ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
CHU ANH DŨNG
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN
ĐA DẠNG SINH HỌC KHU BẢO TỒN
BIỂN ĐẢO CÙ LAO CHÀM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
HÀ NỘI - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
CHU ANH DŨNG
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN
ĐA DẠNG SINH HỌC KHU BẢO TỒN BIỂN
ĐẢO CÙ LAO CHÀM
Chuyên ngành: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Mã số:
8850101.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn: PGS.TS. Uông Đình Khanh
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG
Giáo viên hướng dẫn
Chủ tịch hội đồng chấm luận
văn thạc sĩ khoa học
PGS.TS Uông Đình Khanh
PGS.TS Đặng Văn Bào
HÀ NỘI - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả
Chu Anh Dũng
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, Học viên đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của Quý thầy cô, các nhà khoa học, các đồng nghiệp,
gia đình và bạn bè. Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin được bày tỏ lời
cảm ơn chân thành tới:
PGS.TS. Uông Đình Khanh, Viện Địa lý - Viện Hàn lâm Khoa học và Công
nghệ Việt Nam; đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ học viên trong suốt
quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Cục thống kế tỉnh Quảng Nam, Chi cục thống kê thành phố Hội An; UBND
thành phố Hội An, UBND xã Tân Hiệp, Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao
Chàm đã cung cấp số liệu quý báu, người dân xã Tân Hiệp đã nhiệt tình giúp đỡ
trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Đề tài độc lập cấp Quốc gia “Luận cứ khoa
học nhằm hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn đa dạng sinh học với sinh kế bền vững
và phát triển kinh tế - xã hội ở Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An”, mã
số ĐTĐL.XH-02/16 đã hỗ trợ và cung cấp số liệu để thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Chu Anh Dũng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................... 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI ............................................................................... 1
2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ............................................................. 2
2.1. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................. 2
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................................ 2
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ............................................................. 2
3.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................................... 2
3.2. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................................. 2
4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ......................... 3
5. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN .................................................................................. 3
CHƯƠNG 1 ..................................................................................................................... 4
TỔNG QUAN .................................................................................................................. 4
1.1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẢO TỒN ĐA
DẠNG SINH HỌC .......................................................................................................... 4
1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước ................................................................................ 4
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước ................................................................................. 6
1.1.3 Các nghiên cứu ở Khu bảo tổn biển Cù Lao Chàm .......................................... 10
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC ................................ 13
1.2.1 Bảo tồn đa dạng sinh học .................................................................................. 13
1.2.2 Nghiên cứu điều kiện địa lý phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học ......... 18
1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI ....................................................................................................... 19
1.3.1. Phương châm bảo tồn cho phát triển và phát triển cho bảo tồn ...................... 19
1.3.2. Bảo tồn để phát triển ........................................................................................ 20
1.3.3. Phát triển để bảo tồn ........................................................................................ 20
1.4. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................ 21
1.4.1. Quan điểm nghiên cứu ..................................................................................... 21
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 22
CHƯƠNG 2 ................................................................................................................... 24
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI KHU BẢO TỒN BIỂN CÙ LAO
CHÀM ............................................................................................................................ 24
2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỦA KHU BTB CÙ LAO CHÀM ......................... 24
2.1.1.Xây dựng, thực hiện Dự án Khu BTB Cù Lao Chàm (2003 – 2006) ............... 24
2.1.2. Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm (2006 – 2009) .............................................. 26
2.1.3 Khu BTB Cù Lao Chàm – Vùng lõi của Khu DTSQTG Cù Lao Chàm – Hội An (từ năm 2009 đến nay) .................................................................................. 27
2.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU BẢO TỒN BIỂN ĐẢO CÙ LAO CHÀM ............. 30
2.2.1 Vị trí địa lý ........................................................................................................ 30
2.2.2 Đặc điểm địa chất ............................................................................................. 32
2.2.3. Đặc điểm địa hình - địa mạo ............................................................................ 33
2.2.5 Đặc điểm thủy, hải văn, nước dưới đất ............................................................. 38
2.2.6 Đặc điểm thổ nhưỡng........................................................................................ 40
2.3 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ -XÃ HỘI CỦA KHU BẢO TỒN BIỂN ĐẢO CÙ LAO
CHÀM ............................................................................................................................ 42
2.3.1 Hành chính, dân số, dân tộc và lao động .......................................................... 42
2.3.2 Hiện trạng các ngành kinh tế ............................................................................ 44
2.3.3 Hiện trạng văn hóa, xã hội và cơ sở hạ tầng ..................................................... 48
CHƯƠNG 3 ................................................................................................................... 52
ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
Ở KHU BẢO TỒN BIỂN ĐẢO CÙ LAO CHÀM ........................................................ 52
3.1 ĐA DẠNG SINH HỌC KHU BẢO TỒN BIỂN ĐẢO CÙ LAO CHÀM .............. 52
3.3.1 Hệ sinh thái rừng thường xanh Cù Lao Chàm .................................................. 52
3.1.2 Hệ sinh thái vùng triều, bờ đá ........................................................................... 59
3.1.3 Hệ sinh thái rạn san hô ...................................................................................... 60
3.1.4 Hệ sinh thái cỏ biển .......................................................................................... 63
3.1.5 Hệ sinh thái rong biển ....................................................................................... 64
3.2 HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ, KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN GÂY SUY THOÁI ĐA DẠNG SINH HỌC Ở KHU BẢO TỒN BIỂN CÙ LAO CHÀM .... 66
3.2.1 Thực trạng khai thác, sử dụng tài nguyên ĐDSH ............................................. 66
3.2.2 Công tác quản lý bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học .................................... 69
3.2.3 Các dạng tài nguyên đa dạng sinh học có nguy cơ suy thoái .......................... 73
3.2.4 Nguyên nhân gây suy thoái tài nguyên ĐDSH ................................................. 78
3.2.5 Tác động qua lại giữa bảo tồn đa dạng sinh học và hoạt động phát triển kinh tế, sinh kế của người dân ........................................................................................... 84
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ HƯỚNG TỚI
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ........................................................................................... 87
3.3.1 Cơ sở và nguyên tắc bảo tồn ............................................................................. 87
3.3.2 Một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học ...................................................... 88
3.3.2.1 Giải pháp liên quan đến công tác quản lý ................................................ 88
3.3.2.2 Giải pháp liên quan đến nâng cao nhận thức ........................................... 90
3.3.2.3 Giải pháp liên quan đến phát triển nguồn nhân lực ................................. 92
3.3.2.4 Giải pháp liên quan đến khoa học, công nghệ thông tin........................... 92
3.3.2.5 Giải pháp liên quan đến hợp tác trong nước và quốc tế ........................... 93
3.3.2.6 Giải pháp liên quan đến các mô hình phát triển sinh kế cho người dân .. 93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ........................................................................................ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................. 98
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVMT : Bảo vệ môi trường
BTB : Bảo tồn biển
BVNN : Bảo vệ nghiêm ngặt
DLST : Du lịch sinh thái
DLCĐ : Du lịch cộng đồng
DTSQ : Dự trữ sinh quyển
DTSQTG : Dự trữ sinh quyển thế giới
ĐDSH : Đa dạng sinh học
ĐVPD : Động vật phù du
ĐQL : Đồng quản lý
HST : Hệ sinh thái
KT-XH : Kinh tế - xã hội
LMPA : Hợp phần Sinh kế Bền vững bên trong và xung quanh
các khu Bảo tồn biển
PTBV : Phát triển bền vững
UBND : Uỷ ban nhân dân
UNEP : Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc
(United Nations Envornmental Program)
TNTN : Tài nguyên thiên nhiên
TNNV : Tài nguyên nhân văn
TVPD : Thực vật phù du
TTQLBTDT : Trung tâm quản lý bảo tồn du lịch
RSH : Rạn san hô
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ phân vùng Khu BTB Cù Lao Chàm thuộc tỷ lệ 1:25.000 ............ 26
Hình 2.2: Phân vùng Khu DTSQ Cù Lao Chàm - Hội An năm 2015 ....................... 29
Hình 2.3: Vị trí địa lý của Khu BTB Cù Lao Chàm ................................................. 31
Hình 2.4: Bản đồ nền địa hình vùng đảo Cù Lao Chàm ........................................... 34
Hình 2. 5: Hòn chồng (ảnh trái) hang Yến (ảnh phải) .............................................. 35
Hình 2.6: Một số bãi biển ở Cù Lao Chàm: Bãi Bắc (ảnh trái), Bãi Ông ( ảnh giữa), Bãi Xếp ( ảnh phải) ........................................................................ 36
Hình 2.7: Đảo Yến ( ảnh trái) và tổ yến Cù Lao Chàm ( ảnh phải) .......................... 48
Hình 2.8: Chùa Hải Tạng ( ảnh trái) và giếng cổ xóm Cấm ( ảnh phải) ................... 49
Hình 2.9: Cầu cảng tại Bãi Làng ( ảnh trái) và tại Bãi Hương ( ảnh phải) ............... 50
Hình 3. 1: Cầu cảng tại Bãi Làng ( ảnh trái) và tại Bãi Hương ( ảnh phải) .............. 53
Hình 3. 2: Bản đồ thảm thực vật vùng đảo Cù Lao Chàm ........................................ 53
Hình 3.3: Các loài thực vật quí hiếm trên đảo Cù Lao Chàm: Sơn Tuế ( ảnh trái), Lá Gấm (ảnh giữa), Bình Vôi ( ảnh phải) ...................................................................... 56
Hình 3.4: Các cây di sản Việt Nam trên đảo Cù Lao Chàm: cây Ngô đồng đỏ ( ảnh trái), cây đa 600 tuổi ( ảnh giữa) và cây Nánh ( ảnh phải) ........................................ 56
Hình 3. 5: Loài tôm càng Macrobrachium lar, ghi nhận mới cho Việt Nam, thu được trên suối nước ngọt ở đảo Cù Lao Chàm năm 2018 (ảnh trái) và Loài cua đá (Gecarcoidea lalandii) thu được trên đảo hòn Tai (ảnh phải) ................................... 60
Hình 3. 6: Khảo sát hệ sinh thái san hô quần đảo Cù Lao Chàm .............................. 62
Hình 3.7: Cỏ biển Cù Lao Chàm (Nguồn: Chu Thế Cường) .................................... 65
Hình 3.8: Bản đồ đa dạng sinh học tổng thể vùng đảo Cù Lao Chàm ...................... 65
Hình 3.9: Bản đồ đa dạng sinh học chi tiết vùng đảo Cù Lao Chàm ........................ 66
Hình 3.10: Khai thác hải sản trong đó có cả tôm hùm bông ở Khu BTB ................. 68
Hình 3.11: Khai thác hải sâm ở khu BTB Cù Lao Chàm ......................................... 68
Hình 3.12: Khai thác cua đá đảo Cù Lao Chàm ........................................................ 69
Hình 3.13: Khai thác sản phẩm lá, cây rừng bán cho du khách ................................ 69
Hình 3.14: Tôm hùm vùng biển Cù Lao Chàm ......................................................... 74
Hình 3.15: Cua đá Cù Lao Chàm được dán nhãn sinh thái ....................................... 76
Hình 3.16: Làm đường trên đảo ................................................................................ 79
Hình 3.17: Đào san lấp mặt bằng làm khu du lịch sinh thái tại Bãi Bìm .................. 79
Hình 3.18: Biểu đồ lượng khách tham quan xã đảo Tân Hiệp ( 2005-2017) ............ 81
Hình 3.19: Bãi Hương nằm trong các khu vực giảm mạnh độ mặn nước biển ........ 82
Hình 3.20: Sự đồng thuận của các bên trong công tác bảo tồn ĐDSH ..................... 90
tour Bãi Hương, từ vườn ươm san hô gắn kết
Hình 3.21: Sơ đồ với các điểm đến lân cận ........................................................................................... 95
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích, dân số, mật độ dân số xã Tân Hiệp đến 31/12/2016 ................ 42
Bảng 2. 2: Dân số theo giới tính và lao động xã Tân Hiệp đến 31/12/2016 ............. 43
lao động chia theo việc trong độ làm
Bảng 2.3: Số người tuổi xã Tân Hiệp năm 2016 .............................................................................................. 43
Bảng 2.4: Hoạt động của ngành du lịch - dịch vụ ở Cù Lao Chàm .......................... 45
Bảng 2.5: Số lượng tàu thuyền khai thác hải sản tại đảo Cù Lao Chàm ................... 46
Bảng 2.6: Số lao động ngư nghiệp năm 2015 - 2016 ở xã Tân Hiệp ........................ 46
lượng gia súc gia cầm ở xã Tân Hiệp
Bảng 2.7: Biến động số giai đoạn 2012-2016 .................................................................................................. 47
Bảng 3.1: Hiện trạng rừng khu BTB Cù Lao Chàm ................................................. 52
Bảng 3.2: Danh sách các loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm .................................... 55
Bảng 3.3: Danh sách các loài chim quí hiếm tại Cù Lao Chàm ............................... 57
lưỡng cư và bò sách các loài sát quý hiếm
Bảng 3.4: Danh ở quần đảo Cù Lao Chàm .......................................................................................... 58
Bảng 3.5: Thành phần loài san hô cứng quần đảo Cù Lao Chàm ............................. 61
Bảng 3.6: Số lượng thành phần loài cá rạn san hô tại Cù Lao Chàm ....................... 62
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của hoạt động sinh kế đến ĐDSH ......................................... 84
Bảng 3.8: Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với sinh kế người dân .. 87
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) là một trong những vấn đề hết sức quan
trọng hiện nay do nhiều loài động, thực vật đang bị đe dọa một cách nghiêm trọng và đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn ĐDSH và
phát triển kinh tế - xã hội đã chính thức được công nhận tại Hội nghị Liên Hiệp
Quốc về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janeiro tháng 6 năm 1992. Nhận thức
được giá trị to lớn và đang đứng trước sự suy thoái nghiêm trọng của nguồn tài nguyên này, trong những năm qua, Nhà nước ta đã rất quan tâm đến công tác bảo
tồn ĐDSH và có hàng loạt chính sách cũng như hoạt động thực tiễn nhằm bảo tồn
ĐDSH.
