intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Tư tưởng pháp quyền, dân chủ Hồ Chí Minh trong Tuyên Ngôn độc lập, Hiến pháp 1946 và những giá trị kế thừa

Chia sẻ: Trí Mẫn | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:108

12
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trên cơ sở của mục tiêu tổng quát, trong quá trình nghiên cứu đề tài cần đạt được những mục tiêu cụ thể sau đây: Cần làm rõ những nội dung cơ bản nhất trong Tuyên ngôn Độc lập 1945 và Hiến pháp năm 1946 thể hiện tư tưởng pháp quyền, dân chủ của Hồ Chí Minh; so sánh với lý luận chung về nhà nước pháp quyền, dân chủ ở các nước trên thế giới; trên sở so sánh đó để tìm ra những giá trị đã kết tinh trong Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp 1946 thể hiện tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật học: Tư tưởng pháp quyền, dân chủ Hồ Chí Minh trong Tuyên Ngôn độc lập, Hiến pháp 1946 và những giá trị kế thừa

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BÙI THỊ THUỲ LINH T¦ T¦ëNG PH¸P QUYÒN, D¢N CHñ Hå CHÝ MINH TRONG TUY£N NG¤N §éC LËP, HIÕN PH¸P 1946 Vµ NH÷NG GI¸ TRÞ KÕ THõA Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật Mã số: 60 38 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TSKH. ĐÀO TRÍ ÚC HÀ NỘI - 2014
  2. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Bùi Thị Thùy Linh
  3. MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 Chương 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN ................................... 6 1.1. Tư tưởng pháp quyền phương Tây ................................................ 6 1.2. Tư tưởng pháp quyền phương Đông ........................................... 13 1.3. Tư tưởng pháp quyền ở Việt Nam trong lịch sử trung cận đại...... 18 1.4. Nhận thức chung về nhà nước pháp quyền................................. 21 Chương 2: TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN, DÂN CHỦ CỦA HỒ CHÍ MINH TRONG TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP 1945 VÀ HIẾN PHÁP 1946 ..................................................................................... 33 2.1. Những nội dung tư tưởng chủ yếu của Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Hiến pháp 1946 ............................................................ 33 2.1.1. Hoàn cảnh ra đời cơ bản của Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Hiến pháp 1946 ................................................................................ 33 2.1.2. Những nội dung cơ bản của Tuyên ngôn độc lập 1945 và Hiến pháp 1946......................................................................................... 38 2.2. Giá trị lịch sử của Tuyên ngôn độc lập 1945 và Hiến pháp 1946 ... 43 2.2.1. Đề cao và bảo vệ quyền con người .................................................. 43 2.2.2. Xây dựng chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân .......... 54 2.2.3. Cơ chế tổ chức bộ máy nhà nước bảo đảm sự kiểm soát quyền lực ...... 59 2.2.4. Đảm bảo tinh thần thượng tôn pháp luật ......................................... 63
  4. Chương 3: GIÁ TRỊ KẾ THỪA TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN, DÂN CHỦ TRONG TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP 1945 VÀ HIẾN PHÁP 1946 TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Ở NƯỚC TA .......68 3.1. Những tiền đề, điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam ......................................................................................... 68 3.1.1 Tiền đề về tư tưởng và quan điểm ................................................... 68 3.1.2. Tiền đề chính trị ............................................................................... 69 3.1.3. Tiền đề kinh tế ................................................................................. 70 3.1.4. Tiền đề về cơ sở xã hội .................................................................... 70 3.2. Quan điểm xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân của Đảng cộng sản Việt Nam .................................................................................. 