Nâng cao cht lượng dạy học giải toán có lời văa lớp 4
1
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
GII TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 4
Nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văa ở lớp 4
2
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận.
Ngày nay, chúng ta đang sống trong thời đại văn minh mới. Nhìn tphía khoa học
công nghthì đây thời đại văn minh thông tin với nn kinh tế dựa trên tri thức. Thời
đại văn minh mới này mt bước phát triển vượt bậc so với thời đại văn minh nông
nghiệp với nền kinh tế dựa trên tài nguyên khoáng sản là chính.
Người lao động mọi lĩnh vực trong thời đại ngày nay phải không ngừng học hỏi,
trau dồi tri thức. Phải tầm nhìn xa mang tính chiến lược và đchiều sâu đcó thể giải
quyết nhanh chóng những công việc cụ thể.
Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra yêu cầu với ngành giáo dục là phải đào to được đội
ngũ những người lao động tch, ng động, ng tạo, tiếp cận và m chđược công
nghệ tiên tiến, có năng lực giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Đảng và Nhà nước đặc
biệt coi trọng giáo dục, coi “Giáo dc là quốc sách hàng đầu”, coi con người là mc tiêu và
là động lực của sự phát triển.
Để khẳng định vai trò của giáo dục đào tạo trong sự nghiệp phát triển công
nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, tại Đại hội Đảng lần thX một lần nữa đra: “….Tiếp
tc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung pơng pháp dạy hc, hệ
thống trường lớp và h thống quản giáo dục, thực hin chuẩn hoá - hiện đại hoá - hội
hoá ….
Trước những yêu cầu thực tế đó, chất lượng dạy hc trong mỗi trường tiểu học là
vấn đề quan tâm của toàn hi. Đặc biệt quyết định đến sự tồn tại của nhà trường.
Chất lượng dạy hc y phải được thể hiện bằng chất lượng toàn diện của các môn học:
Toán, Tiếng Việt, Tự nhiện xã hi, Mỹ thuật, Âm nhạc, Thể dục ...vv.
Đáp ứng với ng cuộc đổi mới của đất nước đòi hỏi phải những con người lao
động mới, có bản lĩnh, năng lực, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, thích ứng được
với thực tiễn đời sống xã hội trong thời k hội nhập kinh tế quốc tế. Từ thực tế đó đòi hỏi
mục tiêu giáo dc trong nhà trường cũng phải thay đổi, đặc biệt là việc đổi mới vphương
pháp dạy học.
Trong tất cả các môn học ở trường tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt thì môn Toán
cũng vị trí cùng quan trọng. Toán học vi cách một n khoa học nghiên cứu
một số mặt của thế giới hiện thực, nó một hệ thống kiến thức cơ bản pơng pháp
nhận thức cần thiết cho đời sống sinh hoạt, lao động. Đó cũng là những công cụ rất cần
Nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văa ở lớp 4
3
thiết để học các môn học khác, tiếp tục nhận thức thế giới xung quanh và đhoạt động
hiu quả trong thực tiễn. Mặt khác môn Toán có vị trí rất quan trọng giúp cho học sinh kh
năng phát triển duy gíc trong thế giới hiện thực trừu tượng hoá, khái quát hoá, phân
tích ,tổng hợp, so nh, dự toán, chứng minh và bác bỏ. có vai trò to ln trong việc rèn
luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề có căn
c khoa hc, toàn diện chính xác. Nó có nhiều tác dụng trong việc phát triển trí thông
minh, óc duy độc lập, linh hoạt, sáng tạo trong việc hình thành, n luyện nề nếp phong
cách c phong làm vic khoa học rất cần thiết trong mọi lĩnh vực hoạt động của con
người góp phần giáo dục ý trí và những đức tính tốt như cần cù nhn nại, ý thức tự vượt
khó.