Khu dự trữ sinh quyển thế giới (DTSQTG) Cù Lao Chàm - Hội An được UNESCO công nhận vào năm 2009 với diện tích khoảng 33.737 ha, gồm 3 phân vùng chính: Vùng lõi với diện tích 11.560 ha (bao gồm toàn bộ diện tích của Khu bảo tồn biển đảo Cù Lao Chàm), vùng đệm (20.660 ha) và vùng chuyển tiếp 1.517 ha (bao gồm thành phố Hội An). Khu DTSQTG Cù Lao Chàm - Hội An có những điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển các hệ sinh thái (HST), có tiềm năng ĐDSH cao với sự hiện diện của các sinh cư (habitats) điển hình quan trọng (rừng dừa nước, thảm cỏ biển, rong biển, rạn san hô và vùng triều) và nguồn lợi sinh vật khá phong phú (Nguyễn Văn Long và cộng sự, 2008 ) [18].
Khu BTB Cù Lao Chàm nằm trong vùng lõi của Khu DTSQTG có những điều kiện về mặt địa lý hết sức thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, xã hội và du lịch. Tuy nhiên khu vực này đã và đang phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức từ các hoạt động phát triển kinh tế cùng với các hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư trong khu vực. Những tác động này sẽ làm ảnh hưởng đến công tác bảo tồn ĐDSH cũng như môi trường sống của nhiều loài sinh vật quý hiếm, đặc hữu. Do đó việc nghiên cứu về các điều kiện địa lý của khu vực (bao gồm điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế-xã hội, các vấn đề trong công tác quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên) là hết sức cần thiết nhằm đưa ra các biện pháp quản lý, sử dụng, khai thác và bảo tồn tài nguyên ĐDSH một cách hiệu quả, kinh tế cùng với sự tham gia tích cực của cộng đồng.
Chính vì vậy học viên đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học Khu bảo tồn biển đảo Cù Lao Chàm" làm nội dung nghiên cứu của luận văn.
1
2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Đưa ra được những cơ sở khoa học về điều kiện địa lý cho việc đề xuất các
biện pháp góp phần bảo tồn các giá trị tài nguyên ĐDSH tại Khu BTB Cù Lao
Chàm với sự tham gia của cộng đồng địa phương và hướng tới phát triển bền vững.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan cơ sở lý luận về ĐDSH và các công trình nghiên cứu trên thế
giới và Việt Nam có liên quan.
- Đánh giá thực trạng về điều kiện tự nhiên và các hoạt động phát triển kinh
tế - xã hội, hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư ở khu BTB Cù Lao Chàm.
- Điều tra về tài nguyên ĐDSH, công tác quản lý tài nguyên ĐDSH, thực
trạng khai thác, sử dụng tài nguyên ĐDSH ở khu BTB Cù Lao Chàm.
- Nghiên cứu những dạng tài nguyên có nguy cơ bị suy thoái; xác định những
nguyên nhân gây ra suy thoái tài nguyên ĐDSH trong quá trình phát triển kinh tế
của người dân khu BTB Cù Lao Chàm.
- Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp bảo tồn tài nguyên ĐDSH ở Khu
BTB Cù Lao Chàm.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các điều kiện về mặt địa lý (tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn) và
tài nguyên ĐDSH trong hoạt động phát triển kinh tế, sinh kế của cộng đồng dân cư
tại Khu BTB Cù Lao Chàm.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Các điều kiện về mặt địa lý trong Khu BTB Cù
Lao Chàm (vùng lõi của khu DTSQTG Cù Lao Chàm – Hội An)
- Phạm vi thời gian, không gian nghiên cứu: Các số liệu, tài liệu và thông tin được thu thập từ các tài liệu, các nghiên cứu trước đây, niên giám thống kê từ 2016 đến 2018 và các báo cáo khoa học, bài báo có liên quan nội dung luận văn thực
hiện trong khu BTB Cù Lao Chàm.
2
4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung dữ liệu
đa dạng sinh học Khu BTB Cù Lao Chàm, cùng với các dạng tài nguyên thiên
nhiên, hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực nghiên cứu.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho các nhà quản lý trong công tác xây dựng các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học trong chiến lược
phát triển bền vững KT-XH gắn với BVMT khu BTB Cù Lao Chàm nói riêng và
tỉnh Quảng Nam nói chung theo quan điểm “bảo tồn để phát triển” và “phát triển
phục vụ bảo tồn”.
5. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được cấu trúc thành 3 chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội khu bảo tồn biển Cù Lao
Chàm
Chương 3: Đa dạng sinh học và các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học ở khu
bảo tồn biển Cù Lao Chàm
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẢO TỒN ĐA
DẠNG SINH HỌC
Ngày nay vấn đề nghiên cứu và bảo tồn ĐDSH được cả thế giới quan tâm,
nhất là sau khi Công ước ĐDSH đã được phê duyệt tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế
giới ở Rio de Janeiro năm 1992. Thuật ngữ ĐDSH được dùng lần đầu tiên vào năm
1988 (Wilson, 1988) và sau khi Công ước ĐDSH được ký kết (1993), đã được dùng phổ biến trên các diễn đàn Quốc tế.
1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới, các khu bảo tồn biển đã xuất hiện từ lâu. Năm 1913, Khu bảo tồn biển đầu tiên được thành lập tại Công viên quốc gia Cabrillo, California và đến
cuối năm 2013, Hoa Kỳ đã có hơn 1.700 khu bảo tồn biển [23]. Theo World Wide Fund For Nature (WWF), tính đến 2015 đã có 4% diện tích biển được bảo tồn [30].
Trong hệ thống các khu BTB trên thế giới có rất nhiều khu BTB thuộc vùng
lõi của khu DTSQTG với những đặc thù sinh thái khá tương đồng với khu BTB Cù
Lao Chàm, trong đó một số khu BTB đã nghiên cứu và áp dụng tương đối thành
công các mô hình bảo tồn ĐDSH gắn với phát triển kinh tế xã hội với mục tiêu phát
triển bền vững
Điển hình là Vườn Quốc gia Halla (thuộc vùng lõi của khu DSTQ đảo Jeju –
Hàn Quốc, nằm ở phần phía nam của bán đảo Triều Tiên với một ngọn núi lửa có
độ cao 1.950 mét so với mực nước biển) có hai dòng sông bao bọc xung quanh và
ba hòn đảo nhỏ. Sự đa dạng của các hệ sinh thái được trong khu vực bao gồm các
khu rừng lá kim, rừng lá rụng ôn đới, rừng thường xanh ôn đới và đồng cỏ ôn đới. Ba hòn đảo nhỏ không người ở có tầm quan trọng trong bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học rừng và hệ thống các rạn san hô. Với sự đa dạng sinh học cao, địa hình núi lửa độc đáo và nền văn hóa đặc sắc của đảo Jeju đã thu hút nhiều khách du lịch. Phát triển du lịch bền vững kết hợp bảo tồn các giá trị TNTN đã được chính phủ Hàn Quốc và chính quyền đảo Jeju hết sức quan tâm. Mô hình được chính quyền nơi đây nghiên cứu và áp dụng là phát triển du lịch sinh thái và kinh tế sinh thái gắn
với bảo tồn đa dạng sinh học, cụ thể:
4
- Khu vực vùng lõi: là nơi được phép diễn ra các hoat động tham quan và đi bộ vào Vườn quốc gia Halla, bên cạnh đó là những hoạt động liên quan đến giám
sát và nghiên cứu, và 1 số khu vực cho phép là nơi trồng nấm hương (Lentinus
edodes) cho người dân địa. Trong khu vực ba hòn đảo không có người ở được cho
phép diễn ra các hoạt động câu cá và vùng thung lũng dọc hai con sông thường được diễn ra các hoạt động tham quan cắm trại mùa hè.
- Vùng đệm: trồng nấm hương, trồng rừng và bảo vệ rừng, câu cá, ngắm
cảnh, các hoạt động giám sát và nghiên cứu, các hoạt động du lịch tàu được cho
phép trên vùng biển quanh ba đảo nhỏ, nơi đây được thiết kế thành công viên biển
dành cho du lịch.
- Vùng chuyển tiếp: Các loại đất trong vùng chuyển tiếp chủ yếu là những
đồng cỏ, rừng, đất canh tác nông nghiệp, các trang trại chăn nuôi, vườn cây ăn trái
và các nhà kính, các cơ sở du lịch liên quan như sân golf và các khóa học cưỡi
ngựa, và khu vực chủ yếu tập trung dân cư sinh sống. Những hoạt động bảo tồn kết
hợp phát triển kinh tế sinh thái, kinh tế bền vững nơi đây đã gặt hái được nhiều
thành công đáng kể, đưa đảo Jeju trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn, tạo ra nguồn
thu nhập ổn định cho người dân và nguồn thu ngân sách cho chính quyền địa
phương đồng thời vẫn gìn giữ được các giá trị to lớn mà thiên nhiên ban tặng cho
vùng đất này.
Công viên Quốc gia Yakushima (thuộc vùng lõi của khu DTSQ đảo
Yakushima – Nhật Bản nằm ở tỉnh Kagoshima, Kyushu ở phía nam của Nhật Bản).
Khu vực có các HST rừng nguyên sinh nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới, rừng lá
kim thường xanh với cây tuyết tùng Nhật Bản đặc thù (Cryptomeria japonica) - một số trong số đó có tuổi đời lên đến hơn 1.000 năm, đồng cỏ, HST ven biển với giá trị
ĐDSH cao với nhiều loài sinh vật đặc trưng quý hiếm. Dân số trên đảo vào khoảng
14.000 người sinh sống bằng du lịch, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và các ngành công nghiệp khác. Cộng đồng dân cư trên đảo có một nền văn hóa truyền thống độc đáo có mối quan hệ gần gũi với thiên nhiên, đặc biệt chặt chẽ với loài hươu (Cervus nippon) – loài động vật đặc trưng và chiếm số lượng rất lớn trên đảo, rùa biển (Caretta) và cá thu (Scomberomorus niphonius). Cùng với nhiều lợi thế về
nguồn TNTN và TNNV phong phú, đa dạng và độc đáo, Yakushima cũng từng phải
đối mặt với rất nhiều thách thức trong công tác bảo tồn ĐDSH trong bối cảnh phát
triển kinh tế. Khi đảo Yakushima được công nhận là khu DTSQ và được thế giới
5
biết đến nhiều hơn thì lượng khách du lịch đến tham quan đảo cũng tăng dần hàng năm, lúc này lại gây ra nhiều áp lực lên các nguồn TNTN khi du khách hầu như chỉ
tập trung vào những nơi cụ thể gây quá tải và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự
nhiên những nơi này (như Jomon Sugi). Bên cạnh đó việc bảo vệ nghiêm ngặt loài
hươu (không có kẻ thù tự nhiên trên đảo) cũng gây nên sự gia tăng số lượng đàn hươu quá mức, ảnh hưởng đến mùa màng của người dân và gây hư hại nặng nề
thảm thực vật tự nhiên. Do vậy chính quyền Yakushima đã nghiên cứu và áp dụng các kế hoạch tích hợp giữa khoa học kỹ thuật, quản lý và quy hoạch để tăng cường
phát triển nền kinh tế địa phương dựa vào việc sử dụng bền vững nguồn TNTN, bảo
tồn ĐDSH bằng cách tăng cường du lịch sinh thái kết hợp với du lịch văn hóa. Khái
niệm “Làng văn hóa môi trường Yakushima” được đề ra với việc nhấn mạnh mối
quan hệ lịch sử giữa thiên nhiên hùng vĩ nơi đây với nền văn hóa truyền thống đặc trưng. Khái niệm này chia đảo Yakushima thành 3 khu vực dựa trên quan điểm của
người dân về thiên nhiên từng khu vực và mỗi khu vực có chính sách bảo tồn và sử
dụng bền vững riêng:
- Khu vực bảo vệ: là vùng lõi của đảo Yakushima, nơi đây ngoài là khu di
sản thế giới thì còn là không gian cho tín ngưỡng của người dân. Khu vực này là nơi
tôn trọng các mối quan hệ lịch sử giữa con người và thiên nhiên, cấm các tác động
của con người và kiểm soát lượng du khách chặt chẽ.