72 3.3. Những phương hướng cơ bản xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta ....... 84 3.3.1. Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và quản lý nhà nước ......................... 84 3.3.2. Nâng cao chất lượng hoạt động và kiện toàn tổ chức quốc hội .......... 87 3.3.3. Tiếp tục cải chính nền hành chính của nhà nước ............................ 89 3.3.4. Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ........... 92 3.3.5. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức .............................................. 93 3.3.6. Đẩy mạnh cải cách tư pháp .............................................................. 94 3.3.7. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ..................... 96 KẾT LUẬN .................................................................................................... 99 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 101
  5. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đối với Việt Nam, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền đang được đặt ra như một tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan. Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam bắt nguồn từ chính lịch sử xây dựng và phát triển của nhà nước ta. Ngay từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã và luôn là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật, luôn vận hành trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật. Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam xuất phát từ định hướng xã hội chủ nghĩa mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chính vì vậy tìm hiểu và nghiên cứu Tư tưởng pháp quyền, dân chủ Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập, Hiến pháp 1946 và những giá trị kế thừa hiện nay ở nước ta trở thành vấn đề vô cùng quan trọng và cấp thiết. Khi mà Đảng và nhà nước, nhân dân ta đã và đang quyết tâm xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân do dân và vì dân. Đây chính là lí do để em chọn đề tài: “Tư tưởng pháp quyền, dân chủ Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập, Hiến pháp 1946 và những giá trị kế thừa” để làm luận văn thạc sĩ của mình. 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.1. Mục tiêu tổng quát Mục tiêu tổng quát của việc nghiên cứu đề tài: “Tư tưởng pháp quyền, dân chủ Hồ Chí Minh trong Tuyên Ngôn độc lập, Hiến pháp 1946 và những giá trị kế thừa” sẽ làm cơ sở lí luận cho các nhà quản lí nhà nước. Từ đó hoạch định đề ra các phương hướng, biện pháp giải quyết, hoàn thiện hiến pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay theo mục tiêu xây dựng nhà nước của dân do dân và vì dân, đảm bảo người dân là chủ của đất nước. 1
  6. 2.2. Mục tiêu cụ thể Trên cơ sở của mục tiêu tổng quát, trong quá trình nghiên cứu đề tài cần đạt được những mục tiêu cụ thể sau đây: - Cần làm rõ những nội dung cơ bản nhất trong Tuyên ngôn Độc lập 1945 và Hiến pháp năm 1946 thể hiện tư tưởng pháp quyền, dân chủ của Hồ Chí Minh. - So sánh với lý luận chung về nhà nước pháp quyền, dân chủ ở các nước trên thế giới. - Trên sở so sánh đó để tìm ra những giá trị đã kết tinh trong Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp 1946 thể hiện tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh. Từ đó rút ra những giá trị kế thừa mà nhà nước ta cần phải tiếp thu và phát triển trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 3. Tính mới và những đóng góp của đề tài Pháp quyền, dân chủ là tư tưởng không phải mới mẻ trên thế giới. Đối với Việt Nam thì tư tưởng pháp quyền, dân chủ đã được Hồ Chủ Tịch tiếp thu các giá trị tư tưởng tiến bộ trên thế giới rồi Người kết tinh những giá trị đó trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946. Mặc dù đã qua gần 70 năm, thực tiễn cũng đã có nhiều tác giả, tác phẩm đã nghiên cứu đề tài này ở nhiều phương diện, khía cạnh và cấp độ khác nhau. Nhưng cho đến nay vẫn chưa có một tác giả và một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về đề tài này. Chính vì vậy đề tài "Tư tưởng pháp quyền, dân chủ Hồ Chí Minh trong Tuyên Ngôn độc lập, Hiến pháp 1946 và những giá trị kế thừa" vẫn còn được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện cả về mặt lí luận và thực tiễn. Đặc biệt hiện nay công cuộc sửa đổi hiến pháp lại càng cần thiết phải có những công trình nghiên cứu những giá trị tư tưởng pháp quyền dân chủ của Hồ Chủ Tịch trong Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp 1946 làm cơ sở lý luận để vận dụng, kế thừa những giá trị đó. 2
