intTypePromotion=1

Một số giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán

Chia sẻ: Chi Tran | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

0
135
lượt xem
47
download

Một số giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chất lượng kiểm toán là một chỉ tiêu phức tạp, khó định lượng và thiếu tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá, bởi hoạt động kiểm toán là hoạt động đa dạng, phức tạp và mang tính chất đặc thù riêng trong từng cuộc kiểm toán.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Một số giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán

  1. Một số giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán và đảm bảo tiến độ kiểm toán Chất lượng kiểm toán là một chỉ tiêu phức tạp, khó định lượng và thiếu tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá, bởi hoạt động kiểm toán là hoạt động đa dạng, phức tạp và mang tính chất đặc thù riêng trong từng cuộc kiểm toán. Do vậy, những tiêu chuẩn đưa ra để đánh giá chất lượng kiểm toán chỉ là những quy định chung mang tính chất khái quát và định hướng.
  2. Theo quan điểm đó, thì chất lượng kiểm toán là mức độ đạt được các tiêu chuẩn chung đã đề ra. Đối với một cuộc kiểm toán cụ thể được coi là có chất lượng khi được thực hiện trên cơ sở đảm bảo tốt các tiêu chuẩn cơ bản sau: - Kế hoạch kiểm toán đầy đủ, phù hợp, xác định rõ mục tiêu kiểm toán, nội dung kiểm toán, phạm vi kiểm toán, mức trọng yếu, rủi ro kiểm toán và các phương pháp kiểm toán thích hợp. Kế hoạch kiểm toán được phổ biến thống nhất đến từng thành viên đoàn kiểm toán và được triển khai cụ thể và chi tiết ở từng tổ kiểm toán; - Các thành viên đoàn kiểm toán thực hiện kiểm toán tuân thủ kế hoạch kiểm toán, chuẩn mực kiểm toán, quy trình kiểm toán và các quy chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán, các quy định nghiệp vụ
  3. khác và pháp luật có liên quan; - Các kiểm toán viên thu thập được đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở cho viecẹ hình thành các ý kiến và kết luận kiểm toán; - Báo cáo kiểm toán phù hợp với chuẩn mực và các quy định về báo cáo kiểm toán do Kiểm toán Nhà nước ban hành; phản ánh đầy đủ tình hình, kết quả kiểm toán và kết quả kiểm toán thỏa mãn các mục tieu kiểm toán đã đề ra; nhứng vấn đề sai sót, gian lận, tồn tại của đơn vị được kiểm toán trình bày trong báo cáo đã được xem xét, giải quyết thỏa đáng; các ý kiến nhận xét, đánh giá, kết luận kiểm toán được căn cứ vào những bằng chứng kiểm toán đầy đủ, xác thực và tin cậy, phù hợp với pháp luật hiện hành;
  4. - Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kiểm toán. Các tiêu chuẩn cơ bản trên đây là căn cứ chung để đánh giá chất lượng cuộc kiểm toán, tuy nhiên để đánh giá một cách sâu sát chất lượng kiểm toán thì cần phải dựa trên hệ thống các chỉ tiêu chi tiết và cụ thể. Chất lượng và tiến độ kiểm toán, thuận lợi và khó khăn. Thuận lợi Sau hơn 10 năm hoạt động, KTNN đã xây dựng được hàng loạt những văn bản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ và văn bản pháp quy, đặc biệt là Luật KTNN, nhờ đó mà hoạt động kiểm toán của KTNN dần đi vào nền nếp và mang tính chuyên nghiệp. Khó khăn và thách thức