- Khu vực sử dụng bền vững: tiếp giáp và bao bọc xung quanh vùng lõi, là
nơi có các HST được bảo tồn, các hoạt động của còn người có giới hạn, được đầu tư
để phát triển du lịch sinh thái thân thiện với thiên nhiên, là nơi phát triển ngành lâm
nghiệp bền vững với các loài cây bản địa.
- Khu dân sinh và văn hóa: bao bọc phía ngoài cùng của đảo, là nơi thúc đẩy
một nền văn hóa phong phú và người dân sống hài hòa với thiên nhiên, nơi xây
dựng các cơ sở du lịch theo hướng phân tán sự tập trung của khách du lịch ra xung quanh đảo.
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu khai thác, sử dụng TNTN và Bảo tồn đa dạng sinh học đã được quan tâm khá sớm, đặc biệt sau khi Đất nước hoàn toàn
thống nhất (năm 1975), khi tiếp thu kinh nghiệm từ các nước trên thế giới, Việt Nam đã có được những thành quả đáng kể các về mặt lý luận khoa học và xây dựng
các kế hoạch, chiến lược bảo tồn ĐDSH. Đối với khu vực biển và ven bờ, hải đảo
6
đã có những nghiên cứu cơ bản như điều tra tổng hợp, điều tra cơ bản tài nguyên như: Chương trình KH&CN phục vụ quản lý biển, hải đảo và phát triển kinh tế biển
(KC.09/11-15); Chương trình KH&CN phục vụ bảo vệ môi trường và phòng tránh
thiên tai (KC.08); các đề tài/nhiệm vụ KH&CN độc lập cấp Nhà nước; Chương
trình điều tra tổng hợp hệ thống đảo ven bờ phục vụ phát triển KT-XH và di dân ra đảo; các công trình cấp nhà nước về đánh giá điều kiện tài nguyên sinh vật và HST,
nguồn lợi thủy sản; các công trình về động lực bờ và quá trình bồi tụ xói lở; công trình đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, KT-XH hệ thống đảo ven
bờ Việt Nam trong chiến lước phát triển kinh tế biển; Chiến lược biển Việt Nam
đến năm 2020; hay Chương trình 47: Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý
tài nguyên - môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 (Quyết định số
47/2006/QĐ-TTg ngày 01/03/2006), trong đó có dự án thành phần "Điều tra tổng thể ĐDSH và nguồn lợi thủy hải sản vùng biển Việt Nam; Quy hoạch và xây dựng
hệ thống các khu bảo tồn biển phục vụ phát triển bền vững" giao cho Bộ
NN&PTNT thực hiện [8].
Hợp phần "Sinh kế bền vững bên trong và xung quanh các khu bảo tồn biển" thuộc Chương trình hợp tác phát triển Việt Nam - Đan Mạch trong lĩnh vực môi trường do Bộ NN&PTNT chủ trì thực hiện từ năm 2005 - 2011 và thí điểm cho 3 khu bảo tồn biển: Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Hòn Mun (Khánh Hòa), Phú Quốc (Kiên Giang). Mục tiêu phát triển của hợp phần nhằm khôi phục và bảo vệ các sinh cảnh quan trọng và ĐDSH ở vùng biển và ven biển mà không làm ảnh hưởng đến nhu cầu sinh kế của người nghèo và các cộng đồng dễ bị tổn thương ở xung quanh.
Nguyễn Thùy Dương (2009) [12] đã nghiên cứu “Sự biến động cảnh quan và ĐDSH đất ngập nước ven biển tỉnh Thái Bình” phục vụ định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững. Đề tài đặt mục tiêu (i) nghiên cứu cấu trúc và xu hướng biến động của các loại cảnh quan; (ii) nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học và biến động các hệ sinh thái; (iii) định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững. Trong đề tài này, tác giả đã xây dựng được hệ thống phân vị và chỉ tiêu cụ thể đối với từng bậc phân loại cảnh quan vùng đất ngập nước ven biển tỉnh Thái Bình; thành lập các bản đồ lớp phủ thực vật, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ địa mạo, bản đồ sinh thái cảnh quan, bản đồ phân vùng cảnh quan và bản đồ biến động cảnh quan theo thời gian. Tác giả đã phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan cũng như nguyên nhân gây biến động cảnh quan và ĐDSH.
Gần đây, tiếp cận lượng giá kinh tế dịch vụ các HST được quan tâm nghiên cứu nhằm đánh giá giá trị kinh tế các loại hình dịch vụ (dịch vụ cung cấp, dịch vụ
7
điều tiết, dịch vụ hỗ trợ, dịch vụ văn hóa) của các HST tự nhiên. Trong đề tài cấp Nhà nước mã số KC.09.08/11-15 “Lượng giá kinh tế các HST biển - đảo tiêu biểu phục vụ phát triển bền vững một số đảo tiền tiêu ở vùng biển ven bờ Việt Nam” TS. Trần Đình Lân làm chủ nhiệm [17]. Kết quả của công trình này đã định giá kinh tế tài nguyên từ các giá trị sử dụng trực tiếp, gián tiếp và giá trị chưa sử dụng của một số HST biển - đảo tiêu biểu (HST cỏ biển, HST rạn san hô, HST bãi cát, HST đáy mềm) của đảo Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ và Thổ Chu. Như vậy, tiếp cận lượng giá kinh tế các dịch vụ HST sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho các giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý các giá trị kinh tế của các HST và ĐDSH nhằm hài hòa giữa khai thác và bảo vệ tài nguyên, phục vụ PTBV các HST biển - đảo của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
Tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý ĐDSH được coi là giải pháp quản lý tổng hợp các hợp phần trong HST bao gồm đất, nước và các tài nguyên sinh học, cũng như các mối quan hệ qua lại giữa chúng với nhau nhằm thúc đẩy bảo tồn, sử dụng bền vững, chia sẻ công bằng lợi ích có được từ các nguồn tài nguyên đó và dịch vụ có được từ HST. Đối với Việt Nam khái niệm “Tiếp cận HST” là khá mới, nhưng đã được nghiên cứu và nhanh chóng áp dụng trong các ngành lâm nghiệp, thủy sản, các địa phương và một số khu bảo tồn thiên nhiên như Vườn Quốc gia U Minh Hạ, Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ, phá Tam Giang - Cầu Hai,... Trong đó, các hoạt động ở Cần Giờ và vùng đất ngập nước rừng tràm ở đồng bằng sông Cửu Long là những thí dụ điển hình về sử dụng phương pháp tiếp cận HST, như giải quyết đồng bộ vấn đề bảo tồn, sự chia sẻ công bằng các lợi ích và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên; các loại hàng hóa, dịch vụ đã được xác định; người dân địa phương được giao đất, giao rừng để trồng rừng và quản lý các sản phẩm. Vì thế, ngày càng có nhiều khu bảo tồn được quy hoạch và đưa vào quản lý trên quy mô cảnh quan hoặc vùng sinh học, phản ánh cách tiếp cận HST của Công ước ĐDSH mà Việt Nam là một thành viên.
Cách tiếp cận này mở rộng quy mô bảo tồn ra khỏi các vùng lõi phải bảo vệ nghiêm ngặt. Điều đó dẫn tới là phải xây dựng các hành lang xanh/hành lang ĐDSH nối giữa các khu bảo tồn thiên nhiên. Một số dự án đã sử dụng phương pháp tiếp cận HST như xây dựng hành lang xanh nối giữa các khu bảo tồn ở Thừa Thiên Huế - Quảng Nam - Gia Lai,... Quản lý tổng hợp dải ven biển ở các tỉnh Nam Định, Thừa Thiên Huế và Bà Rịa Vũng Tàu… Tuy vậy, theo đánh giá của các chuyên gia, việc áp dụng phương pháp tiếp cận HST trong bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam thường gặp những trở ngại chính. Đó là sự tham gia của các bên đối tác trong việc lập kế hoạch và quản lý còn chưa đạt hiệu quả cao. Các thuật ngữ và định nghĩa được sử
8
dụng còn chưa nhất quán, kể cả trong cách sử dụng thuật ngữ “Phương pháp tiếp cận HST”.
Một số mô hình bảo tồn ĐDSH dựa vào cơ sở địa lý của từng khu vực dưới
sự tham gia của cộng đồng cũng đã được triển khai và đạt được hiệu quả:
- Mô hình sử dụng bền vững rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng: Áp dụng thử nghiệm đối với khu rừng ngập mặn Đồng Rui (Quảng Ninh); mô hình ao tôm sinh thái Tiền Hải (Thái Bình); mô hình bảo tồn và khai thác bền vững đất ngập nước, triển khai áp dụng thí điểm tại khu đất ngập nước Vân Long (Ninh Bình); các mô hình nuôi cá trên ruộng lúa nước được thực hiện tại xã Gia Thanh, Gia Tân, Liên Sơn, huyện Gia Viễn (Ninh Bình). Ghép tôm sú cùng cá rô phi ở Cồn Chim, đầm Thị Nại (Bình Định) được thực hiện nhằm đem lại lợi nhuận tối đa trong việc sử dụng đất ngập nước áp dụng cho ngành thủy sản.
- Mô hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng: Du lịch sinh thái cộng đồng tại khu vực vùng đệm Vườn Quốc gia Xuân Thủy (Nam Định); mô hình khu du lịch sinh thái U Minh Thượng; mô hình “Phát triển sinh kế và sử dụng bền vững tài nguyên có sự tham gia của cộng đồng” được thực hiện tại ấp K9, xã Phú Đức và ấp Phú Lâm, xã Phú Thành B, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp; thử nghiệm mô hình cộng đồng cùng tham gia quản lý và sử dụng tài nguyên đất ngập nước. Các mô hình này đã mang lại thu nhập, cải thiện sinh kế cho cộng đồng địa phương, đồng thời đảm bảo mục tiêu bảo tồn ĐDSH. Đây chính là một trong các giải pháp nhằm hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn ĐDSH với sinh kế bền vững và phát triển KT-XH ở các khu bảo tồn thiên nhiên hiện nay.
- Mô hình “Sinh kế bền vững và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên đất ngập nước dựa vào cộng đồng: Mô hình này được thực hiện tại Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen đã góp phần cải thiện sinh kế người dân vùng đệm, nâng cao nhận thức về đất ngập nước và thử nghiệm cơ chế đồng quản lý; mô hình “Nuôi cấy, bảo tồn rạn san hô” được thực hiện tại Khu vực 1, phường Ghềnh Ráng, thành phố Quy Nhơn và mô hình “Bảo tồn và khai thác đồng cỏ Bàng” được thực hiện tại xã Phú Mỹ, huyện Kiên Lương, Kiên Giang nhằm khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thực vật trong khu vực đất ngập nước.