  7. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946. Qua phân tích tư tưởng pháp quyền, dân chủ trong hai văn bản trên đã đạt được để rút ra những giá trị kế thừa để xây dựng hiến pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. 4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Do điều kiện về thời gian và trong khuân khổ thạc sĩ chuyên ngành lí luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Do vậy với đề tài Tư tưởng pháp quyền, dân chủ Hồ Chí Minh trong Tuyên Ngôn độc lập, Hiến pháp 1946 và những giá trị kế thừa, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu những vấn đề chung nhất, tiêu biểu nhất dưới góc độ lịch sử và lý luận từ đó rút ra được những giá trị mà hiện nay Việt Nam cần phải kế thừa để xây dựng một nhà nước pháp quyền, dân chủ. 5. Ý nghĩa của Luận văn Với những kết quả của Luận văn, hi vọng rằng Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, lý luận của các luật gia, đồng thời sẽ là tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam về giá trị, ý nghĩa của tư tưởng pháp quyền, dân chủ Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập 1945 và Hiến pháp 1946. 6. Tình hình nghiên cứu Trong những năm những năm gần đây đã có một số đề tài, công trình nghiên cứu tư tưởng pháp quyền, dân chủ của Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập 1945, Hiến pháp 1946 và giá trị kế thừa hiện nay ở nước ta với mục đích, góc độ phạm vi tiếp cận khác nhau trong đó ít nhiều đề cập tới vấn đề học viên đang nghiên cứu. Các tài liệu học viên được tiếp cận gồm: 3
  8. - GS. TSKH Đào Trí Úc (Chủ biên): Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia 2005. - GS. TSKH Đào Trí Úc (Chủ biên): Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Nhà xuất bản Tư pháp 2006. - Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến, Một số tiểu luận của các học giả nước ngoài – Sách tham khảo, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội - Hiến pháp: Những vấn đề lý luận và thực tiễn- Sách chuyên khảo, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Ngoài ra, còn có một số bài viết của các chuyên gia luật học liên quan đến đề tài luận văn đã được đăng trên các tạp chí - đặc san Luật học, trên trang tin điện tử của Chính phủ, Bộ tư pháp, một số bài viết về tư tưởng pháp quyền, dân chủ của Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập 1945, Hiến pháp 1946. Tài liệu và bài viết của các tác giả trên đã có những đóng góp đáng kể trong trong việc hoàn thiện các quy định của Hiến pháp về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Qua tham khảo đã giúp học viên có thêm những kinh nghiệm quý để triển khai những vấn đề, nội dung chưa được đề cập, tiếp cận sâu. 7. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luận văn là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác- Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Ngoài ra luận văn còn kết hợp sử dụng tổng hợp các biện pháp cơ bản sau: - Phương pháp phân tích- tổng hợp; - Phương pháp so sánh; - Phương pháp liệt kê; - Phương pháp thống kê; - Phương pháp xã hội học và các phương pháp hỗ trợ khác... 4
  9. 8. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn dự kiến có bố cục như sau: Chương 1: Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng về nhà nước pháp quyền. Chương 2: Tư tưởng pháp quyền, dân chủ Hồ Chí Minh thể hiện trong Tuyên ngôn Độc lập 1945, Hiến pháp 1946. Chương 3: Giá trị kế thừa tư tưởng pháp quyền, dân chủ trong Tuyên ngôn Độc lập 1945 và Hiến pháp 1946 trong giai đoạn hiện nay ở nước ta. 5
