
74
Chương 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP& HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY
HỌC
I. GIỚI THIỆU
Từ những tư tưởng, quan điểm chung về dạy học do chương 1 cung cấp, SV tiếp tục nghiên
cứu để nắm vững những vấn đề cơ bản về cách thức tổ chức, điều khiển quá trình dạy học.
II. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
Sau khi học xong chương này, SV sẽ:
1. Về kiến thức
Hiểu:
- Cách thiết kế chương trình dạy học: phân tích tình hình, xác định mục tiêu và thiết
kế chương trình dạy học.
- Khái niệm, các loại, ưu-nhược điểm và các yêu cầu cần tuân thủ khi sử dụng các
phương pháp dạy học cơ bản.
- Khái niệm, ưu-nhược điểm và các yêu cầu cần tuân thủ khi sử dụng các hình thức tổ
chức dạy học cơ bản.
2. Về kỹ năng
- Nghiên cứu hệ thống tri thức cơ bản, hiện đại về cách thức tổ chức quá trình dạy học
(cách xác định mục tiêu, các cách thiết kế chương trình, sử dụng phương pháp, phương tiện
và hình thức tổ chức dạy học) đạt hiệu quả.
- Liên hệ thực tiễn về cách thức tổ chức quá trình dạy học hiện nay (liên hệ việc xác
định mục tiêu, thiết kế nội dung và sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động
dạy học hiện nay ra sao? Tốt, chưa tốt chỗ nào? Vì sao? Hướng khắc phục).
- Rút ra được những bài học sư phạm cần thiết từ những kiến thức cơ bản về cách thức
tiến hành quá trình dạy học và từ thực tiễn dạy học có liên quan.
- Thiết kế (dưới dạng phác thảo những ý cơ bản) mục tiêu, nội dung chương trình dạy
học; lựa chọn, sử dụng các phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức quá trình dạy học
thông qua hoạt động học tập, thực hành môn học và các hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư
phạm (qua giảng dạy môn học) khác.
- Ghi chép và nhận xét để học hỏi kinh nghiệm giảng dạy từ các tiết học trên lớp.
3. Thái độ
- Có quan điểm duy vật biện chứng trong nghiên cứu, liên hệ, vận dụng và thông báo
những kiến thức cơ bản về các thức tổ chức hoạt động dạy học.
- Có ý thức, thái độ tích cực trong việc tìm hiểu kiến thức về cách thức tổ chức hoạt
động dạy học có hiệu quả qua chương 2 làm cơ sở để tiếp tục cập nhật sự hiểu biết này một
cách khoa học, có hệ thống trong quá trình đào tạo sư phạm và trong hoạt động dạy học môn
học sau này.
- Tích cực tham gia các hoạt động học tập và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm nói chung,
rèn luyện kỹ năng dạy học nói riêng do khoa, bộ môn, GV giảng dạy môn học tổ chức hay do

75
lớp, nhóm hoặc bản thân tự tổ chức.
- Có ý thức chuẩn bị kỹ năng dạy học theo yêu cầu chuẩn được đào tạo đối với GV bộ môn.
III. NỘI DUNG
Chương này bao gồm những tri thức cụ thể về cách thức tổ chức quá trình dạy học:
- Thiết kế chương trình dạy học (phân tích tình hình, xác định mục tiêu và thiết kế
chương trình dạy học)
- Các phương pháp dạy học
- Các hình thức tổ chức dạy học
2.1. THIẾT KẾ CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC
Trên cơ sở quan điểm tiếp cận nội dung học vấn, chương trình dạy học được thiết kế
và phát triển. Thiết kế và phát triển chương trình dạy học thường diễn ra theo quy trình bao
gồm: phân tích tình hình (phân tích các điều kiện, các đòi hỏi đối với dạy học), xây dựng
mục tiêu, thiết kế, thực hiện, đánh giá và điều chỉnh chương trình dạy học.
Trong quy trình trên, thiết kế chương trình bao gồm: phân tích tình hình, xác định mục
tiêu và thiết kế chương trình. Còn phát triển chương trình bao hàm cả thực hiện, đánh giá và
điều chỉnh chương trình. Dạy học trong điều kiện phát triển của xã hội hiện nay đòi hỏi
không chỉ dừng lại ở thiết kế mà phải thường xuyên có sự điều chỉnh chương trình cho phù hợp.
Nếu mục tiêu dạy học được đề cập đến với nhiều cấp độ từ khái quát đến cụ thể khác
nhau thì chương trình dạy học cũng được xây dựng tương ứng như vậy.
