intTypePromotion=1

Một số vấn đề về lỗi ngữ dụng và việc dạy học ngoại ngữ

Chia sẻ: ViKakashi2711 ViKakashi2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
11
lượt xem
1
download

Một số vấn đề về lỗi ngữ dụng và việc dạy học ngoại ngữ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung bài viết luận bàn về lỗi ngữ dụng trong giao tiếp liên văn hóa. Trong một số tình huống cụ thể cho thấy, hiểu nhầm dụng ý của người phát ngôn, sự chuyển di gây ra ảnh hưởng tiêu cực từ tiếng mẹ đẻ, khái quát hóa, suy luận dập khuôn một cách máy móc trong ngữ đích, không hiểu rõ đặc trưng văn hóa tâm lý dân tộc là những nguyên nhân gây ra các lỗi sai về mặt ngữ dụng. Trên cơ sở này, chúng tôi nêu ra những gợi ý liên quan đến dạy học ngoại ngữ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện tại.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Một số vấn đề về lỗi ngữ dụng và việc dạy học ngoại ngữ

PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LỖI NGỮ DỤNG<br /> VÀ VIỆC DẠY HỌC NGOẠI NGỮ<br /> CẨM TÚ TÀI<br /> Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN<br /> <br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Nội dung bài viết luận bàn về lỗi ngữ dụng trong giao tiếp liên văn hóa. Trong một số tình huống cụ thể<br /> cho thấy, hiểu nhầm dụng ý của người phát ngôn, sự chuyển di gây ra ảnh hưởng tiêu cực từ tiếng mẹ<br /> đẻ, khái quát hóa, suy luận dập khuôn một cách máy móc trong ngữ đích, không hiểu rõ đặc trưng văn<br /> hóa tâm lý dân tộc là những nguyên nhân gây ra các lỗi sai về mặt ngữ dụng. Trên cơ sở này, chúng tôi<br /> nêu ra những gợi ý liên quan đến dạy học ngoại ngữ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện tại.<br /> Từ khóa: dạy học ngoại ngữ, giao tiếp liên văn hóa, lỗi ngữ dụng<br /> <br /> <br /> <br /> 1. ĐẶT VẤN ĐỀ nhau [4]. Ngữ dụng học giao tiếp liên văn hóa<br /> phân tích chi tiết qua các nội dung sau đây:<br /> Hiệu quả giao tiếp ngôn ngữ không đạt tới<br /> ngưỡng chuẩn do một phần nguyên nhân xuất 2.1. Lỗi ngữ dụng trong sự khác biệt tương tác<br /> phát từ lỗi ngữ dụng. Về bản chất, lỗi ngữ dụng ngôn ngữ<br /> không phải là lỗi sai của cấu trúc ngữ pháp gây<br /> ra, chủ yếu là do sự thiếu hụt về tính chuẩn mực, Trong giao tiếp ngôn ngữ, người phát ngôn<br /> không phù hợp với ngữ cảnh, phong cách và thói thường căn cứ theo ngữ cảnh, tình huống để lựa<br /> quen diễn đạt trong giao tiếp giữa các cộng đồng chọn ngôn từ nhằm diễn đạt chuẩn xác dụng ý<br /> của mình. Nếu người phát ngôn sử dụng từ ngữ<br /> ngôn ngữ gây ra. Nội dung bài viết bàn thảo sơ<br /> thiếu chính xác, hoặc sử dụng từ ngữ gây ra<br /> bộ về một số lỗi ngữ dụng và việc dạy học ngoại<br /> những cách hiểu khác nhau, sẽ khiến cho người<br /> ngữ, nhằm góp phần giúp người sử dụng ngoại<br /> nghe có thể hiểu nhầm ý nghĩa của phát ngôn.