  10. Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 1.1. Tư tưởng pháp quyền phương Tây Tư tưởng nhà nước pháp quyền đã hình thành sớm trong lịch sử tư tưởng chính trị - pháp lý của nhân loại và ngày càng được bổ sung với những nội dung mới. Nhiều người lầm tưởng nhà nước pháp quyền là một hình thức nhà nước – một nhà nước đạt trình độ cao. Thực chất nhà nước pháp quyền không phải một hình thức nhà nước, mà là một phương thức quản lý, điều hành nhà nước: Quản lý, điều hành bằng pháp luật. Tư tưởng nhà nước pháp quyền xuất hiện từ thời cổ đại ngay từ khi xã hội nguyên thủy tan ra, chuyển sang xã hội chiếm hữu nô lệ. Cùng với sự phát triển của nền văn minh Hy Lạp – La Mã, các nhà tư tưởng đã tìm kiếm những nguyên tắc, những hình thức, cơ chế trong sự tương hỗ giữa pháp luật với tổ chức và hoạt động của nhà nước, nhằm có được một phương thức quản lý, điều hành nhà nước hiệu quả, đáp ứng mục đích cao đẹp của con người. Nhà nước pháp quyền là học thuyết về việc tổ chức và hoạt động nhà nước được sinh ra trong phong trào đấu tranh để giải phóng nhân loại khỏi chế độ phong kiến chuyên chế do các học giả phương Tây đưa ra vào thế kỷ XVIII - XIX mặc dù tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã sớm hình thành từ thời cổ đại, người ta đã tìm kiếm các nguyên tắc, hình thức và cơ chế để thiết lập mối quan hệ qua lại, sự phụ thuộc lẫn nhau, sự tác động qua lại giữ pháp luật và quyền lực. Nói đến nhà nước pháp quyền là nói đến một nhà nước được tổ chức hài hòa giữa quyền lực và pháp luật, tôn trong tính tối cao của luật. Do vậy người ta thường gắn Nhà nước pháp quyền với dân chủ. Vào thế kỷ VI trước Công nguyên, nhà thông thái Xôlông đã đưa ra tư tưởng táo bạo và 6
  11. không thể chấp nhận với thời bấy giờ khi người ta coi pháp luật hoàn toàn thuộc về kẻ mạnh. Ông đã diễn đạt tư tướng đó của mình… Ta giải phóng tất cả mọi người bằng quyền lực của pháp luật, bằng sự kết hợp sức mạnh với pháp luật. Xôlông đã đưa ra những nguyên tắc tổ chức nhà nước, mong sao có sự nhượng bộ cho nhân dân, hạn chế những đặc quyền, đặc lợi của giới quý tộc. Dân chúng có những quyền nhất định như quyền bầu ra những người cai quản mình, quyền giám sát họ. Ông cho rằng, đất nước chỉ có thể thanh bình nếu như có những đảm bảo: chính quyền mạnh và có pháp luật, chỉ có pháp luật mới đảm bảo được trật tự và sự hòa hợp. Trong nhà nước pháp quyền thì không chỉ đảm bảo việc tôn trọng pháp luật mà còn phải đảm bảo pháp luật chứa đựng nội dung công bằng, của công lý và của số đông. Platon cho rằng: Chúng ta thừa nhận những nơi mà luật được định ra vì lợi ích của một số người, thì ở đó không có chế độ nhà nước, chỉ có thể gọi là nhà nước khi có sự công bằng. Tiếp nhận một cách xứng đáng những thành quả của người thầy của mình. Arixtốt cho rằng, nơi nào không có sức mạnh của luật thì nơi đó không có hình thức nhà nước. Theo ông khái niệm công bằng gắn liền với quan niệm của nhà nước, bởi vì pháp luật – tiêu chuẩn của sự công bằng là quy phạm điều chỉnh của giao tiếp chính trị. Ông lên án việc cầm quyền không tuân theo luật, chà đạp lên đạo luật, mưu toan thống trị bằng bạo lực [28]. Tới đầu Công nguyên, Xixenron tiến thêm một bước: Các đạo luật do nhà nước quy định phải phù hợp với tính công minh và quyền tự nhiên vì: Sự phù hợp chính là tiêu chuẩn để đánh giá tính công minh của chúng. Người điều hành công việc nhà nước phải công minh, sang suốt, phải hiểu biết những nguyên lý cơ bản của pháp luật; nếu không có những năng lực đó thì người ta không thể công minh được. Tư tưởng nhà nước pháp quyền phát triển thành hệ thống từ sau thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế, độc 7
  12. tài. Thời kỳ này, các nhà tư tưởng không chỉ đề cao pháp luật mà còn nâng cao tinh thần pháp luật trong nhà nước và xã hội. Linbéc đòi xóa bỏ chế độ nhà nước quân chủ và cùng với nó là quyền lực tập trung ở nhà vua, tách quyền lập pháp khỏi quyền hành pháp, bảo đảm pháp chế dân chủ tư sản và quyền tự do dân chủ. Còn theo Spinoza xã hội sẽ tốt đẹp hơn khi nó được xây dựng trên cơ sở một khế ước chuyển sức mạnh và quyền của mỗi con người thành sức mạnh chung của toàn xã hôi; ông chủ trương xây dựng một nhà nước mà trong đó quyền lực tối cao thuộc cơ quan đại diện ban hành luật và kiểm tra việc tuân thủ luật. Thừa kế và phát triển tư tưởng pháp luật, tinh thần pháp quyền của xã hội Jonh Locke vạch ra nguy cơ của sự tùy