intTypePromotion=1
ADSENSE

Một mình một ngựa và Chuyện của Lý, bước chuyển trong quan niệm nghệ thuật về con người của Ma Văn Kháng

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

44
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Một mình một ngựa và Chuyện của Lý được sáng tác vào giai đoạn thứ ba của đường văn Ma Văn Kháng. Những cách tân trong quan niệm nghệ thuật về con người ở hai tiểu thuyết là minh chứng cho tài năng, tâm huyết và hành trình sáng tạo không ngừng của tác giả. Đây cũng là cơ sở quan trọng khiến thế giới nhân vật trong hai tác phẩm tạo được ấn tượng cho độc giả đương đại.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Một mình một ngựa và Chuyện của Lý, bước chuyển trong quan niệm nghệ thuật về con người của Ma Văn Kháng

MỘT MÌNH MỘT NGỰA VÀ CHUYỆN CỦA LÝ<br /> BƯỚC CHUYỂN TRONG QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI<br /> CỦA MA VĂN KHÁNG<br /> PHÙNG THỊ HẢI YẾN<br /> Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế<br /> BÙI THANH TRUYỀN<br /> Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh<br /> Tóm tắt: Một mình một ngựa và Chuyện của Lý được sáng tác vào giai đoạn<br /> thứ ba của đường văn Ma Văn Kháng. Những cách tân trong quan niệm nghệ<br /> thuật về con người ở hai tiểu thuyết là minh chứng cho tài năng, tâm huyết<br /> và hành trình sáng tạo không ngừng của tác giả. Đây cũng là cơ sở quan<br /> trọng khiến thế giới nhân vật trong hai tác phẩm tạo được ấn tượng cho độc<br /> giả đương đại.<br /> Từ khóa: Một mình một ngựa, Chuyện của Lý, quan niệm nghệ thuật về con<br /> người, nhân vật.<br /> <br /> 1. MỞ ĐẦU<br /> Với nhiều người, tuổi tác thường là gánh nặng, là buông bỏ; nhưng với Ma Văn Kháng,<br /> điều này lại minh chứng thuyết phục cho quy luật gừng càng già càng cay. Càng thâm<br /> niên trong nghiệp chữ, sáng tác của ông càng đằm chín, càng bộc lộ rõ trách nhiệm với<br /> cõi người, cõi nghề, một nỗ lực phi thường để đạt tới “một cái đẹp thật tráng lệ trong văn<br /> chương” [2, tr. 195]. Xem cái Đẹp như một Sinh Đạo, cháy bỏng mơ ước tạo ra những<br /> chế phẩm văn chương hoàn thiện, toàn mĩ là nguồn lực vô biên để ông thủy chung với<br /> nghiệp viết, gần 60 năm cầm bút vẫn là người “học nghề mê mải”, bất chấp mọi nghịch<br /> cảnh đời thường: “Cái đẹp, chỉ có nó mới đủ sức đưa ta đi trên con đường sáng tạo thiên<br /> lý. Cái Đẹp, chiếm lĩnh được nó là mãn nguyện, là chiến công” [2, tr. 33-34].<br /> Một mình một ngựa và Chuyện của Lý được viết vào lúc nhà văn đã đạt những giải<br /> thưởng văn học lớn và tưởng đã phải gác bút vì bạo bệnh. Ra đời trong giai đoạn sáng<br /> tác thứ ba của đường văn Ma Văn Kháng, tiếp tục viết về đề tài miền núi Tây Bắc như<br /> các tiểu thuyết ở giai đoạn sáng tác trước, nhưng cả hai cuốn sách lại mang đậm yếu tố<br /> tự truyện, chất hồi kí, đầy những vang động của xã hội đương thời. Đây là một bước<br /> chuyển, một cuộc phiêu lưu mới của ông: tái hiện một hình mẫu văn chương mà ở đó<br /> chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đã được điều chỉnh bằng việc xây dựng hình ảnh<br /> những con người mới. Bên cạnh kiểu con người mang lí tưởng