<br /> ngữ có thêm sự cảm nhận về tính chuẩn mực và<br /> Cũng có những trường hợp do người nghe hiểu<br /> tính hiệu quả của việc vận dụng ngôn từ trong<br /> nhầm dụng ý, ý tại ngôn ngoại của người phát<br /> giao tiếp. ngôn, dẫn đến lỗi ngữ dụng trong giao tiếp. Ví dụ:<br /> 2. BIỂU HIỆN CỦA LỖI NGỮ DỤNG TRONG (1) Sorry, I haven’t finished it yet. *Could you wait for<br /> GIAO TIẾP a while?<br /> Lỗi ngữ dụng thường xảy ra trong giao tiếp xã hội (Xin lỗi thày em vẫn chưa làm xong. *Thày có thể<br /> và sử dụng ngôn ngữ, liên quan đến tính chuẩn đợi thêm một lát được không ạ?)<br /> mực trong sự khác biệt và sự ảnh hưởng tương<br /> tác ngôn ngữ, cùng các yếu tố văn hóa dân tộc Trong phát ngôn trên, người nói dường như muốn<br /> và thói quen giao tiếp trong các ngôn ngữ khác thỉnh cầu đối phương chờ thêm một lát để hoàn<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 2 - 7/2016 23<br /> v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY<br /> <br /> <br /> thành nốt công việc sắp sửa kết thúc. Tuy nhiên, khách thứ hai, “when” đã gây ra cách hiểu khác<br /> trong tình huống người nói là học sinh chưa hoàn nghĩa, khiến lái xe hiểu nhầm dụng ý. Nếu hành<br /> thành bài tập, mong muốn xin giáo viên gia hạn khách thứ hai dùng cách nói “what time” (mấy<br /> cho một vài ngày nữa làm xong để nộp, đã diễn giờ), sẽ tránh gây ra cách hiểu nhầm này.<br /> đạt nhầm ý “extend the deadline a few days” (gia<br /> hạn thêm một vài ngày nữa) thành “*wait for a Trong ví dụ (1), (2) và (3) đều xảy ra lỗi ngữ dụng<br /> while” (*đợi thêm một lát), gây ra lỗi ngữ dụng về sử dụng từ ngữ trong những tình huống giao tiếp<br /> mặt từ ngữ. cụ thể. Nguyên nhân phát sinh lỗi sai là do người<br /> phát ngôn nhận định chủ quan cho rằng người<br /> Trong tình huống của giờ dạy, giáo viên đưa ra thụ ngôn có thể hiểu được lời nói của mình, hoặc<br /> yêu cầu sau: bản thân người thụ ngôn hiểu nhầm dụng ý của<br /> người phát ngôn.<br /> (2) Giáo viên: Who would like to answer the<br /> question? - Thuc? 2.2. Lỗi ngữ dụng trong giao tiếp xã hội<br /> <br /> (Ai sẵn sàng trả lời câu hỏi này? - Thục trả lời được chứ?) Lỗi ngữ dụng trong giao tiếp xã hội chủ yếu xuất<br /> phát từ sự thiên lệch về những khác biệt trong<br /> Thục: No, I wouldn’t. (Không ạ, em chưa sẵn sàng) qui ước, chuẩn mực nghi thức, phong tục tập<br /> quán khi tiến hành giao tiếp liên văn hóa giữa<br /> Dụng ý ngữ vi của giáo viên là đề nghị đích danh<br /> hai cộng đồng ngôn ngữ. Ví dụ, trong tình huống<br /> Thục, chứ không phải là người khác trả lời câu<br /> một người phương Tây khen cô gái là người Á<br /> hỏi, nhưng Thục lại hiểu nhầm, cho rằng giáo viên<br /> Đông mặc bộ trang phục đẹp:<br /> chỉ đơn thuần hỏi có thích hay không thích trả lời<br /> câu hỏi. (4) Người khen: That’s a lovely dress you have on!<br /> (Trang phục bạn đang mặc rất đẹp)<br /> Chúng ta tiếp tục quan sát đối thoại trong tình<br /> huống lái xe taxi đang chở khách trên đường đến Cô gái: No, no. It’s just a very ordinary dress. (Ồ<br /> Hà Nội. Theo yêu cầu của hành khách thứ nhất, không. Chỉ thường thôi mà)<br /> hành khách thứ hai đã truyền đạt tới lái xe như sau:<br /> Câu nói phù hợp với tình huống giao tiếp này<br /> (3) Hành khách 1: Ask the drive what time we get của cô gái phải là “Thank you” (xin cảm ơn bạn).