tiện và xâm phạm từ phía quyền lực nhà nước đối với các quyền tự do của con người bắt nguồn từ độc quyền của người cầm quyền. Ông đặc biệt đề cao chủ quyền nhân dân, chủ quyền của nhân dân cao hơn, quan trọng hơn. Chủ quyền của nhà nước do nhân dân lập nên, việc điều hành nhà nước phải có đạo luật và dựa trên các đạo luật do nhân dân tuyên bố. Jonh Locke đã đưa ra ba kết luận quan trọng. Quyền lực nhà nước về bản chất là quyền lực của dân. Quyền lực của dân là cơ sở, nền tảng của quyền lực nhà nước. Trong quan hệ với dân, về bản chất nhà nước không có quyền mà chỉ là thực hiện sự ủy quyền của dân [28]. Nhà nước – xã hội chính trị -xã hội công dân, thực chất là một “khế ước xã hội”, trong đó các công dân nhượng một phần quyền lực của mình để hình thành quyền lực chung – quyền lực nhà nước. Nhà nước với quyền lực chung đó là điều hành, quản lý xã hội nhằm bảo toàn quyền lực tự nhiên của mỗi cá nhân công dân. Vì thế, mỗi khi hợp đồng bị vi phạm, chính quyền làm sai, lạc mục đích của hợp đồng, khi đó công dân có quyền hủy bỏ “khế ước” đã ký. Bảo toàn quyền tự nhiên của mỗi cá nhân con người đó cũng là tiêu chí căn bản xác định giới hạn và phạm vi hoạt động của nhà nước. Đi qua giới 8
  13. hạn này, chính quyền dễ trở thành chuyên chế, kẻ thù của tự do, đối tượng của cách mạng. Tư tưởng chính trị của Jonh Locke gắn liền với các sự kiện tiến bộ trong lịch sử phát triển của nhân loại suốt thể kỷ XVIII, XIX. Các nhà lịch sử tư tưởng chính trị đều coi ông là “người cha của chủ nghĩa tự do” [28]. Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” Montesquieu không chỉ làm rõ tính tất yếu của pháp luật trong điều hành nhà nước, mà còn đòi hỏi nhà nước phải sử dụng luật có hiệu lực và hiệu quả. Theo ông, tự do chính trị của công dân đó là quyền mà người ta có thể làm mọi cái mà pháp luật cho phép. Như vậy tự do chính trị chỉ có ở những quốc gia mà tất cả các quan hệ đều được pháp luật công nhận, pháp luật như vậy đã trở thành thước đo tự do. Nhưng pháp luật sẽ bị phá bỏ nếu những người nắm quyền lực tối cao lạm quyền. Trong khi đó, “kinh nghiệm thực tế từ bao thế kỷ đều cho thấy rằng những người nắm quyền lực đều có thiên hướng lạm quyền” mà cách hữu hiệu nhất để chống lạm quyền là chống độc quyền, là phân chia để cho “quyền lực kiềm chế quyền lực” [19]. Khi đó sự tối cao của pháp luật được đảm bảo, công dân được tự do. Montesquieu chủ trương thể chế chính trị tư do phải là thể chế chính trị mà trong đó, quyền lực tôi cao được phân chi thành 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sao cho 3 quyền ấy cân bằng và kiềm chế lẫn nhau. Theo Rousseau, xã hội phải lập ra khế ước và mọi người phải tuân thủ khế ước đó. Quyền lực nhà nước thuộc về xã hội, nó phải là quyền lập pháp và hành pháp. Quyền lập pháp là ý chí của nhà nước, quyền hành pháp thể hiện sức mạnh của nhà nước, nó thuộc về ai là do nhân dân quyết định. Bên cạnh đó có một cơ quan đặc biệt để bảo vệ pháp luật, đó là tòa án. Nhà triết học Kant nâng cao thêm một bước về bản chất và ý nghĩa của nhà nước pháp quyền. Theo ông, nguồn gốc của các đạo luật có tính pháp quyền và hợp đạo đức chính là lý trí thực tế hay ý chí tự do của con người; pháp luật là cái bảo đảm quan hệ văn minh giữa người với người; nhà nước là 9
  14. sự hợp nhất của nhiều người biết phục tùng các đạo luật có tính pháp quyền nhằm bảo vệ trật tự xã hội. Theo Kant, quan hệ văn minh đó thể hiện ở sự bình đẳng của mỗi công dân trước pháp luật. Điều đó nói lên chủ quyền của công dân trong nhà nước. Chủ quyền đó chỉ được thực hiện trên thực tế thông qua sự phân công quyền lực nhà nước. Chỉ có sự phân công và phối hợp hài hòa giữa 3 quyền mới ngăn ngừa được sự chuyên chế, độc tài. Tinh thần pháp quyền của nhà nước, của xã hội cũng được nâng lên một tầm mới trong tư tưởng của Heeghen. Trong triết học pháp quyền, Heeghen cho rằng nhà nước pháp quyền là nhà nước do các yếu tố xã hội công dân, trật tự pháp luật và các đạo luật mang tính pháp quyền tạo ra. Đối lập với nhà nước pháp quyền là nhà nước cực quyền với cấu trúc của nó là các yếu tố xã hội khép kín, bộ máy nhà nước quan lieu và hệ thống pháp luật mang tính