  5. Sau hai năm KTNN hoạt động theo Luật KTNN, bên cạnh những thuận lợi cũng nảy sinh không ít khó khăn. Trong quá trình hoạt động, kiểm toán đã đặt ra những khó khăn cho KTNN trong việc đảm bảo chất lượng và tiến độ kiểm toán. Về kế hoạch kiểm toán: một cuộc kiểm toán có thành công hay không, việc thực hiện kiểm toán có thuận lợi hay không phụ thuộc rất nhiều vào công tác lập kế hoạch kiểm toán. Kế hoạch kiểm toán là yếu tố có ý nghĩa quyết định đến chất lượng cuộc kiểm toán, việc xác định đầy đủ, sát thực nội dung, mục tiêu kiểm toán cũng như cách thức thực hiện cuộc kiểm toán sẽ tạo điều kiện thuận lợi để đạt được mục tiêu cuộc kiểm toán. Để xây dựng được một kế hoạch kiểm toán có chất lượng thì thong tin thu thập về đơn vị được kiểm toán phải đầy đủ, toàn diện và chính xác.
  6. Tính đầy đủ thể hiện ở việc thu thập thông tin của đơn vị được kiểm toán và đơn vị thành viên. Tính toàn diện thể hiện ở việc thu htập thông tin trên tất cả mọi hoạt động của đơn vị bao gồm: thông tin cơ bản về đặc điểm chủ yếu, cơ sở pháp lý và môi trường hoạt động của đơn vị được kiểm toán; chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, quá trình hoạt động…của đơn vị được kiểm toán; tình hình hoạt động của bộ máy quản lý, bộ máy kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán. Tính chính xác thể hiện ở việc thu thập thông tin đã được cập nhật mới nhất và không bị thay đổi sau khi kiểm toán viên thu thập. Ở bối cảnh hiện nay, trong một thời gian ngắn, ở thời điểm mà các đơn vị được kiểm toán đang trong thời kỳ chỉnh lý báo cáo tài chính, việc đảm bảo được các yêu cầu chất lượng như trên quả
  7. thật là một thách thức không nhỏ đối với các đơn vị KTNN chuyên ngành, khu vực cũng như các đoàn kiểm toán. Về tiến độ thực hiện: Khó khăn và thách thức gay cấn căng thẳng, nhất là vấn đề quỹ thời gian cho KTNN thực hiện kiểm toán đối với Báo cáo quyết toán ngân sách các đơn vị dự toán cấp I và Báo cáo quyết toán ngân sách địa phương, vì theo quy định tại Điều 75, Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ thì BCQT của các đơn vị trên gửi chậm nhất trước ngày 01/10 năm sau. Do đó, quỹ thời gian để KTNN hoàn thành nhiệm vụ của mình là một thách thức không nhỏ. Để khắc phục quỹ thời gian eo hẹp trong quá trình kiểm toán là phải đảm bảo đúng tiến độ kiểm toán theo kế hoạch kiểm toán và quy định của pháp luật. Kế hoạch kiểm toán bao gồm kế hoạch kiểm toán
  8. chung toàn ngành thực hiện trong 1 năm và kế hoạch kiểm toán của từng cuộc kiểm toán. Để đảm bảo thực hiện đúng tiến độ kế hoạch chung của toàn ngành thì mỗi KTNN chuyên ngành và KTNN khu vực phải đảm bảo thực hiện đúng kế hoạch của từng cuộc kiểm toán. Tiến độ thực hiện của đoàn kiểm toán phụ thuộc vào các yếu tố: trong giai đoạn thực hiện kiểm toán phụ thuộc vào tiến độ thực hiện của các tổ kiểm toán và chất lượng của kê shoạch kiểm toán; trong giai đoạn lập và phát hành báo cáo kiểm toán, tiến độ kiểm toán phụ thuộc không chỉ ở đoàn kiểm toán mà còn phụ thuộc vào các cấp kiểm soát thực hiện soát xét chất lượng báo cáo kiểm toán và ý kiến phản hồi (tham gia) của đơn vị được kiểm toán. Về bằng chứng kiểm toán:
  9. Đặc trưng cơ bản và xuyên suốt trong quá trình tác nghiệp kiểm toán là việc thu thập bằng chứng để làm căn cứ hình thành các ý kiến đánh giá, kết luận, kiến nghị của KTV. Chất lượng của cuộc kiểm toán chỉ được đảm bảo khi các KTV thu thập các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp, bởi bằng chứng kiểm toán ngoài việc là căn cứ để KTV đưa ra ý kiến đánh giá kết luận, kiến nghị trong báo cáo kiểm toán thì nó còn là cơ sở cho việc kiểm tra, soát xét chất lượng kiểm toán và là dữ liệu cho các kỳ kiểm toán sau. Tính đầy đủ thể hiện ở số lượng bằng chứng cần thu thập; còn thích hiựp là thước đo chất lượng thể hiện độ tin cậy, sự xác đáng, phù hợp của bằng chứng kiểm toán. Chuẩn mực số 6 “Thu thập bằng chứng kiểm toán” quy định “Khi thu thập bằng chứng kiểm toán, KTV phải thực hiện: ghi chép đầy đủ các bằng chứng kiểm toán và những công việc trong quá trình thu thập
  10. bằng chứng đồng thời phân loại, sắp xếp, quản lý các bằng chứng kiểm toán theo từng mối quan hệ kinh tế - tài chính và nội dung, phạm vi kiểm toán, làm cơ sở cho việc lập báo cáo kiểm toán”. Trách nhiệm thu thập bằng chứng cũng đã được quy định tại Khoản 4 Điều 30 Luật KTNN “Trách nhiệm của kiểm toán viên nhà nước” như sau: “Thu thập bằng chứng kiểm toán, ghi sổ nhật ký kiểm toán và các tài liệu làm việc khác của KTNN theo quy định của Tổng KTNN”. Như vậy, cả về mặt lý luận và quy định thực tế đặt ra yêu cầu cho KTV phải thực hiện tốt trách nhiệm thu thập bằng chứng kiểm toán. Về công tác kiểm tra soát xét chất lượng kiểm toán: Một trong những yêu cầu đặt ra đối với bất kỳ cơ quan kiểm toán nào để đảm bảo chất lượng kiểm toán là phải thực hiện nghiêm
  11. túc công tác kiểm tra và soát xét chất lượng kiểm toán. Thực hiện tốt công tác này sẽ giúp kiểm toán viên xác định rõ trách nhiệm được giao, tránh được những sai sót trong từng nội dung, từng bước công việc kiểm toán và đảm bảo cuộc kiểm toán tuân thủ các chuẩn mực, quy trình và kế hoạch kiểm toán. Chuẩn mực số 10 – Kiểm tra và soát xét chất lượng kiểm toán quy định: “Công việc của kiểm toán ở mỗi bước và mỗi giai đoạn kiểm toán viên đều phải kiểm tra và soát xét lại chất lượng một cách đầy đủ, đúng đắn và kịp thời”. Như vậy để đảm bảo công việc kiểm toán của các KTV tuân thủ chuẩn mực, quy trình và kế hoạch kiểm toán thì công tác kiểm tra, soát xét phải được thực hiện ở tất cả các cấp độ: Kiểm toán viên phải tự soát xét lại nội dung công việc của mình sau mỗi bước thực hiện; Tổ trưởng tổ kiểm toán phải thường xuyên tiến hành soát xét chất lượng công việc của các
  12. thành viên trong tổ kiểm toán; Trưởng đoàn kiểm toán thực hiện soát xét chất lượng kiểm toán và công tác kiểm soát của các tổ kiểm toán; Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành, khu vực thực hiện soát xét chất lượng kiểm toán cũng như công tác kiểm soát của đoàn kiểm toán; lãnh đạo KTNN với sự giúp việc của các đơn vị tham mưu là cấp kiểm soát cao nhất thực hiện kiểm tra, soát xét chất lượng kiểm toán của các đoàn kiểm toán và công tác kiểm soát của các cấp. Các cấp kiểm soát phải chịu trách nhiệm về chất lượng kiểm toán đối với các nội dung được kiểm soát ở cấp của mình.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2