<br /> to Hanoi. Rõ ràng lời đáp của cô gái chịu sự chi phối của<br /> tính cách khiêm nhường, hay có thói quen hạ<br /> (Hỏi tài xế xem mấy giờ chúng ta sẽ đến Hà Nội)<br /> thấp bản thân theo phong cách giao tiếp người<br /> Hành khách 2: Could you tell me when we get to Á Đông, dẫn đến lỗi ngữ dụng. Điều này có thể<br /> Hanoi, please? khiến cho người phương Tây hiểu thành hàm ý<br /> ám chỉ, diễu cợt họ thiếu kiến thức về thẩm mỹ,<br /> (Khi nào đến Hà Nội xin hãy nói cho chúng tôi được biết) không phân biệt được thế nào là trang phục đẹp.<br /> <br /> Láixe:Don’tworry,it’sabigandcrowdedcity,I’lltellyou. Sự khác biệt về bối cảnh văn hóa, đặc trưng văn<br /> hóa, tâm lý dân tộc có lúc cũng gây ra lỗi ngữ<br /> (Các ông đừng lo, Hà Nội là thành phố lớn và đông dụng trong giao tiếp. Ví dụ nếu người bán hàng<br /> đúc. Khi tới nơi tôi sẽ bảo các ông) theo thói quen hỏi khách hàng là người phương<br /> Tây đến mua hàng bằng câu hỏi:<br /> Trong giao tiếp trên, hành khách thứ nhất muốn<br /> được biết vào lúc mấy giờ (what time) sẽ đến Hà (5) What do you want? (Anh/ chị cần mua thứ gì?)<br /> Nội, nhưng lái xe lại hiểu yêu cầu của hành khách<br /> thứ hai là “lúc nào đến Hà Nội hãy nói với họ một Người phương Tây cho rằng câu hỏi như vậy<br /> tiếng để được biết”. Trong phát ngôn của hành không được lịch sự. Thông thường người phương<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 24 Số 2 - 7/2016<br /> PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v<br /> <br /> <br /> <br /> Tây sẽ hỏi: “Can I help you?” (Tôi có thể giúp được gì Người phương Tây thường cho rằng, phương<br /> cho ông/ bà?) hoặc “What can I do for you?” (Tôi có thức giao tiếp (7) và (8) trên đây không phù hợp<br /> thể hỗ trợ gì cho ông/ bà?) với chuẩn mực giao tiếp, nhưng để đảm bảo<br /> nguyên tắc hợp tác về lượng trong giao tiếp, họ<br /> Hoặc khi gặp người bạn phương Tây mua về khá thường yêu cầu người phát ngôn giải thích tường<br /> nhiều đồ, theo thói quen chúng ta thường nói: tận hơn: “So what?” (Sao vậy?) hoặc “Then do you<br /> want me to do something for you?”(Sau đây em cần<br /> (6a) Oh, you’ve bought so much! (Ồ, bạn mua được<br /> tôi làm gì cho em?)<br /> nhiều đồ nhỉ!)<br /> Lỗi ngữ dụng trong giao tiếp còn xảy ra trong tình<br /> (6b) What a lot you have bought! (Bạn mua được<br /> khá nhiều đồ đấy nhỉ!) huống người phát ngôn không lưu ý đến thân<br /> phận và địa vị của người thụ ngôn, như chú trọng<br /> Tuy nhiên người bạn phương Tây sẽ không cho quá mức tới nguyên tắc lịch sự trong giao tiếp,<br /> rằng đây là những câu nói mang hàm ý ngưỡng ngay cả đối tượng giao tiếp là người thân quen. Ví<br /> mộ. Do vậy, câu nói (6a) và (6b) đều không phù dụ, khi mượn sách của bạn thân, không cần thiết<br /> hợp với tâm lý tiếp nhận của người bạn phương phải diễn đạt quá mức trịnh trọng, khiến cho đối<br /> Tây này. phương cảm thấy giao tiếp bị gò bó, khuôn sáo:<br /> <br /> Người Á Đông thường có lối nói vòng vo, rào (9) Would you be kind enough to lend it to me? (Bạn sẽ<br /> đón, đưa đẩy, tránh ngay lập tức đi thẳng vào vấn không cảm thấy phiền toái gì khi cho tôi mượn chứ?)