chất mệnh lệnh, tùy tiện. Tư tưởng nhà nước pháp quyền thời kỳ cận đại tiếp thu, phát triển các tư tưởng của các nhà tư tưởng, nhà triết học, nhà chính trị, đặc biệt là của Jonh Locke, Montesquieu, Kant, Heeghen, chúng được phát triển ngày càng sâu sắc trong tư tưởng của các nhà chính trị học, nhà luật học như Tô mát Jêphécxơn tác giả của Tuyên ngôn độc lập Mỹ năm 1776, Tô mát Pen, Jon Addam, JemMe đi xơn [28]. Điểm chung của các nhà tư tưởng thời cận đại là: Nhà nước tổ chức, vận hành trên cơ sở pháp luật, nó phải tuân thủ pháp luật, đặt mình dưới pháp luật. Mặc dù pháp luật là do chính nhân dân đặt ra. Tư tưởng nhà nước pháp quyền thời cận đại thực sự trở thành nền tảng lý thuyết cho việc xây dựng, tổ chức và hoạt động của hầu hết các quốc gia trên thế giới, nó đem lại những thành tựu to lớn trong phát triển xã hội. Tư tưởng nhà nước pháp quyền cũng là một cơ sở cho Mác – Ăngghen hình thành tư tưởng triết học pháp quyền của mình. 10
  15. Trong quá trình nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội. Mác và Ăngghen chưa đi sâu vào những vấn đề cụ thể của nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên trong các tác phẩm của họ, ta thấy Mác và Ăngghen đưa ra những quan điểm khái quát về nhà nước, nó trở thành nền móng cho xây dựng tư tưởng về nhà nước pháp quyền kiểu mới. Phê phán quan điểm của Heeghen, Mác cho rằng xã hội mà người dân cần là xã hội dân chủ, ở đó nhà nước là công cụ quản lý, điều hành xã hôi. Đó là xã hội tự do. Pháp luật thực sự là công cụ, phương tiện của nhân dân và của bản thân nhà nước để thực hiện mục đích và yêu cầu dân chủ. Mác nhấn mạnh, dưới chế độ dân chủ không phải con người vì pháp luật mà pháp luật tồn tại vì con người. Trong tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Mác và Ăngghen phê phán bản chất pháp luật tư sản: “pháp luật của các ông là ý chí của giai cấp các ông được nâng lên thành luật, cái ý chí mà nội dung là do những điều kiện vật chất và đời sống của giai cấp các ông quyết định” [28]. Theo Mác và Ăngghen, pháp luật phản ánh ý chí của giai cấp, nhưng mặc khác nó cũng là giá trị của xã hội là thước đo hành vi của mọi thành viên trong xã hội, hướng đến lợi ích chung của toàn xã hội. Pháp luật không vượt qua điều kiện kinh tế xã hội, xã hội không lấy pháp luật là cơ sở, pháp luật biểu hiện lợi ích và nhu cầu chung của xã hội [28]. Nhà nước pháp quyền đảm bảo chủ quyền của nhân dân, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, ngay cả khi cơ quan nhà nước thực hiện quyền lực của mình chỉ là đại diện chủ quyền của nhân dân. Khi phê phán Heeghen, Mác chỉ rõ nếu nhà nước có chủ quyền, vì đại biểu cho sự thống nhất của nhân dân, thì bản thân nhà vua cũng chỉ là người đại biểu cho chủ quyền của nhân dân, là tượng trưng của chủ quyền đó. Chủ quyền của nhân dân không phải là cái phát sinh từ chủ quyền của nhà vua mà ngược lại, quyền của nhà vua dựa trên chủ quyền của nhân dân. 11
  16. Nhà nước, bằng pháp luật phải đem lại dân chủ thực sự cho nhân dân, cho nên theo Mác phải có cơ chế ngăn ngừa sự tùy tiện lạm quyền của công chức nhà nước. Mác chưa bàn sâu về vấn đề nhân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, nhưng ông cơ bản nhất trí với Heeghen về vấn đề phân chia quyền lực nhà nước, vị trí vai trò của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mác đã vượt lên khi ông cho rằng việc phân chia quyền lực nhà nước không chỉ đơn thuần là sự phân chia máy móc mà là sự phân chia có sức sống và hợp lý [28]. Nếu mọi người bình đẳng trước pháp luật thì pháp luật phải là tối thượng. Mọi thành viên trong xã hội, từ công chức nhà nước đến mọi người dân, đều phải tuân thủ pháp luật. Chỉ có như vậy, pháp luật mới trở thành chuẩn mực chung, thước đo hành vi của mọi công dân. Mác nhấn mạnh “không một người nào, ngay cả nhà lập pháp ưu tú nhất cũng không được đặt cá nhân cao hơn luật pháp do mình bảo vệ, Tính tối thượng của pháp luật trong xã hội được Mác phân tích sâu sắc khi nói đến thẩm quyền của Quốc hội. Quốc hội là cơ quan lập pháp, nhưng bản thân Quốc hội không có quyền nào hết, nhân dân chỉ ủy thác cho Quốc hội quyền bảo vệ nhân dân. Lý luận