông, được mua cổ phần với giá ưu đãi (đối với những cán bộ có tên trong danh sách lao động tại thời điểm CPH mỗi năm làm việc tại công ty được mua 10 cổ phần mệnh giá 100.000 đ vì mỗi cổ phần ưu đãi khi mua sẽ được Nhà nước hỗ trợ 30%). Người lao động trong các doanh nghiệp cổ phần trong ngành thương mại của TP ĐN đều gắn với đơn vị trên các lợi ích là thu nhập và cổ tức. Chính lợi ích kinh tế đã trở thành động lực mạnh mẽ, làm cho người lao động nâng cao ý thức trách nhiệm đối với công việc của mình cũng nh ư đối với hoạt động của doanh nghiệp. N goài ra, các đơn vị cũng rất chú trọng đến việc đ ào tạo cán bộ, chuyên môn n ghi ệp vụ, tổ chức tham dự đ ầy đủ các đợt học tập chính trị để nâng cao nhận thức về quan điểm đ ường lối của Đ ảng, các cán bộ quản lý được tạo đ iều kiện tham gia các
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2