<br /> đề chính, và coi đây cũng là một trong những<br /> nguyên tắc lịch sự trong giao tiếp. Ví dụ trong tình Hoặc khi đề nghị người lái xe tắc xi đưa ra sân bay,<br /> huống đối đáp lời mời của người phương Tây, chỉ cần nói: “Airport, please” (Hãy chở tôi đến sân<br /> xuất phát từ phép lịch sự, theo thói quen, chúng bay) thay cho lối diễn đạt dập khuôn, dài dòng<br /> ta thường đưa ra những câu trả lời mang hàm ý dưới đây:<br /> mơ hồ, không rõ ràng. Ví dụ:<br /> (10) Excuse me, would you mind taking me to the<br /> (7) A: Will you have a cup of coffee? (Bạn sẽ dùng airport? (Xin lỗi, anh không cảm thấy phiền hà khi<br /> một tách cà phê chứ?) chở tôi ra sân bay chứ?)<br /> <br /> B: Thank you! (Cảm ơn!) Trong giao tiếp thường nhật có sự khác biệt trong<br /> văn hóa phương Đông và phương Tây. Với người<br /> Với tình huống này, A sẽ cảm thấy rất khó nắm lạ hay mới quen biết, người phương Tây không<br /> bắt được ý muốn của bạn để tiếp tục xử lý, quyết<br /> có thói quen đưa ra những câu hỏi liên quan tới<br /> định chuẩn bị, hoặc gọi cà phê cho bạn. Câu trả lời<br /> vấn đề riêng tư của đối phương, như về thu nhập,<br /> rõ ràng cho A thông thường phải là “Yes, please”<br /> tuổi tác, tôn giáo, quan điểm chính trị, tình trạng<br /> (Vâng, xin sẵn lòng), hoặc là “No, thanhk you” (Tôi<br /> hôn nhân. Ở Việt Nam và một số nước Á Đông<br /> không dùng đâu, cảm ơn bạn!).<br /> khác lại cho rằng, những câu hỏi như vậy thuộc<br /> Có tình huống học sinh muốn nhờ thày giáo về các chủ điểm giao tiếp thông thường, thể hiện<br /> người phương Tây chữa giúp bài viết, đã diễn đạt: sự thân thiện, quan tâm tới đối phương [2]. Do<br /> vậy, những lời chào hỏi theo thói quen giao tiếp<br /> (8) I wonder if you are free or not. I’ve never written Á Đông trong ví dụ (11) và (12) dưới đây với người<br /> such an essay before, so I’ve probable made lots of phương Tây có thể gây ra những phiền muộn, khó<br /> mistakes. chịu, dường như tự do cá nhân đang bị xâm phạm:<br /> <br /> (Em không rõ là thày có thời gian hay không? Từ (11) Where are you going? (Bạn đi đâu đấy?)<br /> trước tới giờ em chưa từng viết bài luận nào như<br /> vậy, chắc là sẽ có rất nhiều lỗi sai) (12) Have you had your meal? (Bạn ăn cơm chưa?)