
Nếu tôi là Bộ trưởng Giáo dục - Đào tạo
P/v GS Huỳnh Hữu Tuệ
Tôi vẫn nhớ mãi lần đầu tiên gặp Giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Hữu Tuệ trong lễ
“Vinh danh Việt Nam” do báo điện tử Vietnamnet tổ chức hồi tháng 4 năm
2007. Lần nhận giải ấy, ông vừa gượng dậy sau một trận ốm “thập tử nhất
sinh” nên phải vịn vào hai cánh tay sinh viên mới có thể bước lên sân khấu.
Trong vài chục giây ngắn ngủi, vị giáo sư bằng chất giọng Huế đậm đặc phát
biểu trước hàng triệu khán giả đang xem truyền hình trực tiếp: “Chất xám
của Việt Nam đang bị phung phí một cách không tưởng tượng nổi. Nhiều
sinh viên của chúng ta lười học, tư duy thụ động…”.
GS Huỳnh Hữu Tuệ là trí thức Việt kiều đầu tiên được phong chức chủ
nhiệm bộ môn tại một trường đại học ở Việt Nam. Trước đây, lương của GS
Tuệ ở Canada là 10.000 USD/ tháng, giờ chỉ còn bằng mức lương một giảng
viên đại học của Việt Nam, cộng với 180.000 đồng/ngày để trả tiền cho căn
phòng khoảng 20 mét vuông trên tầng ba khách sạn Cầu Giấy và 100.000
đồng tiền ăn mỗi ngày. Ngay sau khi đất nước giải phóng, ông là một trong
những thế hệ Việt kiều đầu tiên trở về tái thiết một sự nghiệp mới. Mỗi dịp
được trò chuyện cùng cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nguyên Phó Thủ
tướng Vũ Khoan, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, vị giáo sư già lại tận
dụng tối đa cơ hội được “nói thẳng, nói thật” về các vấn đề trọng đại của đất
nước.
Bất kể một cuộc họp bàn, giao lưu với các trưởng khoa, ban giám hiệu các
trường đại học, ông không ngần ngại phê phán những yếu kém, bất cập của
giáo dục Việt Nam. Chỉ một lẽ đơn giản, với ông, trách nhiệm của một trí
thức là phải biết “MỞ MỒM” nói lên sự thật dù là với ai và ở bất kỳ đâu.
Câu nói của ông chợt khiến tôi liên tưởng đến nhận xét của nhà văn Nguyên
Ngọc khi viết về Giáo sư Nguyễn Khắc Viện. “Nhiệm vụ của kẻ sĩ, thời nào
cũng vậy, là gây dư luận.” Gây, khuấy động dư luận, không để cho dư luận
được yên trí, bằng lòng với tấy cả những gì đã tưởng là đương nhiên. Giữ
cho trí óc và lương tâm của xã hội luôn luôn tỉnh thức là vai trò canh gác

thường trực của trí thức. Vai trò này tôi đã cảm nhận sâu sắc ở con người,
khí tiết, lời nói và hành động của Giáo sư Huỳnh Hữu Tuệ.
Phóng viên (PV): Những năm tháng chiến tranh ông ở đâu?
GS Huỳnh Hữu Tuệ (HHT): Tôi ở Canada. Tôi rời đất nước từ những năm
1960, khi đạt học bổng du học tại Canada và New Zealand. Nhưng tôi đã
chọn Đại học Laval - Canada làm nơi dừng chân. Sau thời gian học đại học,
tôi được giữ lại trường làm nghiên cứu sinh đồng thời là giảng viên. Những
năm tháng đó tôi làm Phó Chủ tịch Hội người Việt ở Canada và thường
xuyên xuống đường tham gia phong trào phản chiến, ủng hộ hòa bình cho
Việt Nam
PV: Vậy cảm giác của sự ly biệt cũng khác với những người ra đi năm
1975?
HHT: Khác hơn nhiều. Bởi lẽ gắn bó của tôi với Việt Nam là gắn bó của một
công dân với đất nước có chiến tranh và phải làm cách nào để giải quyết
chuyện này.
PV: Những người ra đi năm 1975 mang trong lòng đau đớn, hận thù và nghĩ
rằng họ như đang bị đẩy đi, bị cướp mất. Còn những người ra đi trước như
ông lại mang trong lòng nỗi buồn chiến tranh, nỗi đau của một người con
mất nước…Cho nên những người như ông sẽ trở về Tổ quốc dễ dàng hơn và
xúc động hơn so với những người ra đi sau 30/04/1975?
HHT: Sau giải phóng, lập tức tôi đã trở về.
PV: Như vậy là đã lâu rồi. Và cảm giác của cuộc trở về lúc đó thế nào? Ông
có cảm giác lo sợ nào đó không ?
HHT: Không hề sợ hãi mà ngược lại hãnh diện. Nhưng hơi thất vọng. Vẫn
có người phê bình: “Anh chưa thấm được mối thù giai cấp”. Nhưng theo tôi
cuộc chiến tranh đó không chỉ đơn thuần là mối thù giai cấp. Đó là cuộc
chiến giữa hai đối thủ giữa một bên là quân xâm lược và một bên là dân tộc
bị xâm lược. Động cơ giải phóng dân tộc còn lớn hơn tất thảy.