- Mô hình đồng quản lý và cơ chế chia sẻ lợi ích: Năm 2012, VQG Xuân Thủy là một trong 03 khu rừng đặc dụng của Việt Nam được lựa chọn để thực hiện Quyết định số 126/QĐ-TTg ngày 02/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ thí điểm cơ chế chia sẻ lợi ích trong quản lý bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng. Ngày 07/05/2013 Tổng cục lâm nghiệp đã ký Quyết định số 1010/QĐ-BNN-TCLN phê
9
duyệt Phương án chia sẻ lợi ích trong quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng tại VQG Xuân Thủy, theo đó phương án chia sẻ lợi ích đối với cộng đồng gồm: Chia sẻ lợi ích về nguồn lợi tài nguyên hải sản tự nhiên dưới tán rừng ngập mặn và đồng quản lý rừng ngập mặn tại vùng đệm; chia sẻ lợi ích về nguồn lợi cây thuốc nam; chia sẻ lợi ích về nguồn lợi ngao giống; chia sẻ lợi ích về nguồn lợi ngao nuôi quảng canh. Tiếp đến, VQG Xuân Thủy đã ban hành Sổ tay “Hướng dẫn cộng đồng sử dụng khôn khéo và bền vững nguồn lợi” trong dự án “Sử dụng bền vững tài nguyên rừng ngập mặn mang lại lợi ích cho phụ nữ nghèo thông qua thí điểm cơ chế đồng quản lý trong vùng lõi VQG Xuân Thủy”. Đến nay, các mô hình chia sẻ lợi ích về “Đồng quản lý Khu nuôi ngao quảng canh bền vững”, Đồng quản lý Khu bảo tồn giống ngao bản địa” hay “Cộng đồng quản lý tài nguyên rừng ngập mặn” thực sự đã trở thành chìa khóa để giải quyết triệt để bài toán hóc búa về hài hòa lợi ích giữa bảo tồn ĐDSH của VQG Xuân Thủy với phát triển KT-XH của cộng đồng địa phương.
1.1.3. Các nghiên cứu ở Khu bảo tổn biển Cù Lao Chàm
Các nghiên cứu liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi các HST ở
Cù Lao Chàm - Hội An được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ khá sớm.
Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Long, Võ Sỹ Tuấn “Đa
dạng sinh học và chất lượng môi trường Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, giai đoạn
2004-2008” [18]; công trình “Khảo sát đa dạng sinh học rừng dừa nước Cẩm
Thanh” do Nguyễn Hữu Đại và cộng sự thực hiện năm 2008 [13]; đề tài do GS.TS
Lê Đức Tố làm chủ nhiệm“ Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế-
sinh thái trên một số đảo, cụm đảo lựa chọn thuộc vùng biển ven bờ Việt Nam
KC.09-12,”năm 2005 [31].... Các nghiên cứu trên đã tổng hợp được các đặc điểm
của điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội, sự đa dạng, phong phú về hệ sinh
thái và đa dạng sinh học của Khu BTB Cù Lao Chàm, Khu DTSQ Cù Lao Chàm -
Hội An: đã đưa ra một danh mục gồm 947 loài sinh vật sống trên vùng nước quanh các đảo Cù Lao Chàm; trong đó, cá biển sổng trên rạn san hô có 178 loài thuộc 80 giống và 32 họ, rong biển có 122 loài, thực vật phù du có 215 loài, động vật phù du có 87 loài, san hô 134 loài thuộc 40 giống, thân mềm 144 loài, giáp xác 25, da gai 21 loài và giun 21 loài. Đặc biệt công trình “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ phục hồi san hô cứng ở một số khu bảo tồn biển trọng điểm”, đề tài cấp Bộ của Võ Sĩ Tuấn [38]. Kết quả của đề tài này đã triển khai phục hồi san hô cứng trên diện tích là 5.200 m2 với 6.005 mảnh tập đoàn san hô được di dời và cố định ở 2 khu vực chính là Bãi Bấc (2.500 m2) và Bãi Hương (2.000 m2) và hai khu vực vườn ươm để
10
cung cấp giống bố sung cho phục hồi được xây dựng ở Rạn Mè và Hòn Tai với diện tích tương ứng là 300, 400m2. Tỷ lệ sống trung bình của san hô đạt 78,30% cho loàn khu vực phục hồi. Tốc độ tăng trưởng trung bình của san hô phục hồi ở Cù Lao
Chàm đạt 2,11 mm/tháng. Kết quả đánh giá ghi nhận độ phủ san hô cứng ở khu vực
Bãi Hương và khu vực Bãi Bấc đều tăng 4%. đáng kể nhất là các giống Acropora, Montipora và Pachyceris; mật độ trung bình tổng số và theo nhóm kích thước đều
có sự gia tăng tương ứng gần 1,6 lần tại Bãi Bắc và hơn 1,2 lần tại Bãi Hương; mật độ sinh vật đáy không được cải thiện, thậm chí suy giảm vào thời điểm sau 17 tháng
thực hiện.
Bên cạnh đó, có thể kể đến các công trình nghiên cứu về mô hình quản lý
bền vững nhằm bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái, sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học
gắn với sinh kế bền vững và phát triển kinh tế xã hội địa phương dựa trên sự tham gia của doanh nghiệp - cộng đồng và Nhà nước ở Cù Lao Chàm - Hội An. Tiêu
biểu có thể kể đến các mô hình sau:
Chu Mạnh Trinh; Hứa Chiến Thắng (2012) với công trình:“Khu bảo tồn biển
Cù Lao Chàm - Một mô hình thành công về quản lý theo cách tiếp cận hệ sinh thái,
dựa vào cộng đồng” [33] đã xác định rằng Khu BTB Cù Lao Chàm là một đối
tượng phù hợp để được lựa chọn xây dựng và tiến hành một mô hình Khu BTB
theo hệ sinh thái, dựa vào cộng đồng và đã áp dụng phương pháp Quản lý tổng hợp
để tiến hành với những yếu tố cơ bản là: xây dựng được cơ chế phối hợp, tạo điều
kiện để các bên tham gia, đặc biệt vai trò trung tâm của cộng động được khẳng
định; đã hình thành được kế hoạch tố chức thực hiện trên cơ sở xác định rõ mục
tiêu, bước đi, đối tượng và phạm vi triển khai; xác định được nguồn kinh phí và huy động được các nguồn lực khác nhau để thực hiện, đặc biệt cơ chế tài chính bền
vững đã xuất hiện trong hoạt động của Khu BTB; Chính quyền các cấp từ tỉnh đến
xã đã ủng hộ và đóng vai trò quan trọng trọng chỉ đạo và giúp đỡ việc tố chức thực
hiện Khu BTB Cù Lao Chàm.
Chu Mạnh Trinh (2013), với công trình“Xây dựng khả năng thích ứng cho thành phố Hội An, Quảng Nam thông qua Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm” [34]. Kết quả nghiên cứu cho thấy từ năm 2009, Hội An đã chính thức công bố tầm nhìn
phấn đấu trở thành thành phố sinh thái vào năm 2030. Để thực hiện chiến lược
thành phố sinh thái, Hội An đã và đang triển khai hơn 40 dự án khác nhau. Một
trong những chương trình hướng đến xây dựng tính thích ứng cho thành phố Hội
11
An là xây dựng và phát triển Khu BTB Cù Lao Chàm, cũng như Khu dự trữ Sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội An với mục dích xây dựng khả năng thích ứng
lâu dài với biến đổi khí hậu (BĐKH) và hiện tượng thời tiết cực đoan, bảo tồn và
quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên gia tăng khả năng chịu đựng của môi
trường với những thảm họa thiên nhiên. Nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thích ứng thông qua xây dựng cơ chế quản lý, kế hoạch
đồng quản lý, giám sát và thực thi pháp luật.
Chu Mạnh Trinh (2014), “Mô hình phát triển sinh kế địa phương góp phần
sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường ở Cù Lao Chàm - Hội An”[35].
Nghiên cứu cho thấy việc kêu gọi bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên thiên
nhiên và môi trường ở các khu bảo tồn thường gặp nhiều thử thách. Một trong
những thử thách lớn, đó là làm thế nào để chăm lo dến sinh kế của các cộng đồng người dân sinh sống trong và xung quanh các khu bảo tồn này. Đặc biệt ở những
địa phương, mà trong đó người dân phần lớn sinh sống phụ thuộc nặng nề vào tài
nguyên thiên nhiên và môi trường. Chia sẻ quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích (đồng
quản lý) trong việc bảo vệ và sử dụng một cách hợp lý tài nguyên thiên nhiên và
môi trường ở địa phương là một trong những phương thức đang được nghiên cứu
ứng dụng. Trong đó, có việc xây dựng mô hình đồng quản lý phát triển sinh kế địa
phương. Thông qua trường hợp xây dựng và phát triển sinh kế hải sản khô Cù Lao
Chàm. Mô hình sẽ cung cấp một ví dụ cụ thể về đồng quản lý phát triển sinh kế và
đồng thời giới thiệu với người đọc về quy trình tiến hành sinh kế địa phương và các
kết quả đạt được ở Cù Lao Chàm, góp phần bảo vệ và sử dụng Bền vững tài
nguyên thiên nhiên và môi trường ở đây.
Chu Mạnh Trinh (2014), “Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm -
Hội An Định hướng phát triển bề vững”[36]. Một số mô hình đã được nghiên cứu
và thực hiện trong thực tế: Mô hình cộng đồng bảo vệ và khai thác cua Đá ở Cù
Lao Chàm; Điều tra thành phần loài, phân bố và xây dựng mô hình đồng quản lý tôm hùm và tôm vú nàng tại Cù Lao Chàm; xây dựng cơ chế quản lý rạn san sô và thí thực hiện thí điểm phục hồi 2.000 m2 rạn san hô cứng có sự tham gia của cộng đồng tại thôn Bãi Hương, xã Tân Hiệp.
Chu Mạnh Trinh (2015), “Mô hình đồng quản lý tài nguyên và môi trường để
phát triển Bền vững ở Cù Lao Chàm - Hội An” [37]. Nghiên cứu đã dã bước đầu
làm sáng tỏ khái niệm và các bài học thực tiễn về khái niệm đồng quản lý (ĐQL)
12
nói chung và ĐQL khu bảo tồn biển nói riêng. Đó là mô hình mà nhà nước với nhân dân cùng làm và cùng hưởng. Mô hình ĐQL được lồng ghép và đã trở thành
một khung logic, nhằm định hướng việc hướng dẫn thực thi các hành động tham
gia của cộng đồng trong quá trình, tổ chức thực hiện các hoạt động thực tiễn tại
Khu BTB Cù Lao Chàm. Hiện tại mô hình đã và đang ứng dụng có hiệu quả tại Khu BTB Cù Lao Chàm. Nghiên cứu cũng rút ra các bài học cốt lõi là cần chú ý
đến lợi ích cộng đồng vì đây là trung tâm giải quyết các mâu thuẫn và là động lực thúc đẩy việc chia sẻ trách nhiệm.
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
1.2.1 Bảo tồn đa dạng sinh học
1.2.1.1. Khái niệm
Có thể coi, thuật ngữ “Đa dạng sinh học” lần đầu tiên được Norse and
McManus, 1980 [44] định nghĩa bao hàm hai khái niệm có liên quan với nhau là:
Đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và Đa dạng sinh
thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật). Hiện nay có nhiều định nghĩa về
ĐDSH, học viên xin được trích dẫn một phần định nghĩa về ĐDSH do các tổ chức
thế giới công bố như sau:
Định nghĩa do Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (1989) (World Wide Fund
For Nature) (WFF) quan niệm: “ĐDSH là sự phồn thịnh của sự sống trên Trái đất,
là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong
các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp tồn tại trong môi trường”[48]
Theo Công ước ĐDSH (CBD) định nghĩa: “ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ
sinh thái dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên”[10].
Do vậy, ĐDSH bao gồm ba cấp độ: đa dạng nguồn gen, đa dạng loài, đa dạng hệ sinh thái. Đa dạng loài bao gồm toàn bộ các loài sinh vật sống trên Trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động, thực vật và các loài nấm. Ở mức độ vi mô hơn, ĐDSH bao gồm cả sự khác biệt về di truyền giữa các loài, khác biệt về di truyền giữa các quần thể sống cách ly, về địa lý cũng như sự khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể. ĐDSH còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần
xã mà trong đó các loài sinh vật sinh sống, các hệ sinh thái nơi mà các loài cũng
13
như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau.
a, Đa dạng về hệ sinh thái.
Đa dạng hệ sinh thái là sự đa dạng về môi trường sống của các sinh vật
trong việc thích nghi với điều kiện tự nhiên của chúng.
Bảo vệ đa dạng hệ sinh thái là bảo vệ môi trường sống của các loài, có vai
trò rất lớn trong việc bảo vệ đa dạng sinh học. Để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ
môi trường, có thể phân biệt các hệ sinh thái đặt trưng như sau:
- Hệ sinh thái trên cạn:, Hệ sinh thái rừng, HST savan, đồng cỏ; HST đất khô
hạn, HST núi đá vôi, HST nông nghiệp
- Hệ sinh thái dưới nước: HST đất ngập nước: hồ, ao, đầm phá,… HST
sông, suối, HST ven biển, hải đảo, HST biển và đại dương, HST rừng ngập mặn.
b, Đa dạng loài
Loài là một nhóm cá thể, có quan hệ họ hàng gần nhau, có khả năng trao đổi
thông tin di truyền, tức là giao phối với nhau tạo thành các thế hệ trong quần thể,
làm phong phú về số lượng.