<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 2 - 7/2016 25<br /> v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY<br /> <br /> <br /> Phân tích các ví dụ trong những tình huống cụ ngữ chủ yếu chỉ chú trọng tới khâu truyền đạt,<br /> thể trên cho thấy, hiểu nhầm dụng ý của người tiếp thu kiến thức ngôn ngữ, đặt biệt là từ vựng<br /> phát ngôn, sự chuyển di gây ra ảnh hưởng tiêu và ngữ pháp. Người học tiếp thu từ vựng, sau<br /> cực từ tiếng mẹ đẻ, việc khái quát hóa, suy luận đó dập khuôn, lắp ghép vào các cấu trúc ngữ<br /> dập khuôn một cách máy móc trong ngữ đích, pháp và luyện tập mẫu cấu trúc. “Trong dạy học<br /> nắm không vững đặc trưng văn hóa tâm lý dân ngoại ngữ thường tồn tại khuynh hướng đánh<br /> tộc là những nguyên nhân gây ra các lỗi sai về đồng giữa hình thức ngôn ngữ và chức năng giao<br /> mặt ngữ dụng trong giao tiếp. tiếp… khiến cho người học suy luận nhầm là, muốn<br /> ra lệnh thì nhất định phải sử dụng câu cầu khiến;<br /> 3. MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ LỖI NGỮ DỤNG muốn hỏi thì nhất nhất phải dùng câu nghi vấn”<br /> TRONG DẠY HỌC NGOẠI NGỮ [1]. (In foreign language teaching the tendency is<br /> to assume an equation between linguistic form and<br /> Mục đích của việc dạy học ngoại ngữ là sử dụng communicative function… learners are commonly<br /> được ngữ đích một cách thành thạo và đúng misled into thinking that commands are general<br /> chuẩn trong giao tiếp. Bên cạnh kiến thức ngôn associated with imperative sentences and questions<br /> ngữ nói chung, người học càng cần nắm vững with interrogative sentences). Thực tế giao tiếp có<br /> kiến thức ngữ dụng. Trong quá trình sử dụng những tình huống cần xử lý linh hoạt, sử dụng<br /> ngoại ngữ, lỗi sai về kiến thức ngôn ngữ thuộc phương thức diễn đạt rút gọn là đã đảm bảo về<br /> về bề nổi, dễ nhận diện và chỉnh sửa. Người học lượng thông tin trong giao tiếp. Nếu quá máy<br /> có thể mắc lỗi sai về ngữ pháp, dùng sai từ, phát móc vận dụng cấu trúc đầy đủ đã học sẽ phát<br /> âm và ngữ điệu chưa chuẩn xác. Người thụ ngôn sinh ra lỗi ngữ dụng như ví dụ (9) và (10) nêu trên,<br /> dễ dàng nhận ra và thường có thái độ đối xử bao hoặc gây ra những cách hiểu khác nhau về dụng<br /> dung, tha thứ. Vì đa phần người thụ ngôn hiểu ý của người phát ngôn. Ví dụ:<br /> được, với người học, đây chỉ là ngoại ngữ, ngôn<br /> ngữ thứ hai. Lí do phát sinh lỗi có thể là do người (13) Have you seen Binh lately? (Gần đây anh có<br /> học chưa nắm vững, đầy đủ và thành thạo ngoại gặp Bình đấy chứ?)<br /> ngữ. Kiến thức này có thể bổ khuyết và thông qua<br /> thực hành, rèn luyện để đạt chuẩn. Tuy nhiên, với (14) Seen Binh lately? (Gần đây anh có gặp Bình chứ?)<br /> lỗi sai về mặt ngữ dụng, sẽ gây ra hiệu ứng tiêu<br /> cực khó đoán định hậu quả trong giao tiếp. Nếu Trong câu (13) người thụ ngôn có thể hiểu theo<br /> không chú ý đến ngữ cảnh giao tiếp, sử dụng nhiều ý khác nhau như hỏi, thỉnh cầu, phản vấn<br /> ngôn từ không phù hợp, thiếu chuẩn mực, dễ gây tu từ hoặc cảm thán. Tuy nhiên, trong câu rút gọn<br /> ra hiện tượng đường đột, thất thố, mạo phạm (14) người thụ ngôn sẽ chỉ hiểu theo hàm ý thỉnh<br /> đến đối phương, gây ra sự phản cảm, khó chấp cầu: “người phát ngôn thỉnh cầu đối phương<br /> nhận từ đối phương. Thậm chí đối phương còn cung cấp tình hình gần đây về Bình”.