nguyên thủy về nhà nước pháp quyền là lý luận nhà nước pháp quyền tư sản với hạt nhân cấu thành của nó là thuyết phân quyền. Chính nó đã góp phần tạo lập những nguyên tắc căn bản cho việc hình thành những nhà nước pháp quyền tư sản đầu tiên trên thế giới vốn được xem như những chuẩn mực về tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng chống tập quyền độc đoán, cực đoan và vi phạm dân chủ, quyền con người. Tuy nhiên, càng về sau, lý luận đó đã không còn giữ nguyên được những giá trị chỉ dẫn ban đầu của nó trong thời đại ngày càng phát triển đa dạng và nhanh chóng. Nhiều nhà nước tư sản sau này cũng đã nhìn thấy trong lý thuyết phân quyền cổ điển những hạn chế để không áp dụng nguyên si nó trong điều kiện của mình và của thời đại. Xây 12
  17. dựng nhà nước pháp quyền là một tất yếu khách quan của lịch sử, các nhà kinh điển trên thế giới đã cho ta thấy nhà nước pháp quyền là một trong những giá trị xã hội quý báu được tích lũy và phát triển trong lịch sử tư tưởng nhân loại và đã đưa ra mô hình theo thuyết tan quyền phân lập. Tuy nhiên ở mỗi quốc gia khác nhau có sự vận dụng một cách sáng tạo phù hợp với điều kiện của quốc gia đó [28]. 1.2. Tư tưởng pháp quyền phương Đông Lịch sử về tư tưởng nhà nước pháp quyền không chỉ tìm thấy ở các nước phương Tây mà còn tìm thấy ở phương Đông trong đó có Trung Quốc và Việt Nam. Trong lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới cũng đã tồn tại một loại hình tư tưởng gần với Nhà nước pháp quyền. Đó là nhà nước pháp trị. Loại hình nhà nước này đối lập với nhà nước pháp trị. Những tư tưởng của hai loại hình nhà nước này được sinh ra ở phương Đông trong thời kỳ nhà nước Trung Quốc cổ đại. Nhà tư tưởng lớn nhất thời Trung quốc cổ đại – Khổng Tử (551-479 trước công nguyên) đã xây dựng một học thuyết Nho giáo với nội dung đức trị. Sau đó Mạnh Tử, Tuân Tử, Đổng Trọng Thư và các đồ đệ khác bổ sung hoàn chỉnh đạo Khổng, đề cao “Nhân” và “Lễ”, nghĩa là lấy nhân ái mà trị quốc và khuyên dạy người ta làm những điều hợp với lễ nghĩa, cư xử đóng đạo lý trong các quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng. Trong đó, lấy tu nhân làm gốc, bởi vậy nó không cần tới pháp luật. Nội dung cơ bản cách thức cai trị của Nho giáo là đức trị, đề cao quy phạm đạo đức để điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội. Đề ra các chính sách nhằm thiết lập tôn ty, đẳng cấp, bắt dưới phục tùng trên, mạt sát người lao động, đề cao quyền lực của hoàng đế. Đức trị, lễ trị, nhân trị là một tính chất đặc trưng của pháp luật Trung Quốc cổ đại, dung quy phạm đạo đức để duy trì trật tự xã hội của giai cấp cầm quyền. 13
  18. Đối lập với thuyết đức trị của Khổng Tử, thuyết pháp trị của các nhà luật học phái pháp gia do Quản Trọng, Thương Uyển, Thân Bất Hại, Thận Đáo đề xướng Hàn Phi Tử phát triển và hoàn chỉnh. Nội dung cơ bản và quan điểm cai trị của học thuyết là chỉ thừa nhận pháp luật và nghiêm hình phạt. Vì vậy không thừa nhận Nho giáo. Theo thuyết pháp trị thì Vua trị nước phải có ba yếu tố đó là pháp, thế, thuật. Nghĩa là pháp luật, mệnh lệnh và chiếu chỉ của vua là khuôn mẫu của thiên hạ, nhằm trang trị, răn đe dân phải sợ, phải tuân theo. Vua phái có thế, phải tạo ra quyền uy, quyền tuyệt đối cho mình. Vua phải có thuật dùng người và chế độ thưởng phạt. Một khi vua đã có đủ ba yếu tố pháp, thế, thuật thì vua phải chuyên quyền, độc đoán, thẳng tay dùng nghiêm hình phạt để cai trị [28]. Nêu như đạo Khổng muốn xây dựng đế chế Trung Quốc bao gồm tất cả mọi dân tộc và quốc gia trên trái đất, thì thuyết pháp trị đề ra những biện pháp thích hợp để đi đến mục tiêu đó. Chính vì thế, đến triều đại nhà Hán, hai học thuyết đó hợp lai với nhau trở thành hệ thống chính trị pháp lý của nhà nước phong kiến Trung Quốc tồn tại suốt 2000 năm. Mô hình pháp luật Trung Quốc ảnh hưởng lớn đến các nước phương Đông từ thời cổ đại, trung đại, cận đại và cho đến nay. Nhà nước pháp trị của Trung Quốc không phải là nhà nước pháp quyền, mặc dù ở đấu cùng đề cao pháp luật. Nhà nước pháp trị là luận điểm của các pháp gia Trung Quốc cổ đại, mà đặc biệt là Hàn Phi Tử. Nhà nước có điểm tiến bộ là đã chống lại nhà nước đức trị đã ngự trị hàng nghìn năm trước đó của hệ tư tưởng của đạo Khổng. Hình phạt chỉ dành cho hạng thứ dân mà bậc trượng phu không phải chịu hình phạt. Nguyên tắc pháp trị chỉ dành cho bậc thần dân nô lệ, với sự phục tùng đối với pháp luật tối thượng của nhà Vua. Đó là sự bồi đắp lại quan điểm ngự trị lúc bấy giờ “Nhân chi sơ vốn bản ác vụ lợi và ích kỷ”. Điều này có nghĩa là phải dùng pháp luật mới cai trị được tính ích kỷ và vụ lợi của các quan lại và các thần dân. 14