Đa dạng về loài là sự phong phú về số lượng các loài trong quần xã, là cơ sở
để tạo nên một lưới thức ăn với nhiều mắt xích cho một hệ sinh thái ổn định và bền
vững.
Khoa học về đa dạng về loài có liên quan chặt chẽ với khoa học về hệ thống
học, phân loại học và phát triển tiến hóa của sinh giới.
c, Đa dạng về di truyền hay còn gọi là đa dạng về nguồn gen
Đa dạng di truyền là sự đa dạng về gen trong mỗi quần thể và giữa các quần
thể với nhau.
Đa dạng di truyền được hiểu là tần số và sự đa dạng của các gen và bộ gen trong mỗi quần thể và giữa các quần thể với nhau, bao gồm cả những biến dị trong cấu trúc di truyền của các cá thể trong quần thể hoặc giữa các quần thể, những biến dịtrong các loài hoặc giữa các loài.
Đa dạng di truyền là đa dạng ở cấp độ phân tử và đa dạng trao đổi chất, đem
lại những khác nhau cốt lõi quyết định sự đa dạng của sự sống.
14
Mỗi cá thể trong loài đều có một bộ gen, quyết đinh khả năng di truyền cho thế hệ sau. Trong bộ gen đó, có đại bộ phận được di truyền từ thế hệ trước, phần
còn lại (rất ít) những gen mới, đột biến sinh ra trong quá trình sinh sản hữu tính.
Như vậy, đa dạng về quỹ gen lớn hơn nhiều lần đa dạng loài. Sự đa dạng về gen
trong tự nhiên là điều kiện cơ bản góp phần tuyển chọn lai tạo các giống, loài cây trồng và vật nuôi có năng suất cao, có tính chống chịu thích nghi cao với môi
trường.
1.2.1.2 Các phương pháp bảo tồn
Bảo tồn đa dạng sinh học là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự
nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường
xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của
tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được
ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền[20].
Bảo tồn đa dạng sinh học là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con
người với các gen, các loài và các hệ sinh thái nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho
thế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng nhu cầu và nguyện
vọng của các thế hệ tương lai. Để có thể tiến hành các hoạt động quản lý nhằm bảo
tồn đa dạng sinh học, điều cần thiết là phải tìm hiểu những tác động tiêu cực, các
nguy cơ mà loài hiện đang đối mặt và từ đó xây dựng các phương pháp quản lý phù
hợp nhằm giảm đi các tác động tiêu cực của các nguy cơ đó và đảm bảo sự phát
triển của loài và hệ sinh thái đó trong tương lai.
Mục tiêu của bảo tồn ĐDSH là nhằm giữ được sự cân bằng tối đa giữa bảo
tồn sự đa dạng của thiên nhiên và tăng cường chất lượng cuộc sống của con người. Để có thể thực hiện được mục tiêu nói trên và phát triển bền vững, các chính phủ,
các công dân, các tổ chức quốc tế, các tổ chức kinh doanh và các tổ chức phi chính phủ cần phải cộng tác chặt chẽ với nhau để tìm ra con đường phát triển mà không làm đảo lộn các quá trình cơ bản và bảo tồn được sự ĐDSH.
Để thúc đẩy quá trình nghiên cứu, điều phối cũng như quản lý bảo tồn ĐDSH và PTBV, Công ước Đa dạng sinh học của Liên Hợp Quốc đã được tất cả các nước ký từ năm 1992 tại Rio de Janeiro, cùng với việc thông qua Chương trình Nghị sự
21 về Phát triển bền vững. Từ đó, các nước trên thế giới đã coi Công ước này là một định hướng chiến lược lớn cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học của quốc gia
mình, đồng thời gắn chặt với tiến trình bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới. Theo
15
sự điều phối của Ban Thư ký thực hiện Công ước đa dạng sinh học, các nước đều gửi báo cáo quốc gia về thực trạng thực hiện công tác bảo tồn đa dạng sinh học của
nước mình, gắn với mục tiêu bảo tồn thống nhất trên toàn thế giới.
Cho đến nay, Hội nghị các bên tham gia (COP) của Công ước Đa dạng sinh
học đã tổ chức 12 cuộc họp thường kỳ và một cuộc họp bất thường. Từ năm 1994 đến năm 1996, Hội nghị các bên tham gia tổ chức các cuộc họp thường kỳ hàng
năm và bắt đầu từ năm 2000, hội nghị sẽ được tổ chức hai năm một lần.
Đặc biệt là, Hội nghị các bên lần thứ 10, tổ chức từ ngày 18-29/10/2010 tại
Nagoya, tỉnh Aichi, Nhật Bản, đã thông qua một sửa đổi và cập nhật Kế hoạch
chiến lược cho Đa dạng sinh học, bao gồm các Mục tiêu Aichi Đa dạng sinh học
cho giai đoạn 2011-2020 [49]. Kế hoạch này cung cấp một khuôn khổ tổng thể về
ĐDSH, không chỉ đối với các nước tham gia Công ước Đa dạng sinh học, mà còn
ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống Liên Hợp Quốc và các đối tác khác tham gia quản
lý ĐDSH và xây dựng chính sách. Mục tiêu Aichi giai đoạn 2011-2020 của Ban
Thư ký Công ước Đa dạng sinh học đã thúc đẩy bảo tồn ĐDSH gắn với sử dụng bền
vững tài nguyên đa dạng sinh học, nâng cao phúc lợi và sinh kế của cộng đồng địa
phương theo phương châm “sống hài hòa với thiên nhiên (living in harmony with
nature)” (CBD, 2010). Cuộc họp thứ 12 của Hội nghị các bên tham gia Công ước
về Đa dạng sinh học được tổ chức tại Pyeongchang, Hàn Quốc từ 0617/10/2014 đã
nhấn mạnh tầm quan trọng của lồng ghép ĐDSH vào mục tiêu phát triển bền vững
sau năm 2015 (CBD, 2014) [41]. Theo đó, có hai phương pháp bảo tồn ĐDSH hiện
nay:
• Bảo tồn nguyên vị
Bảo tồn nguyên vị bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo
vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên. Tuỳ theo đối tượng bảo tồn để áp dụng các hình thức quản lý thích hợp. Có thể nói đây là biện pháp hữu hiệu nhất bảo tồn tính ĐDSH. Bởi chỉ trong tự nhiên, các loài mới có khả năng tiếp tục quá trình thích nghi tiến hóa đối với môi trường đang thay đổi trong các quần xã tự nhiên của chúng.
Thông thường bảo tồn nguyên vị được thực hiện bằng cách thành lập các khu
bảo tồn và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp. với mục đích nhằm:
- Bảo tồn ĐDSH.
16
- Bảo tồn cảnh quan địa lý, môi trường sinh thái, di tích lịch sử vănhoá.
- Khu vực để nghiên cứu khoa học.
- Nơi thăm quan học tập và du lịch sinh thái.
• Bảo tồn chuyển vị
Bảo tồn chuyển vị là biện pháp chuyển dời và bảo tồn các loài cây, con và các sinh vật ra khỏi môi trường sống thiên nhiên của chúng. Mục đích của việc di
dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp:
- Nơi sinh sống bị suy thoái hay huỷ hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài
nói trên.
- Dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm
mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng.
Bảo tồn chuyển vị bao gồm các vườn thực vật, vườn động vật, các bể nuôi
thuỷ hải sản, các bộ sưu tập sinh vật, các bảo tàng, các ngân hàng hạt giống, bộ sưu
tập các chất mầm, mô cấy... Do các sinh vật hay các phần của cơ thể sinh vật được
lưu giữ trong môi trường nhân tạo, nên chúng bị tách khỏi quá trình tiến hoá tự
nhiên vì thế mà mối liên hệ gắn bó giữa bảotồn chuyển vị với bảo tồn nguyên vị rất
có giá trị cho công tác bảo tồn ĐDSH.
1.2.1.3 Quản lý đa dạng sinh học
Quản lý đa dạng sinh học là sự quan tâm, chăm sóc đối với tài nguyên thiên
nhiên, các HST, các loài và nguồn tài nguyên di truyền, hay đối với một địa
phương, một vùng, một lưu vực, những nơi có giá trị cao về bảo tồn. Quản
lý ĐDSH liên quan đến việc xác định các đối tượng, đề xuất các biện pháp bảo vệ,
ngăn chặn sự suy thoái, hồi phục các HST, các sinh cảnh, các loài có nguy cơ bị tiêu diệt, sử dụng hợp lý và bền vững các loài và tài nguyên sinh học. Có nhiều nhiều cách tiếp cận, phương pháp và công cụ khác nhau để quản lý ĐDSH. Tuỳ điều kiện cụ thể của mỗi nước mà chọn lựa cách tiếp cận, phương pháp và công cụ cho phù hợp [42].
Việc lựa chọn các phương pháp và công cụ cho việc quản lý đa dạng sinh học sẽ tuỳ thuộc vào trình độ hiểu biết hiện có của đa số nhân dân, của các cấp lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể quần chúng. Ở đâu trình độ hiểu biết thấp, các hoạt động khởi đầu là phải tập trung vào việc tuyên truyền phổ biến các thông tin, đồng
17
thời tổ chức các mô hình trình diễn. Ngược lại, nếu nơi đó có trình độ hiểu biết cao, thì các hành động có thể nhằm trực tiếp vào việc củng cố, xây dựng khu bảo tồn, phát triển các chương trình bảo tồn đa dạng sinh học, hoặc thực hiện các biện pháp sử dụng bền vững các HST, các tài nguyên sinh học.
Cách tiếp cận về quản lý ĐDSH có thể thay đổi một cách đáng kể tuỳ theo mức độ phát triển kinh tế của địa phương. Điều rõ ràng là ở các nước đang phát triển hay các địa phương có tỷ lệ nghèo cao, điều đầu tiên cần chú ý là công tác xoá đói giảm nghèo, giảm bớt những khó khăn về kinh tế.
Quản lý ĐDSH là công việc cần thiết phải có sự tham gia của nhiều ngành.
Các nhà sinh vật học, kinh tế học, nhân chủng học, lâm nghiệp, nông nghiệp, các
nhà khoa học về biển... và được nhiều tổ chức quần chúng, các cấp chính quyền
cùng tham gia thì thành công sẽ vững chắc. Quản lý ĐDSH là sự quản lý đa ngành. Đa dạng di truyền trong các loài mà chúng ta nuôi trồng có quan hệ hết sức mật
thiết với các loài sinh sống trong thiên nhiên và chính các loài này cung cấp những
khả năng hết sức lớn cho nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản. Nhìn chung các sản
phẩm ngắn ngày của nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản không ảnh hưởng trực tiếp
đến ĐDSH; tuy nhiên sự suy giảm đa dạng trong các HST sẽ lại tác động đến các
ngành nói trên như khả năng phục hồi, mở rộng khả năng sản xuất, ổn định năng
suất hay tăng năng suất. Cũng có một số ngành không liên quan trực tiếp lên ĐDSH
như ngành giao thông, chế tạo, năng lượng, khai khoáng.. nhưng lại có vai trò lớn
trong việc làm suy thoái tính đa dạng các HST, các loài, chủng quần và cả mức độ
di truyền.
1.2.2 Nghiên cứu điều kiện địa lý phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học
Khu BTB Cù Lao nằm ở vị trí độc tôn trên vùng biển miền Trung, cũng là
nơi được xếp vào vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An; cụm đảo Cù Lao Chàm có nhiều tiềm năng cho bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch. Những ưu thế đó thể hiện qua:
- Cụm đảo Cù Lao Chàm nằm trong đai nội chí tuyến gió mùa Đông Nam Á với nền nhiệt-ẩm cao, là điều kiện rất thuận lợi về mặt khí hậu để hình thành một thế giới sinh vật đa dạng về giống loài, dồi dào về sinh vật lượng. Có giá trị về
nguồn gen động, thực vật trên cạn và nguồn lợi kinh tế lớn là các hệ sinh thái vùng
triều, hệ sinh thái san hô và cỏ biển.
18
- Cù Lao Chàm là một cụm đảo có lịch sử phát triển địa chất lâu dài, để lại nhiều dấu ấn độc đáo trên nền đá gốc và địa hình, đó là tính bất đối xứng với sườn
đông dốc đứng, sườn tây thoải; là các bề mặt san bằng, các bậc thềm biển, bãi biển,
các sườn có hình thái và độ dốc khác nhau.