<br /> có thể nhận định người phát ngôn có những ý đồ<br /> không lành mạnh, thiếu tư chất. Hậu quả dẫn đến Phương pháp dạy học ngoại ngữ truyền thống<br /> giao tiếp khó diễn ra một cách thuận lợi, hơn nữa thường ít chú ý tới giá trị giao tiếp của ngôn ngữ,<br /> còn có thể thất bại. chưa nhấn mạnh cho người học nắm bắt được<br /> phương pháp phát ngôn như thế nào? Nói lúc<br /> 3.1. Nhận định sơ bộ về lỗi sai ngữ dụng của nào là phù hợp? Nói với đối tượng nào? Nói về nội<br /> người học dung gì? Lựa chọn những ngôn từ nào? Ví dụ có<br /> những tình huống do không nắm bắt được đặc<br /> Quan sát và phân tích lỗi ngữ dụng của người trưng tâm lý độ tuổi, khen ngợi đối phương là<br /> học, chúng tôi nhận thấy lỗi sai của người học phụ nữ chưa đến tuổi 40 ăn mặc trông trẻ và đẹp,<br /> ngoại ngữ có liên quan tới vấn đề tăng cường bồi nhưng kết quả lại gây ra hiệu ứng ngược:<br /> dưỡng kiến thức ngữ dụng và nâng cao năng lực<br /> giao tiếp liên văn hóa trong dạy học. Trong một (15) You look nice and younger wearing this dress.<br /> khoảng thời gian khá dài, việc dạy học ngoại (Bạn trông trẻ hơn và rất xinh khi mặc bộ đồ này)<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 26 Số 2 - 7/2016<br /> PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v<br /> <br /> <br /> <br /> Đương nhiên khen người có độ tuổi 50 trở lên là Anh “Holiday” (ngày nghỉ, kỳ nghỉ), có nguồn gốc<br /> trẻ sẽ khiến cho đối phương có tâm lý thích thú và từ Kinh thánh “holy+day” (ngày của Chúa), trong<br /> hứng khởi. Tuy nhiên, với phụ nữ chưa đến 40 tuổi ngày này mọi người được nghỉ ngơi và đến nhà<br /> lại đưa ra lời khen như vậy sẽ khiến họ nghĩ nếu thờ cầu nguyện. Như vậy, người học sẽ nắm bắt<br /> bình thường không ăn vận như vậy sẽ trông già được cấu tạo từ và tín ngưỡng tôn giáo ở nước Anh.<br /> và xấu, hoặc đây chỉ là câu khen chiếu lệ, không<br /> thực chất. Nâng cao năng lực giao tiếp liên văn hóa cho<br /> người học<br /> Trong một số tình huống, xuất phát từ nguyên tắc<br /> lịch sự, sử dụng lối nói gián tiếp nhiều khi có hiệu Trong dạy học ngoại ngữ, cần có những phân<br /> quả hơn là dùng lối nói trực tiếp: tích thấu đáo về lỗi ngữ dụng, giải thích rõ về các<br /> nguyên tắc ngữ dụng nên lưu ý trong giao tiếp<br /> (16a) Why don’t you come over? (Tại sao bạn lại liên văn hóa, phân tích những nhân tố văn hóa,<br /> không đến đó?) tâm lý gây ảnh hưởng đến ngữ cảnh sử dụng<br /> ngôn ngữ, đối chiếu, so sánh sự tương đồng và<br /> (16b) Come over! (Đến đó đi!) khác biệt dụng học giữa tiếng mẹ đẻ và ngoại<br /> ngữ để giúp người học tránh được những lỗi<br /> (17a) The door is open. (Cửa đang mở đấy) sai như các trường hợp đã nêu ở trên. Ví dụ, qua<br /> đối chiếu, ta có thể thấy được sự tương đồng và<br /> (17b) Close the door! (Đóng cửa lại!) những khác biệt về mặt giá trị của câu hỏi và lời<br /> chào trong tiếng Việt và tiếng Anh.