
Một vài thông tin vềLASER
Năm 1958, người ta đã chếtạo thành công laser đầu tiên. Đó là loại
nguồn sáng mới, có tính chấtđặc biệt khác hẳn với các nguồn sáng thông
thường.
– Tia laze có tính đơn sắc rất cao. Độ sai lệch tương đối của tần sốánh sáng
phát ra có thểchỉbằng 10–15.
– Tia laze là chùm sáng kết hợp (các phôtôn trong chùm có cùng tần sốvà
cùng pha).
– Tia laze là chùm sáng song song (có tính định hướng cao).
– Tia laze có cường độ lớn. Chẳng hạn nhưlaze rubi (hồng ngọc) có cường
độ tới 106W/cm2.
Laze được chếtạođầu tiên là laze hồng ngọc (rubi).
Ngày nay người ta đã chếtạođược hàng chục loại laze rắn khác nhau, trong
số đó có loại có công suất lớn nhưlaze thuỷtinh pha nêođim có thể đạt công suất
20 tỉoát mỗi xung. Ngoài laze rắn còn có laze khí (He - Ne, CO2, Ar, N...). Đặc biệt,
phải kể đến các loại laze bán dẫn, là loạiđược dùng phổbiến nhất hiện nay.
Những ứng dụng :
– Trong y học, lợi dụng khảnăng có thểtập trung năng lượng của chùm tia
laze vào một vùng rất nhỏ, người ta đã dùng tia laze nhưmột dao mổtrong các
phẫu thuật tinh vi nhưmắt, mạch máu,… Ngoài ra, người ta cũng sửdụng tác dụng
nhiệt của tia laze để chữa một sốbệnh nhưcác bệnh ngoài da…

Trong thông tin liên lạc, do có tính định hướng và tần sốrất cao nên tia laze
có ưu thế đặc biệt trong liên lạc vô tuyến (vô tuyếnđịnh vị, liên lạc vệtinh, điều
khiển các con tàu vũtrụ…). Do có tính kết hợp và cường độ cao nên các tia laze
được sửdụng rất tốt trong việc truyền tin bằng cáp quang.
– Trong công nghiệp, vì tia laze có cường độ lớn và tính định hướng cao nên
nó được dùng trong các công việc nhưcắt, khoan, tôi,… chính xác trên nhiều chất
liệu nhưkim loại, compôzit,… Người ta có thểkhoan được những lỗcó đường kính
rất nhỏvà rất sâu mà không thểthực hiệnđược bằng các phương pháp cơhọc.
– Trong trắcđịa, laze được dùng trong các công việc như đo khoảng cách,
tam giác đạc, ngắmđường thẳng,…
– Laze còn được dùng trong các đầuđọcđĩa CD, trong các bút chỉbảng, bản
đồ, trong các thí nghiệm quang họcởtrường phổthông,…
Ra mắt tia laser lớn và mạnh nhất thếgiới
counter(23323);
Sau hơn mười năm miệt mài nghiên cứu với
chi phí khoảng 3,5 tỷUSD, các nhà khoa học Mỹ
đã hoàn thành công trình nghiên cứu tia laser lớn
nhất thếgiới, có khảnăng tái tạo sức mạnh năng
lượng của một quảbom hydro và của Mặt Trời.
Tia laser do cơsởNational Ignition Facility (NIF) thuộc Phòng thí nghiệm quốc gia
Lawrence Livermore tại bang California tạo ra, bao gồm 192 tia, có khảnăng phát
ra năng lượng nhiều hơn 60-70 lần so với hệthống gồm 60 tia củaĐại học
Rochester.