PV: Bây giờ chúng ta có thể nói rằng: Hồi đó, ngay sau năm 1975, có một
số Tiến sĩ khoa học người Việt sống ở nước ngoài trở về theo lời kêu gọi của
đất nước. Nhưng có một điều gì đó làm cho những người trí thức hồ hởi về
giúp quê hương nhưng đã lại ra đi….

HHT: Đúng như vậy nhưng sự thật có tính khách quan của nó. Công lao của
Đảng 20 năm qua là cởi trói. Nhưng làm sao phải đẩy mạnh tốc độ phát triển
hơn nữa.
PV: Ông là một trong rất ít trí thức Việt Nam sống ở nước người đã trở về tổ
quốc rất sớm ngay sau khi đất nước thống nhất. Tôi muốn biết ý muốn khi
trở về của ông là gì?
HHT: Vai trò của tôi là cầu nối chặt chẽ giữa trí thức bên ngoài và trí thức
bên trong. Tôi muốn xóa đi những mặc cảm và cả những lo sợ của không ít
trí thức Việt Nam sống ở nước ngoài về chính quyền trong nước.
PV: Ông có thể hé lộ gì về gia đình mình? Bởi việc trở về Tổ quốc của ông
trong một thời điểm khó khăn và có nhiều đe dọa. Chính thế mà gia đình
chắc chắn có ảnh hưởng rất lớn đền việc trở về của ông?
HHT: Vợ tôi là người gốc Canada, thành viên Đảng Cộng sản Canada và đã
tham gia chống Mỹ cứu nước. Bà ấy cũng thường xuyên về Việt Nam và
đóng góp cho công việc của tôi cũng như sự nghiệp phát triển của đất nước
rất nhiều lời khuyên hữu ích. Bà ấy đã ủng hộ tôi trở về. Hơn nữa, Việt Nam
là quê chồng của bà ấy.
PV: Ông trở về Việt Nam trong một khoảng thời gian quá sớm và làm việc
dù theo cách thức thuyết phục hay mách nước (vai trò cầu nối) thì phản ứng
của cộng đồng Việt kiều vẫn mang tính tiêu cực?
HHT: Tôi đã từng là kẻ thù của một số người trong cộng đồng hải ngoại. Có
rất nhiều người đã tuyên chiến với tôi. Một số người tung tin sẽ qua Canada
tiêu diệt “Việt cộng nằm vùng” Huỳnh Hữu Tuệ. Qua Paris, tôi thấy ảnh của
mình dán khắp nơi. Nhưng mình đâu có sợ. Tôi sẵn sàng đối mặt với mọi
chuyện, nếu chúng “dùng súng” mình cũng sẽ “dùng súng”.
PV: Sau những năm 1980, rất nhiều trí thức yêu nước trở về và có một số lại
ra đi. Vậy theo ông, những điểm nào là khó nhất cho các trí thức trở về
trước năm 1990?
HHT: Năm 1979, Việt Nam bị bao vây, cấm vận, tình hình bế tắc không có
cách nào tháo gỡ. Chỉ có một nơi duy nhất có thể tập kết nhu yếu phẩm và
đưa về trong nước là Canada. Tổ chức do tôi lãnh đạo đã dùng toàn bộ trí tuệ
đứng mũi chịu sào. Trước và sau 75, tôi chưa bao giờ có sự cảnh giác về mặt
chính trị.

PV: Tôi biết với một người trí thức tự tin, có tình yêu thực sự với dân tộc thì
không điều gì khiến họ phải cảnh giác, để ý. Vậy những người giống như
ông có trở về Việt Nam nhiều hơn không và họ có mang mặc cảm của những
năm xa xưa không?
HHT: Tôi không có con số thống kê nhưng dựa trên kinh nghiệm cá nhân,
thì những người như tôi là rất hiếm. Người Việt trở về đất nước có hai dạng:
Một là không có cách nào sống đàng hoàng ở nước ngoài, một dạng khác trở
về để khai thác thị trường Việt Nam. Nếu làm giáo dục, khoa học thành
công, thì họ đã trụ lại bên kia rồi rồi. Từ những năm 1980 tôi đã có kiến nghị
phải mở cửa kinh tế ngay để đón những luồng đầu tư công nghệ cao, sử
dụng nhân công trong nước…Chất xám theo đó sẽ phát triển rất nhanh.
Dân tộc Việt Nam có hàng nghìn năm lịch sử nhưng luôn nằm trong thế tử
thủ. Đất nước hình chữ S bị chắn dãy núi Hoàng Liên Sơn… Công cuộc khai
phá đang tiến hành thì thực dân Pháp xâm chiếm. Dân tộc Việt Nam suốt đời
đánh giặc, cứu nước mà đánh giặc thì cần tinh ranh phá thế bao vây. Đánh
giặc phải phá. Ngay trong thời hiện đại, nếu lấy cày, cuốc để phá sẽ lộ ra
hàng nghìn chuyện tiêu cực. Điều nguy hiểm nhất là mở cơ chế mà không
biết cách kiểm soát, thì sẽ nổ tung rồi nó đập lại chính mình. Điều mà tôi sốt
ruột là mong cho các nhà lãnh đạo có một chiến lược thật chặt và thật rõ để
đẩy nhanh tốc độ phát triển.