<br /> Cách diễn đạt ở ví dụ (16a) và (17a) có hàm ý uyển<br /> chuyển, lịch sự hơn trong biểu thức ngữ vi thể (18) Bạn đi học à ? (thay cho lời chào)<br /> hiện sự cầu khiến và ra lệnh so với cách diễn đạt ở<br /> ví dụ (16b) và (17b). (19) Are you going to school ? (Bạn đi học đấy à?) (là<br /> câu hỏi)<br /> 3.2. Một số vấn đề liên quan trong dạy học<br /> ngoại ngữ hiện nay Cơ chế chào hỏi như trong ví dụ (18) của người<br /> Việt là một yếu tố mang đậm tính văn hóa. Người<br /> Tăng cường bồi dưỡng kiến thức ngữ dụng cho Việt chào bằng cách hỏi hay nói một cách khác là<br /> người học đặt một câu hỏi thay cho lời chào. Chính cơ chế<br /> này đã làm cho câu hỏi trong tiếng Việt trở thành<br /> Thực tế giao tiếp và hiện trạng dạy học ngoại ngữ một trong những phương tiện phổ biến để thực<br /> cho thấy, cùng với dạy học kiến thức ngôn ngữ, hiện hành vi chào: các câu hỏi trong tiếng Việt,<br /> cần tăng cường dạy học kiến thức, bồi dưỡng chỉ với một điều kiện duy nhất là phù hợp với tình<br /> nâng cao kiến thức ngữ dụng cho người học. huống giao tiếp đều có thể trở thành biểu thức<br /> Trong thực trạng dạy học ngoại ngữ trong nước chào hỏi [3]. Giá trị này không có trong câu hỏi<br /> hiện nay, chúng ta đều có thể nhận thấy sự thiếu tiếng Anh, như ở ví dụ (19). Kết quả của công việc<br /> hụt ngữ cảnh, tình huống giao tiếp ngôn ngữ đối chiếu này có thể tạo điều kiện giúp người học<br /> thực tiễn. Chính vì vậy, trong thực tiễn dạy học, biết cách chào hỏi và đặt câu hỏi một cách phù<br /> giáo viên có thể căn cứ theo yêu cầu về nội dung hợp trong giao tiếp với người bản ngữ tiếng Anh.<br /> môn học, trình độ, giai đoạn học tập của người<br /> học để lựa chọn, kết hợp thêm các phương pháp Năng lực và kỹ năng giao tiếp, ứng xử liên văn<br /> và cách thức bổ sung kiến thức ngữ dụng qua hóa thường được cụ thể hóa qua việc giao tiếp<br /> dạy học các nội dung về văn hóa, lịch sử, phong ngoại ngữ bằng lời nói và ngôn ngữ cử chỉ. Trong<br /> tục tập quán, đặc điểm giao tiếp, tâm lí dân tộc... dạy học ngoại ngữ, giáo viên cần phân tích thấu<br /> của đất nước ngữ đích. Ví dụ, khi dạy học từ vựng, đáo cho người học nắm được những nhân tố liên<br /> giáo viên có thể kết hợp phương thức cấu tạo từ quan đến giao tiếp liên văn hóa. Ví dụ, trong quan<br /> với việc truyền đạt kiến thức văn hóa: từ tiếng hệ công việc, việc áp dụng từ ngữ xưng hô thân<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 2 - 7/2016 27<br /> v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY<br /> <br /> <br /> tộc của người Việt rõ ràng sẽ không phù hợp với 2. Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng Học Việt Ngữ,<br /> đối tượng người phương Tây. Với các đối tượng NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội.<br /> giao tiếp khác nhau, cần lựa chọn các chủ điểm,<br /> chuẩn mực ngôn từ, cử chỉ, thái độ giao tiếp phù 3. Nguyễn Việt Tiến (2010), “Ngữ dụng học với việc<br /> hợp để đảm bảo nguyên tắc hợp tác, lịch sự, tránh dạy và học ngoại ngữ (trên cứ liệu tiếng Pháp)”,<br /> xảy ra xung đột văn hóa có liên quan đến sự riêng Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Ngoại ngữ, 26, tr 157.