Mục tiêu dạy học (MTDH) - Chương trình dạy học (CTDH)

76
Dưới đây đề cập đến việc thiết kế chương trình dạy học của GV thể hiện ở hai cấp độ
cụ thể cuối cùng.
Quá trình thiết kế chương trình dạy học của GV bao gồm:
- Phân tích tình hình
- Xây dựng mục tiêu dạy học
- Thiết kế chương trình dạy học
2.1.1. Phân tích tình hình
Phân tích tình hình là quá trình xem xét những điều kiện, những đòi hỏi bên trong và
bên ngoài chi phối quá trình dạy học nói chung và thiết kế chương trình dạy học nói riêng.
?. Từ cấu trúc của quá trình dạy học theo quan điểm của Jean Vial (tr 18) hãy phân
tích những điều kiện bên trong và bên ngoài chi phối việc thiết kế chương trình dạy học của
người GV.
2.1.1.1. Những điều kiện, đòi hỏi bên ngoài
Quá trình dạy học vận hành và phát triển trong mối quan hệ tương tác với môi trường.
Do đó, khi thiết kế chương trình dạy học cần xem xét, phân tích những điều kiện, những đòi
hỏi từ thành tố môi trường bên ngoài đối với quá trình dạy học.
- Những điều kiện:
+ Điều kiện về cơ sở vật chất-kỹ thuật như: trường sở, phòng thí nghiệm-thực hành,

77
xưởng thực tập...
+ Điều kiện về thông tin bao gồm: thư viện, phòng máy tính, công nghệ thông tin...
+ Điều kiện về quản lý nhà trường như: quản lý hành chính, tài chính, học chính, quản
lý nhân lực...và cơ chế điều hành bộ máy như luật lệ, nội quy, phân công, phân cấp...
- Những đòi hỏi của:
+ Sự hội nhập, hợp tác, trao đổi...quốc tế
+ Gia đình, cộng đồng, xã hội, kinh tế, văn hóa, sản xuất, kinh doanh, thiết kế, nghiên
cứu, dịch vụ...
+ Nhà trường: hoạt động giáo dục, nghiên cứu, phục vụ, quản lý...
2.1.1.2. Những đòi hỏi bên trong chi phối việc thiết kế chương trình dạy học
Trong ngũ giác sư phạm, chương trình dạy học, thuộc thành tố nội dung dạy học, có
tác động qua lại với bốn thành tố còn lại Do đó, khi thiết kế chương trình dạy học cần xem xét
những đòi hỏi đối với chương trình dạy học của các thành tố khác có liên quan như:
+ Mục tiêu dạy học
+ Phương pháp dạy học
+ Học sinh-đối tượng và đồng chủ thể của quá trình dạy học.
+ Khả năng của bản thân GV (và tập thể GV bộ môn)
Phần trình bày dưới đây đề cập đến hai bước còn lại trong thiết kế chương trình, đó là:
xây dựng mục tiêu và thiết kế chương trình dạy học.
2.1.2. Xây dựng mục tiêu dạy học
Các mục tiêu dạy học được xây dựng (trong quá trình dạy học) thường tập trung trình
bày những gì HS cần đạt được ở cuối mỗi đơn vị giảng dạy. Do đó, mục tiêu học tập là cái
đích cuối cùng của quá trình dạy học. Thiết lập những đích học tập cụ thể, rõ ràng cho HS là
bước đầu tiên của người GV trong quá trình dạy học. Để xây dựng mục tiêu học tập cần trả
lời được các câu hỏi sau: Căn cứ vào đâu để xây dựng mục tiêu học tập?Có các tiêu chí nào
giúp xác định chính xác mục tiêu học tập? Nên xây dựng mục tiêu học tập như thế nào?
2.1.2.1. Xác định các căn cứ để xây dựng mục tiêu học tập
?. Dựa vào đâu để xây dựng mục tiêu học tập?
Khi xác định mục tiêu học tập cho HS, GV có thể căn cứ vào các nguồn mục tiêu học
tập dưới đây:
- Căn cứ vào các phép phân loại mục tiêu học tập của các tác giả thể hiện trong các tài liệu
Có nhiều phép phân loại mục tiêu học tập. Mỗi phép phân loại có những hạn chế nhất
định song chúng vẫn có những giá trị giúp GV hình dung ra một danh sách các mục tiêu học
tập với những động từ chỉ hành động rõ ràng. Theo James và một số tác giả khác, có thể
tham khảo, so sánh nhiều phép phân loại mục tiêu học tập khác nhau để từ đó lựa chọn, hòa
trộn và phóng tác mục tiêu học tập của mình cho phù hợp (chứ đừng cho rằng phải sử dụng
toàn bộ một hệ thống phân loại mục tiêu học tập đơn nhất nào). (Tham khảo một số phép
phân loại mục tiêu dạy học ở Phụ lục 1).