PV: Là một giáo sư uy tín, là một người sống nhiều năm ở một nước phát
triển và là một người hết lòng với Tổ quốc, xin ông hãy nói thật cái gì đang
là cản trở lớn nhất cho sự phát triển của đất nước Việt Nam?
HHT: Cơ chế. Không có gì bằng sức mạnh nhân dân nhưng nhân dân không
thể kiểm tra hết. 15 năm trước, có những nhà lãnh đạo chỉ ngồi rồi đọc báo
cáo rồi xem đó là kết quả. 15 năm sau có chuyện ngược lại, chính phủ đã
thành lập những đoàn thanh tra đã kiểm tra các báo cáo đó đúng hay sai.
Lãnh đạo giỏi sẽ từ từ thay đổi cơ chế này cho tương thích với tốc độ phát
triển của xã hội.
PV: Điều gì là khó nhất với một giáo sư từ nước ngoài trở về Việt Nam?
HHT: Điều tôi buồn nhất là điều kiện làm việc thiếu thốn. Nó không cho
mình phát huy tất cả khả năng. Rất may trong phòng làm việc hiện tại của tôi
có hai tiến sĩ ở Mỹ, Úc trở về nghiên cứu khoa học. Ba thầy trò quyết tâm
phát triển nhóm này trở thành một nhóm chất lượng như các nhóm tôi đã
từng tổ chức ở nước ngoài. Những em theo học trong nhóm rất đam mê và

ham học. Đó là cách độc nhất để chứng minh: trong điều kiện không tương
thích nhưng tiềm lực vẫn dồi dào, thì vẫn có thể phát huy được. Nhưng trong
điều kiện hiện nay mô hình này không thể nhân rộng. Muốn mở rộng phải có
một tập thể quyết tâm, thống nhất. Cái khó nhất của Việt Nam trong giáo
dục là không ai lãnh đạo ai cả, không ai thống nhất ai mặc dù chức danh
lãnh đạo rất lớn. Tôi thấy rất rõ về cách làm việc kỳ cục: Lãnh đạo rất sợ
trách nhiệm
PV: Những thế hệ Việt kiều thứ 3, thứ 4 thì sao? Có thể vẫn nói ngôn ngữ
đó, dòng máu không bị pha tạp nhưng sự trở về của họ hoàn toàn khó?
HHT: Thế hệ thứ 3, 4 trở về nước sẽ hoàn toàn như một người nước ngoài,
thậm chí phải trả lương như một chuyên gia người nước ngoài.
PV: Người Trung Quốc rất tài trong chuyện này. Họ luôn tìm mọi cách để
mời gọi những trí thức Trung Quốc sinh sống và làm việc ở nước ngoài trở
về lục địa. Ở Trung Quốc, một giáo sư như ông nếu trở về đất nước làm việc
thì điều kiện sẽ hoàn toàn như ở nước ngoài.
HHT: Chiến tranh ở Việt Nam kéo dài quá lâu. Những người ra đi năm 1975
có tâm lý mất toàn bộ cuộc đời. Họ không bao giờ quên mối hận đó. Nhưng
vị thế Việt Nam ngày càng mạnh lên, thì những hận thù đó sẽ được hóa giải.
Vì dù sao niềm hãnh diện dân tộc vẫn có một sức sống mãnh liệt trong lòng
mỗi người dân Việt Nam.
PV: Rất nhiều Việt kiều lên tiếng muốn trở về. Nhưng thực tế số người trở về
lại rất ít, họ nói vậy nhưng họ không trở về ?
HHT: Ông nêu vấn đề rất đúng. Có bao nhiêu người trở về làm việc chấp
nhận điều kiện này? Rất ít. Bản thân tôi đã nếm trải tất cả mọi điều, cao
sang, đau khổ…nên mọi khó khăn sẽ chẳng có ý nghĩa gì nữa!
PV: Những điểm nào là khác biệt nhất giữa các tiến sĩ đào tạo trong nước
với tiến sĩ nước ngoài?
HHT: Tôi không nói đến tiến sĩ thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội nhưng đào tạo
tiến sỹ khoa học cần có những điều tối thiểu thật sự. Một người làm tiến sĩ
phải dành 15 giờ mỗi ngày, 7 ngày trong một tuần, 4 năm dài đằng đẵng.
Tiến sĩ Việt Nam một ngày làm 1 đến 3 giờ đồng hồ trong ba năm. Mới tính
khoản thời gian đã khác nhau một trời một vực. Rồi còn tài liệu sử dụng,
sách báo tham khảo, đồng nghiệp bên cạnh như thế nào để có thể thảo luận,