Trong giải toán, học sinh phải duy một cách tích cực, linh hoạt huy động thích
hợp các kiến thức khnăng đã vào các tính huống khác nhau. Trong nhiều trường
hợp, học sinh phải biết phát hiện những dữ kiện hay điều kiện chưa được nêu ra một cách
ờng minh chừng mc nào đó phải biết suy ngnăng động, sáng tạo. Vì vy giải toán
còn là một trong những biu hiện " năng động " trong hoạt động trí tuệ ca học sinh.
Đối với học sinh lớp 3 các em đã nắm vững cách giải một bài toán lời văn xong
đó chỉ là các bài toán hp vận dụng trc tiếp các phép tính. Lên lớp 4 các em được tiếp xúc
với các dạng toán điển hình, do vy các em gặp không ít khó khăn khi giải các bài toán có
văn ở dạng này, vì vậy nhiều em đã hiu lầm và dẫn đến giải bài toán sai.
2. Cơ sở thực tiễn :
Qua thực tế giảng dy của bản thân tôi qua trao đổi với đồng nghiệp trong các
buổi sinh hoạt chuyên môn, chúng i đều thống nhất ý kiến: Học sinh tờng gặp k
khăn khi học một số dạng toán cơ bản như sau:
- Gii toán về “Tìm số trung bình cộng”;
- Gii toán về “ Tìm 2 s khi biết tổng và hiệu của 2 số đó”;
- Gii toán về “Tìm 2 s khi biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ số của 2 số đó”;
- Gii toán có nội dung hình hc;
- Giải một số bài toán như : Tìm phân scủa một số” , bài toán liên quan đến
biu đồ” ,ng dụng Tỉ lệ bản đồ”, toán “ trắc nghiệm” …vv.
Nguyên nhân ch yếu do duy của học sinh tiểu học nói chung tư duy của
học sinh lớp 4i riêng còn hạn chế nên việc đọc đu bài vi các em còn chưa có, nm
cái đã cho, cái cần tìm còn lơ mơ. Khi đọc đầu bài toán các em cm thấy cgiống với
Nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văa ở lớp 4
4
những bài nào đó đã m rồi nhưng thực tế bn chất của khác nhau vì các em thường b
nhầm lẫn, ngộ nhn hoặc b lôi cuốn vào các yếu tố kng tường minh.
T thực trạng trên kết hợp với việc nghiên cứu luận và thc tiễn giảng dy của
bn thân tôi. i thiết nghĩ chất lượng giải toán có lời văn được nâng cao nếu những
bin pháp, phương pháp giảng dạy phù hợp, khắc phục những tồn tại và phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo ca học sinh .
Qua thc tế đó tôi nhận thấy mình cần phải làm như thế nào đgóp phần nâng cao
chất lượng dạy học giải toán có lời văn trong môn toán lớp 4. Đó chính là lý do tôi chọn đ
tài: Nâng cao chất lượng dạy học giải toán lời văn trong môn tn lớp 4”.
PHẦN II : NỘI DUNG
Trong khuôn khsáng kiến kinh nghiệm này, i xin trình bày những đặc điểm, nội
dung, nguyên nhân dẫn đến chất lượng dy học giải toán lời văn còn hạn chế đưa ra
một số giải pháp mà i đã thực hiện đgóp phần nâng cao chất lượng việc dạy học toán
lời văn lớp 4. Đi chứng với kết qukho sát đầu năm của lớp tôi, qua đó rút ra bài
học kinh nghiệm khi dạy giải toán có lời văn.
I . NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG.