cách mạng như vẫn<br /> thường thấy trong các tiểu thuyết Vùng biên ải, Đồng bạc trắng hoa xòe, Ngược dòng<br /> nước lũ, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn… [3], [4], [5], [6], ở hai sáng này, những dục vọng của<br /> tính người trong từng nhân vật đã làm mờ nhòe các nét tính cách vốn được xây dựng<br /> theo lối “điển hình hóa” quen thuộc. Tác giả không hề che giấu ý định đã trở thành<br /> phương châm của một phu chữ mải miết đi tìm những “phút giây huyền diệu”: cố gắng<br /> Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế<br /> ISSN 1859-1612, Số 02(34)/2015: tr. 74-79 <br />  <br /> <br /> MỘT MÌNH MỘT NGỰA VÀ CHUYỆN CỦA LÝ...<br /> <br /> 75<br /> <br /> xây dựng những con người đại diện cho những Cái Đẹp phi thường, tráng lệ, ngạo nghễ<br /> đối mặt với khó khăn, thử thách, vượt qua số phận và hoàn cảnh sống khắc nghiệt để<br /> vươn lên trong cuộc sống. Những nhân vật trung tâm trong hai tác phẩm như ông Quyết<br /> Định, Khánh, Dương, Nhu, cái Lý… là những hình tượng sáng ngời tinh thần nhân văn.<br /> Viết về họ với một thái độ rất mực trân quý, Ma Văn Kháng muốn khẳng định sự tồn tại<br /> bất diệt của Cái Đẹp trong cuộc sống.<br /> 2. NHỮNG ĐỔI MỚI QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG MỘT<br /> MÌNH MỘT NGỰA VÀ CHUYỆN CỦA LÝ<br /> Sự đổi mới và đa dạng của văn học nói chung, sáng tác của một tác giả nói riêng, trước<br /> hết thể hiện trong quan niệm nghệ thuật về con người [7]. Là thành tố mang đậm tính<br /> lịch sử - xã hội, quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng<br /> cũng thay đổi theo từng giai đoạn sáng tác trong tương quan với những biến động lớn<br /> của thời đại. Với tác giả Mùa lá rụng trong vườn, con người - đó là một luận đề lớn<br /> ngày càng phải được nhận thức, chiêm nghiệm bằng chiều sâu triết học, xã hội học, văn<br /> hóa học và tâm lí học nghệ thuật. Ở các tiểu thuyết về đề tài miền núi thuộc giai đoạn<br /> đầu, nằm trong mạch nguồn của văn học cách mạng, nhà văn cũng không thoát khỏi<br /> quan niệm con người sử thi, tức con người chủ yếu được nhìn từ góc độ xã hội, tìm thấy<br /> ý nghĩa cuộc đời trong sự gắn bó với cộng đồng, tan hòa giữa đám đông, tập thể, ít có<br /> dịp đối diện với bản thân, sống với chính mình. Ở giai đoạn tiếp theo, trong sự chuyển<br /> đổi của văn học hậu chiến, khai thác đề tài về cuộc sống thành thị, Ma Văn Kháng đã<br /> sớm tạo được phong cách nhờ thành công trong việc khắc chạm chân dung con người cá<br /> thể với giá trị tự thân và ý thức về cái tôi đậm chất đời thường. Sang giai đoạn sáng tác<br /> thứ ba – giai đoạn “tái Tây Bắc” - với hai tiểu thuyết tiêu biểu là Một mình một ngựa và<br /> Chuyện của Lý, tác giả tiếp tục mang đến cho người đọc một cảm nhận mới mẻ trong<br /> quan niệm nghệ thuật về con người.