<br /> tư, tôn giáo, chính trị, pháp luật, kiêng kỵ, tuổi tác,<br /> giới tính (xem ví dụ 15) [2]… 4. Thomas, J (1983), “Cross-cultural Pragmatic<br /> Failure”, Applied Linguistic, vol 4 (2), tr 91-112.<br /> Việc bồi dưỡng nâng cao năng lực giao tiếp liên<br /> văn hóa cho người học có thể được tiến hành<br /> qua nhiều hoạt động khác nhau, như thiết kế, tạo<br /> PRAGMATIC FAILURES AND FOREIGN<br /> dựng các ngữ cảnh mô phỏng thực tại; hướng<br /> LANGUEGE TEACHING<br /> dẫn người học đọc thêm các tài liệu, tác phẩm<br /> văn học, xem các bộ phim tiêu biểu của quốc gia Abstract: This paper reports on the pragmatic<br /> ngữ đích; bố trí giảng viên người nước ngoài tham failures in cross-cultural communication. In<br /> gia dạy học ngoại ngữ, tổ chức các buổi tọa đàm some specific situations, the pragmatic failures<br /> chuyên đề về kiến thức ngữ dụng và kỹ năng giao may result from misunderstanding of speaker’s<br /> tiếp liên văn hóa; tổ chức các hoạt động ngoại intention, negative transfer from native language,<br /> khóa, dạ hội, trại hè, câu lạc bộ ngoại ngữ, tổ chức generalizations, mechanical deduction into<br /> giao lưu với sinh viên nước ngoài,… Trong từng target language, the cultural characteristics and<br /> hoạt động, giáo viên sẽ đặt ra mục tiêu, thiết kế national psychology. This paper is concluded<br /> nội dung, chọn lựa phương thức tiến hành phù by recommending some solutions for foreign<br /> hợp với các đối tượng người học ngoại ngữ. language teaching in Vietnam.<br /> 4. KẾT LUẬN Keywords: foreign language teaching, cross-<br /> cultural communication, pragmatic failure<br /> Trong một số tình huống giao tiếp liên văn hóa<br /> cụ thể, lỗi ngữ dụng phát sinh do người thụ ngôn Ngày nhận: 08/7/2016<br /> hiểu nhầm dụng ý của người phát ngôn. Có những Ngày phản biện: 18/7/2016<br /> lỗi xảy ra do sự chuyển di tiêu cực từ tiếng mẹ đẻ, Ngày duyệt đăng: 22/7/2016<br /> hoặc do người sử dụng ngôn ngữ khái quát hóa,<br /> suy luận dập khuôn một cách máy móc trong<br /> ngữ đích, hoặc do sự lệch pha từ đặc trưng văn<br /> hóa tâm lý dân tộc giữa các cộng đồng ngôn ngữ<br /> khác nhau gây ra. Ngoài những vấn đề được đề<br /> cập đến trong nội dung bài viết, trong thực tiễn<br /> giao tiếp ngôn ngữ có thể còn xuất hiện nhiều lỗi<br /> ngữ dụng khác. Chúng tôi hy vọng ở một mức độ<br /> nhất định, bài viết có thể cung cấp thêm tài liệu<br /> tham khảo trong nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ<br /> và dạy học ngoại ngữ ở Việt Nam./.<br /> <br /> Tài liệu tham khảo:<br /> <br /> 1. Criper, C & Winddowson, H (1975),<br /> Sociolinguistic and Language Teaching, In Allen,<br /> J & Corder, S (eds.), Papers in Applied Linguistics 2.<br /> London: Oxford University Press.<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 28 Số 2 - 7/2016<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2