- Thiên nhiên đã ban tặng cho Cù Lao Chàm các tài nguyên du lịch địa mạo quý giá, đó là các bãi biển thoải với nền cát mịn, sạch, nằm xen giữa các mỏm nhô
đá với những nét chạm trổ độc đáo, các vách đá kỳ vĩ, khối đá đa dạng về hình thể
và đặc biệt là Hang Yến trên các bờ vách đá dốc. Đây là những tiền đề và tiềm năng
cho phát triển du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng, tham quan.
- Trên đảo Cù Lao Chàm còn lưu giữ nhiều giá trị tài nguyên văn hoá- lịch sử quí giá. Đó là các di chỉ khảo cổ từ thời kỳ văn hoá Sa Huỳnh có cách đây từ 3000
năm; các di tích cổ tín ngưỡng tôn giáo có từ thế kỷ thứ XVI, cùng nhiều công trình
kiến trúc nghệ thuật minh chứng truyền thống văn hóa lâu đời của vùng đảo Cù Lao
Chàm.
Do vậy việc nghiên cứu các điều kiện địa lý phục vụ cho công tác bảo tồn đa
dạng sinh học là hết sức quan trọng và cần thiết. Điều kiện địa lý ở đây bao gồm
toàn bộ các thành phần của tự nhiên như: địa hình, khí hậu, thủy hải văn, các sinh
vật, các HST…cho đến các hoạt động sinh kế, hoạt động phát triển kinh tế-xã hội,
các phong tục, tập quán, các lễ hội…của người dân trên đảo. Do vậy trên thực tế,
việc đánh giá các điều kiện địa lý (tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn, tài
nguyên ĐDSH) trong công tác bảo tồn cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội là
xác định các giá trị của các hợp phần tự nhiên (giá trị các tài nguyên ĐDSH và các
HST) trong khu BTB Cù Lao Chàm. Thông qua việc đánh giá các giá trị tài nguyên của khu BTB Cù Lao Chàm dựa trên việc nghiên cứu các điều kiện địa lý có sẵn,
học viên đã nghiên cứu và đề xuất một số phương pháp nhằm bảo tồn đa dạng sinh
học tại khu vực nghiên cứu.
1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.3.1. Phương châm bảo tồn cho phát triển và phát triển cho bảo tồn
Sinh quyển là phần của trái đất có các sinh vật sinh sống kể cả con người, từ những loài sinh vật sống dưới đáy biển sâu đến những loài sinh vật trong không khí
hoặc sâu trong lòng đại dương đều thuộc về sinh quyển. Các khu BTB là những vùng đại diện cho các HST, vùng địa lý sinh học có ý nghĩa bảo tồn ĐDSH, có cơ
19
hội cho phát triển bền vững địa phương và có diện tích đủ lớn để thực hiện 3 chức năng cơ bản: bảo tồn, hỗ trợ và phát triển. Khu BTB Cù Lao Chàm thuộc vùng lõi
của Khu DTSQTG, là khu vực dành riêng cho bảo tồn ĐDSH, các hoạt động giám
sát, nghiên cứu, giáo dục tối thiểu tới các HST. Các vùng đệm thường bao quanh
vùng lõi, là khu vực ưu tiên cho phát triển kinh tế trên cơ sở bền vững sinh thái như du lịch sinh thái, giáo dục môi trường,...Cấu trúc của khu BTB được thể hiện rất
mềm dẻo và đa dạng tùy theo tình hình địa phương, đảm bảo đáp ứng tối đa được chức năng là vùng lõi của khu DTSQ và đảm bảo được phương châm cơ bản là bảo
tồn và phát triển cùng song hành và bổ trợ cho nhau.
Năm 1996, Ủy ban MAB – UNESCO đề xuất sáng kiến sử dụng các khu
DTSQ như những phòng thí nghiệm học tập cho phát triển bền vững, coi khu DTSQ
như một “phòng thí nghiệm học tập cho phát triển bền vững”, tức là: coi khu DTSQ như là “phòng thí nghiệm” để kết hợp hài hòa 2 “chất thí nghiệm” là “bảo tồn” và
“phát triển”. Việc bảo vệ tốt vùng lõi là các VQG, khu di sản, công viên địa chất,
khu Bảo tồn thiên nhiên hay các khu BTB sẽ tạo điều kiện cho phát triển kinh tế,
đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch khám phá, học tập nghiên cứu.
1.3.2. Bảo tồn để phát triển
Bảo tồn là công cụ để phát triển kinh tế - xã hội. Việc nghiên cứu các điều
kiện địa lý sẽ làm cơ sở cho việc bảo tồn các giá trị TNTN, TNNV, tài nguyên
ĐDSH. Đây chính là việc khai thác một cách khôn khéo các nguồn tài nguyên này
để vừa bảo vệ, không làm suy thoái tài nguyên vừa tạo được công ăn việc làm, tăng
thu nhập cho cộng đồng địa phương. Các khu BTB bản thân đều giàu có về các
nguồn TNTN, cảnh quan, TNNV,... sẽ là thuận lợi lớn để thu hút du khách và phát triển du lịch cùng những nguồn tài trợ khác để bảo tồn các nguồn TN. Đối với việc
phát triển dịch vụ du lịch được xem như ngành “công nghiệp không khói”, nếu biết
quy hoạch hợp lý và đầu tư bài bản thì sẽ tạo được nhiều nguồn thu nhập, công ăn
việc làm cho cộng đồng địa phương, cải thiện sinh kế, phát triển CSHT, phát triển giáo dục,... Nguồn thu nhập từ hoạt động du lịch sẽ có được nhiều giá trị gia tăng nếu biết phát triển kinh tế chất lượng, bao gồm cả việc đăng ký nhãn mác sản phẩm, nhãn hiệu hàng hóa chất lượng cao, nhãn sinh thái, nhãn sinh quyển,...
1.3.3. Phát triển để bảo tồn
Kinh tế phát triển thì cuộc sống người dân được cải thiện, khi đời sống vật
chất được nâng cao thì cũng là điều kiện để nâng cao dân trí, nhận thức, tiếp cận
công nghệ,... khi đó các doanh nghiệp và người dân mới có thể sẵn sàng chi trả cho
20
các dịch vụ như phí sử dụng nguồn nước sạch, nguồn tài nguyên, chi trả cho các dịch vụ sinh thái và tuân theo nguyên tắc chi trả cho nguồn phát thải. Nhà nước
hoặc BQL các khu BTB sẽ có thêm nguồn thu thuế, phí, để tái đầu tư cho các hoạt
động bảo tồn ĐDSH. Đặc biệt khi dân trí và ý thức của người dân được nâng cao thì
áp lực lên các khu bảo tồn sẽ giảm đi rất nhiều.
Một trong các giá trị của khu BTB là tính ĐDSH cao, đồng nghĩa với việc
hấp thu các chất thải khí nhà kính, hạn chế hiệu ứng nhà kính và BĐKH. Các công
ước quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính sẽ tạo ra các hoạt động thương mại và
thị trường phát thải carbon, khi đó các quốc gia hay tập đoàn lớn sẽ phải bỏ tiền để
mua tín chỉ carbon của các khu BTB và đây sẽ là nguồn thu đáng kể trong tương lai.
1.4. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4.1. Quan điểm nghiên cứu
1.4.1.1 Quan điểm hệ thống và tổng hợp
Tiếp cận hệ thống và tổng hợp là quan điểm xuyên suốt trong các nội dung
nghiên cứu của đề tài. Tài nguyên ĐDSH ở Khu DTSQ Cù Lao Chàm - Hội An nói
chung và ở Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm nói riêng được hình thành dưới sự tác
động của các điều kiện tự nhiên (địa chất, địa hình - địa mạo, khí hậu - thời tiết, chế
độ thủy hải văn, tương tác sông - biển,...). Vì vậy, cần nhìn nhận các dạng TNTN,
các HST, tài nguyên ĐDSH như một thể tổng hợp tự nhiên hoàn chỉnh trong mối
liên hệ tác động qua lại với các hoạt động của con người (văn hóa, phong tục, tập
quán, chính sách, hoạt động khai thác tài nguyên, các hoạt động kinh tế khác,...)..
Quan điểm này chỉ ra rằng, khu vực nghiên cứu là một bộ phận không thể tách rời
của hệ thống phát triển KT-XH của Thành phố Hội An và tỉnh Quảng Nam. Vì vậy, tác giả đã xem xét đảo Cù Lao Chàm (thuộc vùng lõi của khu DTSQ) là một hệ
thống mà trong đó bao gồm rất nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố này có mối quan hệ tương hỗ tác động lẫn nhau trong quá trình hình thành và phát triển. Thông qua mô hình phát triển bền vững, tác giả xem xét một cách có hiệu quả các giải pháp để bảo tồn các yếu tố tài nguyên, trong đó có tài nguyên ĐDSH nhằm tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế, sinh kế cho người dân địa phương và cũng nhờ sự phát triển kinh tế đó để đảm bảo cho việc bảo tồn các tài nguyên ĐDSH đạt hiệu quả
nhất.
21
1.4.1.2. Quan điểm phát triển bền vững
Quan điểm này chi phối việc đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý
tài nguyên ĐDSH ở Khu BTB Cù Lao Chàm. PTBV trước hết là một quá trình phát
triển, trong đó quan hệ giữa kinh tế - xã hội - môi trường luôn được điều chỉnh tối
ưu, mối quan hệ theo thời gian về nhu cầu và lợi ích giữa các thế hệ được giải quyết hài hòa. Thực tế, PTBV không dễ dàng đạt được, vì yếu tố phát triển luôn thay đổi,
thậm chí thay đổi rất nhanh so với khả năng điều chỉnh. Vì vậy, PTBV chỉ là mục
tiêu mong đợi trong quá trình phát triển KT-XH và khai thác TNTN, nhưng lại là xu
thế tất yếu trong tiến trình phát triển của loài người, của các ngành kinh tế, vùng
lãnh thổ và các địa phương; vì nhu cầu sinh hoạt và sản xuất ngày càng tăng, vượt
quá khả năng chịu tải và khả năng tái tạo TNTN. Trong thời gian qua, điều kiện tự
nhiên, tài nguyên ĐDSH, các HST ở Khu BTB Cù Lao Chàm đã bị tác động và suy thoái. Đồng thời, tồn tại những bất cập trong công tác quản lý, sử dụng TNTN và
BVMT; nhận thức của người dân về bảo tồn ĐDSH còn hạn chế; thiếu các thông tin
dữ liệu về TNTN; ĐDSH và các HST, thiếu vốn đầu tư cho các hoạt động quản lý,
bảo tồn và phát triển TNTN, ĐDSH... Vì vậy, tiếp cận PTBV được xác định là một
trong những quan điểm nghiên cứu chính của đề tài.
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu
1.4.2.1. Phương pháp kế thừa và tổng hợp tài liệu
Nghiên cứu đã kế thừa các số liệu, tài liệu, dữ liệu và các kết quả nghiên cứu
về hiện trạng ĐDSH, các dạng TNTN,... tại Khu BTB Cù Lao Chàm. Phương pháp
này nhằm phân tích hệ thống các nguồn tài liệu, tư liệu liên quan đến nội dung
nghiên cứu. Vận dụng phương pháp này nhằm đảm bảo tính kế thừa, sử dụng các thông tin, số liệu đã được kiểm nghiệm, công nhận và công bố chính thức nhằm tiết
kiệm được công sức và thời gian nghiên cứu, đồng thời dùng để đối chiếu, so sánh với thực tế và kết quả nghiên cứu.
1.4.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Phương pháp này nhằm mục đích thu thập bổ sung thông tin, số liệu hiện trạng về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, tài nguyên ĐDSH; thu thập ý kiến các nhà quản lý và nhân dân địa phương trong khu vực nghiên cứu, so sánh giữa tài liệu
trong phòng với thực địa,... Học viên đã tham gia đi khảo sát thực địa trong 2 đợt năm 2017 và 2018 tại KBT biển Cù Lao Chàm; thu thập tài liệu, phỏng vấn người
22
dân; tham dự hội thảo, hội nghị cùng các nhà khoa học, nhà quản lý và ban quản lý các cấp chính quyền địa phương của Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
1.4.2.3 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu
Từ các nguồn tài liệu thứ cấp thu thập được qua các cuộc điều tra khảo sát
như niên giám thống kê, các số liệu về kinh tế...học viên sử dụng phương pháp thống kê và xử lý số liệu, tài liệu để tổng hợp nên các con số tổng quát liên quan
đến các vấn đề mà luận văn hướng đến, đưa ra được các số liệu trên các bảng biểu
về hiện trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, các tài nguyên ĐDSH trong vùng
nghiên cứu.