<br /> Trước hết, con người đích thực, theo Ma Văn Kháng, chính là tinh hoa của tạo hóa, là<br /> cái lí do sâu xa nhất của cuộc đời. Trong Chuyện của Lý, nhà văn tái hiện hành trình<br /> làm người của một đứa trẻ “không giá thú”. Lý là cô bé sinh ra đã chịu nhiều thiệt thòi,<br /> không được sự công nhận của chính quyền và người đời. Là “một thành viên của nhân<br /> loại năm tỉ con người” nhưng Lý “không phải là công dân nước Việt Nam dân chủ cộng<br /> hòa”, “không được hưởng gì hết từ khi hoài thai trong bụng mẹ” chỉ vì đứa trẻ ấy là<br /> “con ngoài giá thú”, là “con không cha”, “con hoang”. Mặc dù sống trong sự vô thừa<br /> nhận về mặt hành chính của xã hội quan phương, nhưng may mắn thay, Lý lại được cái<br /> tình người bình dị, ắp đầy nâng niu, dung dưỡng. Những lời của ông Thòn như là tuyên<br /> ngôn của nhà văn về con người: “Con người nói chung và con cái nói riêng là cái lí sâu<br /> xa, là cái phúc lộc của cuộc đời” vì “không có con người thì sao có cuộc đời này. Không<br /> có đứa trẻ thì làm sao có cuộc sống và tình yêu thương!”. Lý là hiện thân cho “niềm<br /> phúc lộc của cuộc đời”, là “buổi rạng đông một ngày mới xán lạn, niềm hi vọng và tin<br /> cậy trong tương lai của chúng ta”. Đó là mầm sống hồn nhiên, tràn đầy sinh lực, là<br /> “niềm kiêu hãnh của Con Người”, đại diện ưu tú của lớp thiếu nhi Việt Nam trưởng<br /> thành trong cuộc sống vừa phồn tạp vừa tươi đẹp của đất nước.<br /> <br /> 76<br /> <br /> PHÙNG THỊ HẢI YẾN – BÙI THANH TRUYỀN<br /> <br /> Một mình một ngựa giống như một cuốn hồi kí tự thuật lại những tháng năm “nhọc nhằn<br /> – thương nhớ” của Ma Văn Kháng khi làm thư kí cho Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai. Mục đích<br /> viết tác phẩm, như thổ lộ của nhà văn, là “vẽ lại chân dung những con người mà mình<br /> từng được sống và làm việc qua con mắt nhìn của một ông giáo, một tiểu trí thức, trong<br /> tinh thần thực sự cầu thị. Nghĩa là cố gắng gọi đúng tên sự vật, không tô hồng, huyền<br /> thoại hóa họ và nhất là không tô đen bóp méo, phủ định sạch trơn” [2, tr. 273]. Không<br /> còn là cái nhìn thiên về lối tư duy phân lập thiện – ác rạch ròi như các tiểu thuyết về đề<br /> tài miền núi trước đây, mục đích miêu tả nhân vật như trên thể hiện rõ quan niệm mới<br /> của nhà văn về con người trong văn xuôi đương đại: chân ảnh của cá nhân là sự tổng<br /> hòa của các mặt đối lập. Với quan niệm tân tiến như vậy, tính cách của từng người hiện<br /> lên sống động, tròn đầy và chân thật hơn. Nhân vật đã có ý thức và năng lực phản tỉnh<br /> để nhận ra những mặt tốt - xấu, ưu - nhược trong chính bản thân mình. Ông Quyết Định<br /> là nhân cách rất đáng tôn trọng, một hình mẫu của người cách mạng sáng ngời lí tưởng:<br /> sống mực thước, không bao giờ lợi dụng quyền uy để làm điều gì xâm hại quyền lợi của<br /> tập thể và cá nhân khác, kiên định lập trường tư tưởng, luôn có ý thức hoàn thiện bản<br /> thân bằng việc tự kiểm điểm và sửa chữa khuyết điểm, được cán bộ và nhân viên trong<br /> cơ quan tôn trọng, nhân dân tin yêu,… Bên cạnh đó, con người này vẫn còn mắc phải<br /> nhược điểm lớn là nhu nhược, thiếu quyết đoán, “tên là Quyết Định mà có dám quyết<br /> định gì đâu”. Nhân vật Văn Hiến là một “thằng cố nông láu tôm láu cá”, kiêu căng tự<br /> phụ, xoi mói, kèn cựa, thành kiến, ghen tị với đồng nghiệp, lợi dụng quyền lực để trù<br /> dập người khác, quan hệ bất chính với cấp dưới… Tuy nhiên, ông ủy viên thường vụ<br /> xuất thân cố nông này lại là người