  19. Những người theo trường phái pháp gia tuy đều có tư tưởng chung là đề cao vai trò của pháp luật, nhưng không phải giữa họ có lập trường hoàn toàn giống nhau. Thương Ưởng là đại diện cho một phái: Chủ trương dùng pháp luật để trị nước; phái Thân Bát Hại chủ trương dùng thế; phải Hàn Phi Tử chủ trương dùng thuật nhưng cũng kết hợp chủ trương của Thương Ưởng và Thân Bất Hại [28]. Hàn Phi Tử cho rằng, trong việc trị nước thì pháp luật là cái quan trọng nhất: “Không có nước nào luôn luôn mạnh, cũng không có nước nào luôn luôn yếu. Hễ những người thi hành pháp luật mà mạnh thì nước mạnh, còn hễ những người thi hành pháp luật mà yếu thì nước yếu” [28]. Mọi việc làm của Vua đều phải dựa vào pháp luật, ngay cả việc tiến cử người giữ những chức vụ nhất định cũng vậy: Bậc vua sáng khiến pháp luật chọn người chứ không tự mình tiến cử, khiến pháp luật đo lường công lao chứ không tự mình tính toán. Kẻ có tài năng không thể bị che đậy; kẻ kém không thể tô vẽ; kẻ được khen không thể tiến chức, kẻ bị chê không thể bị đẩy lùi. Như thế giữa vua với tôi phân biệt rõ ràng và nước dễ cai trị. Chỉ cần nhà vua theo pháp luật là có thể làm được như thế [28]. Một khi pháp luật đã được ban hành thì việc thi hành pháp luật phải như nhau đối với mọi người, có nghĩa là mọi người kể cả vua cũng bình đẳng trước pháp luật. Theo Hàn Phi Tử: Pháp luật không hùa theo người sang. Sợi dây dọi không uấn mình theo cây gỗ cong. Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ, kẻ dũng cũng không dám tránh. Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu. Cho nên, điều sửa chữa được sai lầm của người trên, trị được cái gian của kẻ dưới, trừ được loạn, sửa được điều sai, thống nhất 15
  20. đường lối của dân không có gì bằng pháp luật…. Kẻ làm vua nếu bỏ pháp luật mà làm theo ý riêng thì trên dưới không phân biệt [28]. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần thấy rằng, Hàn Phi Tử chưa có quan điểm rõ ràng về bản chất của pháp luật. “Luật” của Hàn Phi Tử chính là “phép tắc của tiên vương”. Nhà Vua trị nước bằng pháp luật chính là bằng những quy định do nhà vua ban ra. “Luật” theo tư tưởng của Hàn Phi Tử là chuẩn mực, là thước đo việc làm của quan, của dân và kể cả của Vua. Thế nhưng cái gì làm chuẩn mực của “Luật” thì Hàn Phi Tử không nói tới. Hàn Phi Tử thiên về chức năng “trừng phạt” của pháp luật pháp luật là cái để ngăn cấm việc riêng tư sai lầm vượt ra ngoài pháp luật. Hình phạt nghiêm là để cho lệnh được thi hành và trừng trị cấp dưới. Cái uy không thể cho mượn, cái quyền không thể cho mượn, cái quyền không cùng chung với người khác. Nếu uy quyền chung với người khác thì bọn gian tà nhan nhản. Pháp luật không chắc chắn thì nhà Vua bị nguy, hình phạt không quyết đoán thì không thắng được kẻ gian….. Điều dung để răn đe các quan, ra uy với dân, khiến sự dâm dật phải lùi, điều dối trá bị chặn, không gì bằng hình phạt. Hình phạt nặng thì không ai dám lấy sang kinh hèn. Đương nhiên, theo Hàn Phi Tử, khi dung pháp luật để trừng phạt kẻ làm bậy cũng phải hết sức thận trọng cũng như khi xét thưởng cho người có công lao. Ông nói: Cho nên bậc vua sáng không khen thưởng bừa, không tha việc trừng phạt. Khen thưởng bừa bãi thì những bầy tôi có công lao bỏ bê công việc của mình. Tha việc trừng phạt thì bọn gian thần dễ làm bậy. Cho nên, nếu như người ta quả thực có công thì dù là người xa và hèn hạ cũng cứ thưởng. Nếu người ta quả thực phạm sai lầm thì dù là người gần và yêu vẫn cứ trị. Nếu người gần và yêu cũng cứ trị thì người xa và hèn hạ cũng không dám lười biếng và những người gần và được yêu cũng không dám kiêu căng [28]. 16
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2