1.4.2.4 Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng địa phương
Phương pháp này được sử dụng để các thành viên trong cộng đồng dân cư
địa phương tự đánh giá được những cơ hội, thách thức, các mối nguy cơ đối với
hoạt động bảo tồn tài nguyên ĐDSH trong khu vực. Học viên đã áp dụng phương
pháp này để phỏng vấn, đánh giá dựa trên các câu hỏi có sẵn nhằm làm rõ các nội
dung:
- Điều kiện kinh tế - xã hội của người dân địa phương, các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, nhân văn, tài nguyên ĐDSH của khu vực nghiên cứu
- Hiện trạng các hoạt động du lịch, dịch vụ, hoạt động sinh kế của người dân
- Nhận thức của người dân sống trong vùng lõi của khu DTSQ, các vấn đề về
khai thác, sử dụng tài nguyên ĐDSH.
- Những lợi ích mà khu BTB đem lại, những thế mạnh và hẹn chế của người
dân địa phương trong công tác bảo tồn tài nguyên ĐDSH.
23
CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI
KHU BẢO TỒN BIỂN CÙ LAO CHÀM
2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỦA KHU BTB CÙ LAO CHÀM
2.1.1.Xây dựng, thực hiện Dự án Khu BTB Cù Lao Chàm (2003 – 2006)
Thực hiện chủ trương nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng các khu BTB ở
Việt Nam của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, từ năm 1995, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (cũ) đã phối hợp với Viện Hải dương học Nha Trang điều tra, nghiên cứu tài nguyên biển tại Cù Lao Chàm.
Hoạt động này được coi là khởi đầu cho việc nghiên cứu và xây dựng khu BTB Cù
Lao Chàm.
Đến năm 1997, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng được chia tách và thành lập 2
đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương là Tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà
Nẵng, thì Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tiếp tục cùng Viện Hải Dương
học Nha Trang nghiên cứu đa dạng sinh học ở Cù Lao Chàm. Kết quả nghiên cứu
đã được đề xuất với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường để đưa Cù Lao Chàm
vào danh mục quy hoạch 15 Khu Bảo tồn của Việt Nam vào năm 1999, trong đó
diện tích đề xuất khu BTB Cù Lao Chàm gồm cả rừng và biển là 6.719ha (phần
rừng chiếm 1.544ha và phần biển chiếm 5.175ha). [15]
Để tiến hành xây dựng khu BTB Cù Lao Chàm, ngày 11/5/2001 UBND tỉnh
Quảng Nam đã ban hành Quyết định số 1626/QĐ-UB về “Giao nhiệm vụ chủ đầu tư
Dự án xây dựng Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm, thị xã Hội An, tỉnh Quảng
Nam”, đã giao cho Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tỉnh Quảng Nam làm
chủ đầu tư nghiên cứu và xây dựng Dự án. Từ năm 2001 đến năm 2003, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã phối hợp với Sở Thủy sản tỉnh Quảng Nam, Viện Hải Dương học Nha Trang tiến hành tổ chức điều tra nguồn lợi phục vụ xây dựng
Dự án khu BTB Cù Lao Chàm. [5]
Đến năm 2003, Dự án xây dựng Khu BTB Cù Lao Chàm đã được Bộ Thủy sản và Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan Mạch (DANIDA) đưa vào thực hiện, là một
Tiểu dự án cấp tỉnh thuộc Dự án “Hỗ trợ mạng lưới các Khu bảo tồn biển tại Việt
Nam”, dự án hoạt động trong 3 năm, từ năm 2003 đến năm 2006. Mục tiêu chính
24
của Tiểu dự án là quản lý bền vững nguồn lợi biển và ven biển, đồng thời xây dựng Cù Lao Chàm thành một khu BTB của Việt Nam.
Sau 3 năm hoạt động, với các mục tiêu của Dự án đã cơ bản được hoàn
thành, ngày 19/12/2005, UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành Quyết định số
4680/QĐ-UBND thành lập Ban Quản lý Khu BTB Cù Lao Chàm, Quảng Nam. Tiếp đến ngày 20/12/2005 UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định số
88/2005/QĐ-UBND ban hành Quy chế Quản lý khu BTB Cù Lao Chàm. Đây là
những văn bản pháp quy làm cơ sở pháp lý cho việc quản lý khu BTB Cù Lao
Chàm.
Theo Quy chế Quản lý Khu BTB Cù Lao Chàm và kèm theo Quyết định số
88/2005/QĐ-UBND, thì Khu BTB Cù Lao Chàm gồm có 7 đảo: Hòn Lao ( Cù Lao
Chàm), Hòn Cụ, Hòn Khô, Hòn Lá, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Tai và vùng biển quanh các đảo có tọa độ nằm trong phạm vi từ 15052’30” đến 16000’00” vĩ độ Bắc và từ 108024’00” đến 108033’30” kinh độ Đông. Tổng diện tích Khu BTB là 23.500ha (235km2).
Tại Điều 5 của quy chế quy định về Phân vùng quản lý Khu Bảo tồn biển Cù
lao Chàm. Theo đó Khu Bảo tồn biển Cù lao Chàm được phân thành các vùng sau
đây ( hình 2.1):
- Vùng bảo vệ nghiêm ngặt (Vùng lõi): Là vùng có hệ sinh thái rạn san hô và
đa dạng sinh học biển được bảo toàn nguyên vẹn, được quản lý và bảo vệ chặt chẽ,
hạn chế tối đa các ảnh hưởng tiêu cực đến sinh cảnh, tạo điều kiện cho việc nghiên
cứu khoa học và giáo dục đào tạo.
- Vùng phục hồi sinh thái: Là vùng được quản lý, bảo vệ và tổ chức các hoạt động nhằm phục hồi hệ sinh thái, đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản tự nhiên
nhằm mang lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng. Một số diện tích trong khu vực này có thể sẽ được bổ sung cho Vùng bảo vệ nghiêm ngặt trong tương lai.
- Vùng phát triển: Bao gồm vùng phát triển du lịch, vùng phát triển cộng
đồng và vùng khai thác hợp lý.
+ Vùng phát triển du lịch: Là vùng tập trung các hoạt động du lịch tạo thu nhập cho nhân dân địa phương có sự kiểm soát của Ban Quản lý Khu Bảo tồn biển
như lặn có bình khí thở, tham quan, xem san hô bằng tàu đáy kính, lướt ván, đua
25
thuyền buồm, bơi, lặn xem cá... và cho hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục, đào tạo, vui chơi giải trí mang tính giáo dục cộng đồng.
+ Vùng phát triển cộng đồng: Bao gồm phần đất trên cạn có dân cư sinh
sống tại các Thôn Bãi Làng, Thôn cấm, Bãi Ông và Bãi Hương thuộc Hòn Lao.
+ Vùng khai thác hợp lý: Đây là vùng được xác định để tổ chức khai thác nguồn lợi một cách hợp lý, phát triển ngành nghề phù hợp (khai thác, nuôi trồng
thủy sản và các nghề phù hợp khác) nhằm tăng thu nhập, nâng cao đời sống, cải
thiện sinh kế cộng đồng dân cư Khu Bảo tồn biển. Vùng khai thác hợp lý bao bọc
các vùng bảo vệ nghiêm ngặt, vùng phục hồi sinh thái, vùng phát triển của Khu bảo
tồn biển Cù Lao Chàm.
Biển Đông
Nguồn: Quyết định số 20/2013/QĐ-UBND Quy chế quản lý
tiểu khu đồng quản lý bảo tồn biển thôn Bãi Hương
Hình 2.1: Bản đồ phân vùng Khu BTB Cù Lao Chàm thuộc tỷ lệ 1:25.000
2.1.2. Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm (2006 – 2009)
Sau khi Dự án xây dựng Khu BTB Cù Lao Chàm kết thúc, UBND tỉnh đã tiếp tục triển khai Hợp phần Sinh kế Bền vững bên trong và xung quanh các khu
26
Bảo tồn biển (LMPA) . Hợp phần LMPA được bộ Thủy sản chủ trì, triển khai từ năm 2006 và kết thúc vào tháng 12 năm 2011. Hợp phần LMPA là giai đoạn 2 của
Dự án Khu BTB Cù Lao Chàm, tập trung vào mục tiêu “Những cộng đồng bị tổn
thương, sống bên trong và xung quanh các Khu BTB trình diễn được chọn có thể
đáp ứng được nhu cầu sinh sống mà không làm suy giảm tài nguyên biển hoặc hủy hoại môi trường” với các đầu ra chính là: (1) Cộng đồng tham gia vào công tác quản
lý Khu BTB. (2) Hệ sinh thái trong khu BTB được bảo tồn bền vững. (3) Sinh kế của cộng đồng trong Khu BTB được cải thiện theo hướng bền vững.
Trên cơ sở các mục tiêu của Hợp phần LMPA, Ban Quản lý Khu BTB Cù
Lao Chàm đã đề xuất các hoạt động, trong đó có 3 nội dung chính:
(1) Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ
môi trường, bảo vệ ĐDSH cho Cộng đồng Cù Lao Chàm và vùng lân cận.
(2) Tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao năng lực quản lý Khu BTB.
(3) Hỗ trợ thu thập thay thế và phát triển bền vững cộng đồng Cù Lao Chàm.
Để tiếp nhận và thực hiện Hợp phần LMPA, Ban quản lý Khu BTB Cù Lao
Chàm đã được UBND tỉnh Quảng Nam ban hành quyết định thành lập vào ngày
24/3/2006 theo Quyết định số 888/QĐ-UBND.
Trong quá trình thực hiện Hợp phần LMPA, với sự giúp đỡ của các chuyên
gia trong và ngoài nước, Ban Quan lý Khu BTB Cù Lao Chàm đã xây dựng được
Kế hoạch quản lý tổng hợp Khu BTB Cù Lao Chàm, kế hoạch này mang tính đa
ngành và được UBND tỉnh ký và ban hành theo quyết định số 4532/QĐ-UBND
ngày 31/12/2008. Kế hoạch đảm bảo thống nhất lợi ích giữa các bên nhằm đạt được
mục tiêu của Hợp phần đề ra, cũng như tạo được nguồn lực tài chính quan trong cho hoạt động Quản lý Khu BTB Cù Lao Chàm
2.1.3 Khu BTB Cù Lao Chàm – Vùng lõi của Khu DTSQTG Cù Lao Chàm – Hội An (từ năm 2009 đến nay)
Ngày 26/5/2009, tại phiên hợp thứ 21, Ủy ban điều phối quốc tế Chương trình con người và sinh quyển thế giới của UNESCO, tổ chức tại đảo Jeju – Hàn Quốc, đã công nhận Cù Lao Chàm – Hội An là khu DTSQTG. Tổng diện tích tự
nhiên của Khu DTSQ Cù Lao Chàm - Hội An là 33.146 ha; trong đó được chia thành 3 vùng:
- Vùng lõi (quần đảo Cù Lao Chàm): Diện tích là 2.471 ha, gồm toàn bộ Khu
27
BTB Cù Lao Chàm, với đặt trưng các HST rừng thường xanh trên đảo, rạn san hô, thảm cỏ biển. Thực hiện nhằm mục đích bảo tồn lâu dài, đa dạng loài, các cảnh
quan, HST.
- Vùng đệm (vùng cửa sông Thu Bồn): Diện tích 8.455 ha (trong đó, diện tích
đất liền là 2.410 ha, biển là 6.045 ha). Vùng này được đặc trưng bởi HST chính là rừng dừa nước (Cẩm Thanh), HST cửa sông; được thiết lập để tiến hành các hoạt
động kinh tế, nghiên cứu, giáo dục và giải trí nhưng không ảnh hưởng đến Vùng lõi.
- Vùng chuyển tiếp: Diện tích 22.220 ha, trong đó diện tích biển là 11.951 ha,
, diện tích đất liền là 3.523 ha( bao gồm các khu vực chính là Khu phố cổ Hội An,
làng rau Trà Quế, làng mộc Kim Bồng, làng gốm Thanh Hà)
Ba chức năng bao gồm bảo vệ, phát triển và hỗ trợ sẽ được thực hiện ở các
vùng này dựa trên các quy định hiện tại và sự tham gia của cộng đồng. Mỗi vùng
chức năng của Khu DTSQ có vai trò khác nhau, mức độ, tính chất tương tác giữa
thiên nhiên và con người khác nhau tuy nhiên giữa các vùng đều có mối liên hệ mật
thiết, gắn kết chặt chẽ về mặt sinh thái và con người.
Đến năm 2015, UBND Thành phố Hội An ký Quyết định số 04/2015/QĐ-
UBND ban hành Quy chế Quản lý Khu DTSQ Cù Lao Chàm - Hội An, Quy chế có
hiệu lực từ ngày 20/6/2015.