có tư chất của một lãnh đạo: năng lực hiểu biết và<br /> quyết đoán, ham mê cái mới, dám nghĩ dám làm. Đây cũng là “người năng nổ nhất, có<br /> năng lực nhất trong Thường vụ, đặc biệt là ở lĩnh vực sản xuất nông nghiệp”, “có tác<br /> phong sâu sát và có niềm say mê bất tận”. Ông Ké Lanh tính cách già nua, ề à lê thê<br /> trong nói năng, lạc hậu, bảo thủ đến mức cực đoan, thường nhận xét lẩm cẩm, ngô nghê,<br /> mang tính quy chụp nhưng lại là người “thủy chung vẫn là một tâm tình nồng nhiệt.<br /> Một mũi tên bật ra khỏi rãnh nỏ và cứ thế mà bay, không chệch đường, không cấn cái”.<br /> Qua nhìn nhận của Toàn, chân dung của lớp cán bộ văn phòng cũng hiện ra chân thật,<br /> không có ai toàn thức, toàn năng cả: “Họ có nhiều nhược điểm. Họ chẳng tốt hơn những<br /> người ở các lĩnh vực khác, nhưng cũng chẳng xấu hơn đâu. Đặt Toàn vào vị trí của họ,<br /> chắc gì Toàn có thể làm nổi như họ? (…) Dẫu rằng còn nhiều điều bất cập, nhưng hiển<br /> nhiên đó là những ưu thế vượt trội của họ mà Toàn không thể có”.<br /> Một mình một ngựa và Chuyện của Lý có sự thừa tiếp cách lí giải, cắt nghĩa về con<br /> người của Ma Văn Kháng trong các tiểu thuyết trước đó như Võ sĩ lên đài, Côi cút giữa<br /> cảnh đời: Nhân cách, số phận mỗi cá nhân là kết tinh của thời đại và truyền thống gia<br /> đình, dân tộc. Chính thời đại cách mạng đã sản sinh ra những nhân vật anh hùng như<br /> ông Quyết Định, Đồng, Dương... - những thế hệ “cán bộ vàng luôn trung thành với lí<br /> tưởng, quên mình, xả thân cho sự nghiệp, tận tụy hết lòng với phong trào, quý trọng và<br /> quan tâm đến đời sống của nhân dân”. Nhưng cũng chính thời đại mà “mỗi con người<br /> không phải là một cá nhân” và “đề cao thái quá chủ nghĩa tập thể” lại là môi trường<br /> thuận lợi cho sự nảy sinh những kẻ cơ hội nhân danh tập thể để trục lợi như Văn Quyền,<br /> <br /> MỘT MÌNH MỘT NGỰA VÀ CHUYỆN CỦA LÝ...<br /> <br /> 77<br /> <br /> Trần Quàn. Không những thế, con người còn thuộc về một gia đình, một gia hệ, dân tộc<br /> nên họ còn được tiếp nhận sức mạnh truyền lưu từ những nguồn năng lượng ấy. Sinh ra<br /> trong một gia đình “con nhà nòi cách mệnh”, là “con trai duy nhất của một vị đại tá tình<br /> báo hoạt động ở trong Nam”, Chu Văn Dương đã sớm hình thành nhân cách và khí chất<br /> của một chiến sĩ, một nhà lãnh đạo tài ba luôn tận hiến tâm lực cho đại sự xây dựng<br /> cuộc sống mới. Trái lại, Văn Quyền lớn lên trong một môi trường nhiễm độc với bố là<br /> tướng cướp, mẹ là chủ nhà chứa nên ăn sâu trong máu của hắn là bản chất của một tên<br /> phóng đãng, vô luân. Còn cái Lý là kết tinh của tình yêu, vẻ đẹp hình thể và tâm hồn<br /> của bố mẹ. Sức sống tự nhiên tiếp nhận từ nguồn cội là sinh lực lớn để cô bé vượt qua<br /> số phận không may của mình. Mảnh đất Phong Sa nhỏ bé nhưng nhiều phong vị của<br /> những lễ hội, tập tục, không hiếm những con người chân chất nghĩa tình, thêm vào đó là<br /> những biến động của cuộc sống riêng chung cũng là những yếu tố tạo nền tảng cho sự<br /> hình thành và phát triển nhân cách tốt đẹp của Lý sau này.