Với tính năng có thểdự đoán chức năng củađầuđạn hạt nhân, tia laser của NIF có
thể được sửdụng trong lĩnh vực vật lý thiên thể, cho phép các nhà khoa họcđưa ra
những điều kiện giống với lõi hành tinh và hệMặt Trời mới.
Bằng việc xác nhận tia laser của NIF, BộNăng lượng Mỹ đã mở đường cho một loạt
các thí nghiệm tiếp theo vào năm sau nhằm có thểtạo ra sức nóng và áp suất như ở
lõi Mặt Trời.
Theo các nhà khoa học, tia laser của NIF có thểtạo ra năng lượng trong một loạt
các thí nghiệm vào năm 2010 theo đúng mục tiêu đề ra là tạođủ độ nóng và áp
suấtđể đốt cháy các nguyên tửhydro trong mục tiêu hình trụnhỏnhằm sản sinh
ra nhiều năng lượng hơn. Ngoài ra, các nhà khoa học còn hi vọng có thểtạo ra
được một loại năng lượng sạch và an toàn từviệcđốt cháy các nguyên tửthay thế
cho biện pháp tách nguyên tử.
Dựán nghiên cứu laser của NIF đượcđề xuất vào đầu năm 1990 với chi phí ước
tính khoảng 700 triệu USD. Sau đó 7 năm dựán này mới chính thứcđược triển
khai./.
Động đất và độ RICHTER
là gì

Động đất hay địa chấn là một sựrung chuyển hay chuyểnđộng lung lay
của mặtđất. Động đất thường là kết quảcủa sựchuyểnđộng của các phay
(geologic fault) hay những bộphậnđứt gãy trên vỏcủa Trái Đất hay các hành
tinh cấu tạo chủyếu từchất rắn như đấtđá. Tuy rất chậm, mặtđất vẫn luôn
chuyểnđộng và động đất xảy ra khi ứng suất cao hơn sức chịuđựng của thể
chất trái đất. Hầu hết mọi sựkiệnđộng đất xảy ra tại các đường ranh giới của
các đĩa kiến tạo chia ra quyểnđá của trái đất (các nhà khoa học thường dùng
dữkiện vềvịtrí các trậnđộng đấtđể tìm ra những ranh giới này). Những
trậnđộng đất xảy ra tại ranh giớiđược gọi là động đất xuyên đĩa và những
trậnđộng đất xảy ra trong mộtđĩa (hiếm hơn) được gọi là động đất trong đĩa.
Động đất lớn có thểgây thiệt hại trầm trọng nhưlở đất, sóng thần … Phần
lớn các động đấtđều có nhiều trậnđộng đất nhỏhơnđi trước hay sau lầnđộng đất
chính; những trận này được gọi là dưchấn. Các nhà khoa học có thểxác định được
điểm mà các sóng địa chấnđược bắtđầu. Điểm này được gọi là tiêu điểm. Phóng
điểm trên mặtđất từ điểm này được gọi là chấn tâm.
Nhiềuđộng đất, đặc biệt là những trận xảy ra dướiđáy biển, có thểgây ra
sóng thần, có thểvì đáy biển bịbiến thểhay vì đất lởdướiđáy biển gây ra.
Thang đo Richterlà một loại thang để xác định sức tàn phá của các cơnđộng
đất hay còn gọi là địa chấn.
Thang đo Richterđược Charles Francis Richter đề xuất vào năm 1935. Đầu
tiên nó được sửdụng để sắp xếp các số đo vềcơnđộng đấtđịa phương tại
California. Những số đo này đượcđo bằng mộtđịa chấn kế đặt xa nơiđộng đất 100
km.
Thang đo Richter là một thang lôgarit vớiđơn vịlà độ Richter. Độ Richter
tương ứng với loga thập phân của biên độ những sóng địa chấnđoở100 km cách
tâm chấnđộng của cơnđộng đất.

Độ Richter được tính nhưsau: ML= logA - logA0, với A là biên độ tốiđađo
được bằng địa chấn kếvà A0là một biên độ chuẩn.
Theo thang Richter, biên độ của một trậnđộng đất có độ Richter 6 mạnh
bằng 10 lần biên độ của một trậnđộng đất có độ Richter 5. Năng lượng được phát
ra bởi trậnđộng đất có độ Richter 6 bằng khoảng 31 lần năng lượng của trậnđộng
đất có độ Richter 5.
Thang Richter là một thang mởvà không có giới hạn tốiđa. Trong thực tế,
những trậnđộng đất có độ Richter vào khoảng 4,0 - 4,9 thì có thểlàm rung chuyển
đồ vật trong nhà gây thiệt hạiđáng kể; với những trậnđộng đất có độ Richter vào
khoảng 6,0 - 6,9 có sức tiêu hủy mạnh trong những vùng đông dân trong chu vi bán
kính 180 km; nếu lớn hơn hoặc bằng 9 là những trậnđộng đất kinh khủng.