1. Một số đặc điểm của dạy học toán có lời văn trong Tn 4.
- Cũng như các lớp trước, nội dung dy học giải toán lời văn lớp 4 được y
dựng theo định hướng chủ yếu giúp học sinh rèn luyện phương pháp giải toán (phân tích
đtoán, tìm cách giải quyết vấn đ(bài toán) trình y bài giải bài toán): giúp học sinh
khnăng diễn đạt (nói và viết) khi muốn nêu “tình huống” trong bài toán. Trình y được
“cách giải” bài toán, biết viết “câu lời giải” và “phép tính giải” các bài toán có lời văn
trong toán 4 xu ớng gim tính phức tạp “đ khó” quá mc với học sinh đồng thời
hn chế các bài toán mang tính “đánh đố” học sinh hoặc có cách giải áp đặt, phải cần đến
nhiu mẹo mực” mới giải được (có thể những bài cần nâng cao n nhưng sẽ đưa vào
các loại sách tham khảo khác ngoài sách giáo khoa).
- Trong Toán 4, nội dung dạy học giải toán lời văn được sắp xếp hợp lý, đan xen
phù hợp với quá trình hc tập các mạch số học, hình học, đại lượng và đo đại lượng của
học sinh. Chẳng hn:
+ Khi học tới phân số, trong sách nhiều bài toán liên quan đến các phép nh
Nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văa ở lớp 4
5
phân số.
+ Khi học các đơn vị đo khối lượng, diện tích, thời gian trong sách nhiu bài
toán thực tế liên quan đến các đơn vị đo đạiợng đó.
+ Khi học vhình bình hành, hình thoi trong sách có những bài toán thực tế liên
quan đến tính chu vi, diện tích các hình đó …
- Nội dung các bài toán li văn trong Toán 4 “chất liệu” phong phú, cp nhật
với thực tiễn và có hình thức thể hiện đa dạng hơn, hp dẫn hc sinh, chẳng hạn:
+ dng bài toán phản ánh một số mối quan hsố học như: “tìm strung bình
cộng ca nhiều số”, tìm hai sbiết tổng và hiu ca hai s đó”, “tìm hai s biết tổng
(hiu) và t scủa hai số đó”. Khi giả các bài toán y, học sinh thường được thực hiện
theo mt quy trình (các bước) rõ ng (có ththực hiện cách giải với sự trợ giúp ca sơ đồ,
theo quy tắc dưới dạng công thức…).
+ dạng bài toán bổ sung tiếp nối từ lớp 3 như bài toán “tìm phân s của một s”,
bài toán thhiện dưới dạng biểu đồ, qua bảng số liệu (bài 4 - trang 172, bài 5 - trang
101 Toán 4…), bài toán được xây dựng từ ứng dụng tỉ lệ bản đ (phần tỉ lệ bản đồ
trong toán 4)… . Tiếp lên trên nhiu bài toán được thể hiện sinh động qua mỗi bức ảnh
y hng thú cho học sinh như hình ảnh Hồ Gươm, tượng vua Lý Thái Tổ, tranh vẽ bn đồ
ớc Việt Nam và có một số bài toán thhiệnới dạng “trắc nghiệm” giúp học sinh phát
triển năng lực giải toán, phù hợp với xu hướng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học
sinh hin nayvv.
Khi giải các bài toán dng nêu trên cần cách giải linh hoạt, không áp đặt, để học
sinh t lựa chọn ch giải, câu trả lời, phép tính phù hợp (không nhất thiết c nào cũng
phải theo trình tnhư giải toán có lời văn thông thường).
2. Khảo sát phân loại đốiợng học sinh.
Muốn dạy thành công môn Toán nói chung và dạng toán lời văn nói riêng đòi
hỏi người giáo viên phi nắm vững trình độ nhận thức của lớp mình đtừ đó biện pháp
giảng dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh. Trong cùng mt lớp học, thường 4 đối
ợng học sinh là Hc sinh giỏi, khá, trung bình yếu. Cả 4 đi tượng cùng học một
chương trình với những yêu cầu tối thiểu cần đạt theo mục tiêu ca bài học và chuẩn kiến
thc kng. Vấn đề đặt ra là dy thế nào để cho học sinh khá giỏi có khả năng phát triển,
học sinh trung bình đạt được yêu cầu tối thiểu một cách vững chắc và có thvươn lên, học
sinh yêu kém tng bước vươn lên đạt yêu cầu.