<br /> Sự tiên phong trong nhận thức, hành xử giúp nhiều người trong Một mình một ngựa và<br /> Chuyện của Lý vượt thoát những quan điểm bảo thủ, lạc hậu một thời để vươn lên trong<br /> xây dựng đời sống mới. Nhưng đôi lúc, sự cấp tiến của con người lại dẫn đến bi kịch<br /> của chính họ. Trong Một mình một ngựa, nhân vật trung tâm - bí thư Tỉnh ủy Quyết<br /> Định – đã đơn thương độc mã đi vào sào huyệt của thổ ti phong kiến, thuyết phục họ đi<br /> theo cách mạng. Cuộc đời ông là cuộc đời một con người say mê chiến công, lập nhiều<br /> kì tích như huyền thoại nhưng cũng chịu không ít trả giá, bầm dập. Cô đơn dường như<br /> đã trở thành trạng thái thường trực ở con người này: “Tựu trung, như định mệnh từ ông<br /> bước ra, trước sau ông vẫn chỉ là một chiến binh một người một ngựa xông pha nơi<br /> chiến trận”. Đơn độc đương đầu với khó khăn trong công cuộc xây dựng đất nước, trong<br /> hoàn cảnh chiến tranh gian khó và trong ý thức con người còn mông muội, nhiều định<br /> kiến hẹp hòi, nặng tính chất giáo điều, có lúc ông tưởng chừng như không còn sức, cảm<br /> giác như mình “đứng trong sương mù chỉ nhìn thấy ba bước chân”. Trong hội nghị<br /> Mường Thông, con người đầy bản lĩnh, nhiệt tâm này cũng phải cảm thấy “cô đơn lắm”<br /> vì “một mình kiên trì một ý tưởng”, đối đầu với tất cả, “hoàn toàn ở vào thế một mình<br /> một cõi ở nơi đầu sóng ngọn gió”, “tiền duyên chỉ còn lại một lô cốt cố thủ”. Cô đơn<br /> với cả những người ngỡ cùng hội cùng thuyền vì giữa thời buổi bấy giờ, tình đồng chí<br /> không còn giữ được vẻ thiêng liêng, đẹp đẽ như xưa: “Cùng là cấp ủy với nhau mà ganh<br /> ghét, tị nạnh, tìm cách dìm dập nhau đủ trò. Tiếng là đứng đầu một tỉnh mà nhiều khi xử<br /> sự với nhau, với công việc như lũ tiểu nhân, như bày trẻ nít”. Ông cũng lẻ loi và yếm<br /> thế biết bao khi một mình kiên định bảo vệ chân lí. Sự bất lực trước án kỉ luật đầy vô lí,<br /> bất công của ông Đồng và Hưng khiến ông Bí thư tỉnh ủy Hoàng Liên, ngay cả trong<br /> cơn nguy kịch chưa biết sống chết thế nào vẫn khôn nguôi dằn vặt, hối lỗi. Không ít lúc,<br /> nhân vật còn cảm thấy bản thân rơi vào trạng thái “vô cố tri” trong quan hệ với người<br /> vợ đầu ấp tay gối của mình. Là người đam si với công cuộc xây dựng cuộc sống mới,<br /> hầu như ông không còn dành thời gian cho bản thân. Trong khi Yên, vợ ông, “hai con<br /> rồi mà ánh mắt còn tươi mưởi thế kia, vóc hình còn óng ả, rạng rỡ, đa cảm và sôi nổi thế<br /> kia!” thì ông lại là một người ham mê chiến công, ham mê công việc đến mức bận rộn<br /> tối ngày, do vậy đã “tự làm vơi cạn nguồn dục vọng và lạc thú đàn bà của mình”, trở<br /> <br /> 78<br /> <br /> PHÙNG THỊ HẢI YẾN – BÙI THANH TRUYỀN<br /> <br /> thành một kẻ “kém cỏi”, “thiểu năng” trong chuyện chăn gối với vợ. Điều đó phần nào<br /> khiến mối tình của ông với Yên khởi đầu là cuộc kì ngộ giữa anh hùng và mĩ nhân thì<br /> giờ đây giữa hai người xuất hiện một trạng thái không cân bằng, một vết rạn ngày càng<br /> sâu rộng. Việc tái hiện bi kịch đời thường ẩn sau hào quang huyền thoại của nhân vật<br /> cho thấy sự mới mẻ, toàn diện và nhân bản trong tư duy nghệ thuật của nhà văn xuất<br /> phát từ nỗ lực phi thường để không ngừng “khuấy động văn đàn” [8].