- Căn cứ vào mục tiêu giáo dục-đào tạo con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay;

78
mục tiêu của ngành học, bậc học, cấp học được thể hiện ở Luật Giáo dục (2005)
Mục tiêu giáo dục ở cấp độ này phản ánh một cách khái quát và toàn diện những yêu
cầu chung đề ra cho mọi người, mọi đối tượng. Căn cứ này giúp cho việc xác định mục tiêu
học tập đảm bảo tính toàn diện và phù hợp với nhu cầu đào tạo con người của xã hội Việt
Nam. Tuy nhiên, đây lại là mục tiêu quá chung chung.
- Căn cứ vào chương trình dạy học nói chung và chương trình dạy học môn học nói riêng
Chương trình dạy học nói chung và chương trình dạy học môn học nói riêng là văn
bản do nhà nước ban hành trong đó có xác định mục tiêu học tập.
Mục tiêu học tập được xác định trong chương trình dạy học của ngành học, bậc học,
cấp học và từng môn học hiện nay đã đảm bảo sự nhất quán và bao gồm ba mục tiêu học tập:
mục tiêu tri thức, mục tiêu kỹ năng và mục tiêu thái độ. Căn cứ này giúp các GV xác định
được phương hướng, đảm bảo sự thống nhất và nhất quán khi xác định mục tiêu học tập cho
các quá trình dạy học của họ. Nhưng đây vẫn là mục tiêu được xác định chung cho tất cả HS
của ngành học, bậc học, cấp học và các lớp học trên phạm vi toàn quốc chứ chưa phải mục
tiêu học tập cụ thể cho HS từng vùng, từng địa phương hay từng loại trường, lớp.
- Căn cứ vào SGK và sách GV
SGK là tài liệu chính để GV giảng dạy và HS học tập. Bản thân việc biên soạn SGK
đã phải tuân thủ mục tiêu giáo dục-đào tạo cấp học. Do đó, dù trong SGK có trình bày mục
tiêu học tập hay không thì qua nghiên cứu nội dung bài dạy trong SGK, GV cũng có thể hình
dung ra mục tiêu học tập hiện diện trong đó. Đi kèm theo SGK là sách hướng dẫn GV. Thông
thường sách hướng dẫn GV phải thiết kế mục tiêu học tập cho từng bài học hay chủ đề. Tuy
nhiên, các SGK và sách GV cũng mới chỉ đưa ra những mục tiêu học tập ở cấp độ chung áp
dụng cho tất cả các lớp học trên phạm vi toàn quốc.
- Mục tiêu học tập được xác định trong SGK và các TLHT, giảng dạy chưa phải là
nguồn duy nhất, tốt nhất đối với mục tiêu học tập của từng quá trình dạy học cụ thể. GV phải
xem xét những mục tiêu có liên quan trực tiếp đến tình hình giảng dạy của mình. Cho nên
nghiên cứu mục tiêu giáo dục của địa phương, phương hướng hoạt động của nhà trường, của
lớp học để xác định mục tiêu học tập cụ thể là việc làm cần thiết của người GV.
2.1.2.2. Xây dựng các tiêu chí lựa chọn mục tiêu học tập
?. Các tiêu chí nào giúp GV lựa chọn mục tiêu học tập?
Theo James (2005), có các tiêu chí giúp GV đánh giá sự chính xác của các mục tiêu
học tập được xây dựng. Các tiêu chí đó bao gồm:
- Xác lập một lượng đủ các mục tiêu cho từng thời lượng và đơn vị giảng dạy (một
năm, một học kỳ, một đơn vị giảng dạy, một bài).
- Xác lập mục tiêu học tập toàn diện mô tả được các loại hình học tập quan trọng của
đơn vị giảng dạy.
- Xác lập mục tiêu học tập phản ánh mục đích giáo dục của nhà trường, địa phương,
đất nước.
- Xác định mục tiêu học tập cao nhưng khả thi, mục tiêu học tập phải thách thức HS
và có được cấp độ kết quả cao nhất.
- Xác lập mục tiêu học tập nhất quán với những nguyên tắc và động cơ học tập của HS.