<br /> Toàn (Một mình một ngựa), Dương (Chuyện của Lý) là những nhân vật đồng dạng với<br /> ông Quyết Định. Chính nỗ lực “phá trói” để vượt ra ngoài những suy nghĩ, định kiến<br /> hạn hẹp, nặng tính chất giáo điều, quy chụp của cái thời mà mỗi con người “không phải<br /> là một cá nhân”, “không phải là của riêng mình”, mà là “một thành viên của một cơ<br /> cấu”, “một cái đinh ốc, một cánh tay đòn, một bộ phận của một cỗ máy”, được “giản<br /> lược hóa đến cùng”, bị “triệt tiêu nguyện vọng, ý muốn riêng tư” cũng đã dẫn đến bi<br /> kịch của hai người đàn ông giàu lí tưởng, khát vọng sống tốt đẹp này. Những đề xuất<br /> độc sáng, đầy tinh thần trách nhiệm của Toàn, dưới con mắt của con người thời ấy,<br /> bỗng trở thành những ý kiến ngoài lề, phản động, đi ngược lại nếp nghĩ của số đông và,<br /> đáng buồn thay, chúng lại trở thành “chứng cứ ngoại phạm” cho những kẻ cơ hội, thiển<br /> cận sử dụng để buộc tội anh: “Cách mạng hàm chứa trong nó sự hỗn độn nên nó là<br /> mảnh đất màu để đẻ ra những lũ quái thai, bọn cơ hội cặn bã”; “Cách mạng tuyệt đối<br /> không được sử dụng bọn vô sản lưu manh”; “Chủ nghĩa tập thể thô sơ triệt tiêu cá nhân<br /> là nguyên nhân tan rã của hợp tác xã, là tiền đề sinh ra tầng lớp lãnh đạo đặc quyền đặc<br /> lợi”,… Chung cuộc, cũng như ông Quyết Định, Toàn rơi vào trạng thái buồn chán, thất<br /> vọng bởi lạc loài, đơn độc ngay trong chính tập thể, với những người vốn được gọi là<br /> “đồng chí” mà hiếm ai đồng ý, đồng tình với mình. Còn Dương – “một tín đồ của chủ<br /> nghĩa anh hùng mang màu sắc lãng mạn” – khi đích thân cùng đồng đội săn bắt cướp<br /> hoặc chân trần lặn lội khắp hai mươi tám xã, tám mươi tư thôn bản để nắm tình hình bà<br /> con làm ăn sinh sống, vị Bí thư huyện ủy này cũng chịu bao điều tiếng thị phi, những<br /> trò ném đá giấu tay bẩn thỉu của thiên hạ, trong đó phần đông là những kẻ cơ hội, đục<br /> nước béo cò, chuyên sống bằng đố kị, kèn cựa, luôn tìm mọi cách triệt hạ những người<br /> nổi trội hơn mình. Thành công trong việc khắc họa kiểu nhân vật – người lãnh đạo cô<br /> đơn trong bi kịch lạc thời này là một đóng góp quan trọng của Ma Văn Kháng cho văn<br /> xuôi hôm nay.<br /> 3. KẾT LUẬN<br /> Hệ quả tất yếu – cũng là minh chứng khả tín cho những nỗ lực cách tân trong quan niệm<br /> nghệ thuật về con người của Ma Văn Kháng - là người viết đã tạo sinh một hệ thống<br /> nhân vật đầy ám gợi. Đó là chân dung thế hệ cán bộ vùng cao tâm huyết với sự nghiệp<br /> bảo vệ, xây dựng đất nước như ông Quyết Định, Dương, Đồng, Hưng, Toàn, Đình…<br /> Qua họ, người đọc thấy được chân ảnh của một lớp người với những ưu điểm, thiếu sót<br /> cụ thể. Đó là những thường dân Tây Bắc nghĩa tình, nhân hậu như ông Thòn, bà Pham<br /> (Chuyện của Lý), bà cụ Dư (Một mình một ngựa). Tuy mỗi nhân vật có một đời sống<br /> riêng nhưng tất cả đều có chung những nét tính cách ổn định, bất biến: lòng vị tha, nhân<br /> hậu, đức hi sinh, lối sống trọng tình… Sự hiện diện của họ không chỉ đem lại một trạng<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD


intNumView=44

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2