Quy chế quản lý Khu DTSQ Cù Lao Chàm - Hội An gồm 6 chương, 23 điều
quy định mục tiêu, nguyên tắc, cơ chế và phương thức quản lý Khu DTSQ Cù Lao
Chàm - Hội An [40].
Mục tiêu quản lý Việc quản lý KDTSQ nhằm mục tiêu chung là giữ gìn hệ
sinh thái đang có, từng bước phục hồi HST đã mất, bảo tồn được ĐDSH, PTBV và phát huy tốt giá trị của Khu DTSQ cả về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội và khoa
học. Mục tiêu cụ thể là bảo đảm 07 tiêu chí của Khu DTSQ mà UNESCO đã công nhận gồm:
- Bảo tồn và phát triển các hệ sinh thái trong Khu DTSQ.
- Bảo tồn tính đa dạng sinh học trong Khu DTSQ.
- Bảo đảm sự bền vững trong khai thác và trong các mô hình trình diễn.
- Đảm bảo kích thước để thực hiện được 03 chức năng của một Khu DTSQ.
- Đảm bảo sự phân vùng chức năng rõ ràng gồm vùng lõi - vùng đệm và
28
vùng chuyển tiếp.
- Bảo đảm sự quản lý tổng hợp.
- Đảm bảo các hoạt động hỗ trợ cho nghiên cứu khoa học, đào tạo, giám sát,
quan trắc, giáo dục,...
Trong Qui chế xác định phạm vi Khu DTSQ bao gồm toàn bộ diện tích phần đất liền của Thành phố Hội An và phần biển được xác định từ các điểm giới hạn
phân vùng Khu BTB Cù Lao Chàm nối với các điểm ranh giới trong đất liền của
Hội An, với tổng diện tích 45.297 ha. Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An được
phân thành 3 vùng chức năng như sau (hình 2.2):
- Vùng lõi: Gồm toàn bộ những đảo nổi và các vùng chức năng (vùng bảo vệ
nghiêm ngặt, vùng phục hồi sinh thái, vùng phát triển, vùng khai thác hợp lý) trong
phạm vi Khu BTB Cù Lao Chàm. Vùng lõi có diện tích 11.560 ha, là nơi thực hiện
chủ yếu chức năng bảo tồn của Khu DTSQ thông qua hoạt động của Khu BTB và
Biển Đông
lực lượng bảo tồn rừng đặc dụng Cù Lao Chàm.
Nguồn: UBND Tỉnh Quảng Nam, 2015
Hình 2.2: Phân vùng Khu DTSQ Cù Lao Chàm - Hội An năm 2015
(Theo Quyết định số 04/2015/QĐ-UBND tỉnh Quảng Nam)
29
- Vùng đệm: Gồm phần biển bao xung quanh vùng lõi cùng với toàn bộ diện tích hệ thống sông, kênh rạch, ao hồ tự nhiên, vùng đất ngập nước tự nhiên, bãi biển
thuộc Thành phố Hội An với diện tích 32.220 ha. Nơi đây tập trung các HST quan
trọng và có tương tác mật thiết với vùng lõi. Các HST, sinh cảnh quan trọng trong
vùng đệm bao gồm: Biển, sông, đất ngập nước, rừng ngập mặn, bãi triều, bãi biển, doi cát, cửa sông,... Vùng đệm có vai trò rất quan trọng trong việc kiểm soát chất
lượng nước trước khi ra biển và liên kết sinh thái giữa lục địa - đại đương.
- Vùng chuyển tiếp: Là phần diện tích tự nhiên còn lại của Hội An với diện
tích 1.517 ha, trong đó, nổi bật là Khu Phố cổ Hội An - Di sản văn hóa thế giới, các
làng nghề truyền thống đặc trưng thể hiện sự giao thoa, tương tác giữa con người và
thiên nhiên.
Như vậy có thể khẳng định rằng Khu BTB Cù Lao Chàm có vị trí quan trọng
của Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An trong mối quan hệ hữu cơ với nhau. Đó là
mối quan hệ giữa bảo tồn thiên nhiên, môi trường biển của Cù Lao Chàm, vùng Cửa
Đại với bảo tồn văn hóa của khu phố cổ Hội An và mối quan hệ giữa thiên nhiên và
con người sinh sống tại khu vực này.
2.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU BẢO TỒN BIỂN ĐẢO CÙ LAO CHÀM
2.2.1. Vị trí địa lý
Cù Lao Chàm là quần đảo ven bờ, cách thị xã Hội An khoảng 15 km về phía
Đông - Đông Bắc, cách TP. Đà Nẵng khoảng 30 km về Đông Nam, thuộc phạm vi
hành chính xã Tân Hiệp, TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam. Trong quá khứ, Cù Lao
Chàm là cửa ngõ thông thương giữa nước ta với nhiều nước khác trong khu vực và
trên thế giới, nhất là với Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Trung Quốc, Nhật Bản, Malaysia…
Quần đảo Cù Lao Chàm bao gồm 8 hòn đảo lớn nhỏ: Hòn Lao (Cù Lao Chàm), Hòn Dài, Hòn Lá, Hòn Mồ, Hòn Khô Mẹ, Hòn Khô Con, Hòn Tai và Hòn Ông phân bố thành hình cánh cung, hướng mặt về Biển Đông tạo bức bình phong che chắn cho đất liền. Đây là nơi có nhiều ưu thế cho phát triển du lịch sinh thái (hình 2.3).
Hòn Lao (hay còn gọi là đảo Cù Lao Chàm) có diện tích lớn nhất (15km2) với các đỉnh núi cao như đỉnh Tục Cả (187m) nằm ở tận cùng phía Đông Nam của
30
đảo, đỉnh Hòn Đại (320m) ở đầu phía Tây Bắc của đảo và đỉnh cao nhất Hòn Biền (517m) ở gần giữa đảo.
Hòn Dài diện tích chỉ khoảng 1km2, có đỉnh cao 77m, thảm thực vật khô cạn, nghèo nàn nhưng giữ được các vườn thiên tuế, loại thực vật quý hiếm thọ hàng
trăm tuổi.
Hòn Ông, Hòn Tai diện tích khoảng 1-2km2, cao hơn 200m, thực vật kém
phát triển.
Hòn Mồ cao 64m, Hòn Lá cao 16m, Hòn khô con cao 14m và Hòn Khô mẹ
cao 53m là những ngọn núi đá khô cằn, nhỏ hẹp, nhiều hang hốc, là nơi có điều kiện
sinh thái thích hợp cho chim yến làm tổ.
Biển Đông
Biển Đông
Hình 2.3: Vị trí địa lý của Khu BTB Cù Lao Chàm
Từ xa xưa, Cù Lao Chàm đã có những tên gọi khác nhau như: Sanfu-Fulaw, Pulociam, Polochiam Pello, Chiêm Bất Lao, Tiêm Bích La… Quần đảo Cù Lao Chàm có một bề dày lịch sử khá phong phú và đa dạng, qua các cuộc khảo cổ tại Bãi Làng và Bãi Ông đã phát hiện ra rất nhiều di tích chứng tỏ đã trên đảo đã có con
người sinh sống cách đây hơn 3000 năm và đã chế tạo các công cụ lao động bằng đá
rất tinh xảo như: rìu tứ giác ngắn, rìu có vai, lưỡi ghè, bàn mài,… Không những thế
31
tại nơi đây người ta còn phát hiện ra nhiều dấu vết về sự giao lưu buôn bán với thuyền các nước Trung Cận Đông, Ấn Độ, Trung Quốc, Đông Nam Á cách đây hơn
1.000 năm [29].
Cuối thế kỷ 15 vua Lê Thánh Tông đi chinh phạt người Chiêm Thành, các
làng Cẩm Phô, Võng Nhi, Thanh Hà đã xuất hiện và không bao lâu tại Cù Lao Chàm đã có cư dân Đại Việt qua lại. Sau khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng đất
Quảng Nam (1558 - 1671), cư dân Đại Việt bắt đầu ồ ạt kéo đến vùng đất này, và việc định cư sinh sống của cư dân Đại Việt ở Hội An và ở Cù Lao Chàm bắt đầu
được hình thành và phát triển với tốc độ khá nhanh lập nên làng Tân Hiệp.
Đến thế kỷ 19, dân nhập cư liên tục đến đây định cư với đầy đủ các ngành
nghề như: khai thác yến, khai thác gỗ, đánh bắt hải sản, cũng như cung cấp nước,
củi cho các thuyền buôn đến dừng tại đây.
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đặc biệt trong những năm kháng chiến
chống Mỹ ác liệt, để tránh đạn bom, dân tản cư tại các địa phương như: Duy Xuyên,
Điện Bàn, Đại Lộc đều đổ dồn về đây. Lập nên Xóm Đình, rồi Xóm Ao và sau đó là
Xóm Cấm. Thực sự thì Xóm Cấm đã có cách đây hơn 2000 năm. Từ Xóm Đình về
phía Nam là Xóm Giữa, đến Xóm Ngoài rồi đến xóm Mới xuất hiện từ những năm
60 của thế kỷ 20 [29].
Cù Lao Chàm có địa hình đồi núi thấp với thảm thực vật đã được tái tạo xanh
tốt quanh năm; có các bãi biển cát trắng sạch mịn, nước biển trong xanh và cách
không xa bờ là các hệ sinh thái san hô khá đa dạng, các bãi tắm với các khối đá sót
tạo nên nhiều cảnh quan độc đáo làm mê say các khách du lịch.
2.2.2 Đặc điểm địa chất
Cù Lao Chàm là phần kéo dài về phía Đông Nam của khối đá granit Bạch Mã – Hải Vân- Sơn Trà được gọi là phức hệ Hải Vân (gaT3 hv1) hình thành cách ngày nay khoảng 230 triệu năm, được lộ ra trên bề mặt trái đát và tạo địa hình núi trên đảo nhờ vận động nâng lên của vỏ Trái đất dọc theo các đứt gẫy kiến tạo phương TB-ĐN. Về mặt thạch học, các khối đá này granit gồm có granit biotit có muscovit, granit 2 mica, granit alaskit, thuộc loại hạt vừa, màu xám trắng, cấu tạo định hướng, kiến trúc nửa tự hình. Chúng được hình thành từ 2 pha hoạt động
magma xâm nhập thực thụ và pha đá mạch sau đó. Pha 1 chiếm diện tích chủ yếu
của đảo, phổ biến là granit – biotit; pha 2 gồm granit biotit có muscovit, granit
alaskit gặp ở sườn TN đảo dưới dạng dải tạo nên các sống núi kéo dài phương TB-
ĐN và thường kết thúc là các mũi nhô của đường bờ biển. Pha đá mạch tạo các
32
mạch đá dày đến vài mét, kéo dài hàng chúc mét gồm granit-aplit, pegmatoit- tuarmalin [6].
Ngoài thành tạo đá granit, trên các đảo Cù Lao Chàm còn gặp các thành tạo
biến chất có diện phân bố không rộng, đó là các đá phiến gneis, phiến biotit, đá
phiến thạch anh-felpat –mica (thuộc hệ tầng A Vương hình thành 540-465 triệu năm trước). Các đá biến chất có dạng thể tù có độ bền vững lý hóa kém hơn đá granit
nên chúng thường góp phần hình thành cung lõm của đảo.
2.2.3. Đặc điểm địa hình - địa mạo
Vùng đảo Cù Lao Chàm được hình thành bởi 8 đảo lớn nhỏ khác nhau. Đảo
Cù Lao Chàm có diện tích lớn nhất. Đảo này phát triển theo hướng Bắc Nam, kéo dài trong phạm vi khoảng 7,5km2, chỗ rộng nhất 3,3km, nơi hẹp nhất 0,61km.
Địa hình đảo nổi có ba dạng chính sau :
+ Địa hình núi thấp: Được tạo thành bởi nhiều ngọn núi, đỉnh cao nhất là
ngọn núi Hòn Biền (517m) nằm ở trung tâm đảo Cù Lao Chàm. Về hai phía của
Hòn Biền địa hình đảo thấp đều. Các đảo nhỏ mỗi đảo là một đỉnh núi, độ cao từ
212m (Hòn Tai) đến 64m (Hòn Mồ).
+ Địa hình thung lũng và bãi biển : Phân bố ở khu vực gần trung tâm đảo Cù Lao Chàm là một thung lũng nhỏ khoảng 0,2km2 và ở Tây Bắc, Tây Nam là những doi cát kéo dài dạng lưỡi liềm, dạng vũng bao quanh lấy chân đảo Cù Lao Chàm.
Chiều rộng các doi cát này từ 2 10m, đôi khi 20 25m. Dân cư của đảo tập trung
chủ yếu ở dọc theo các bãi cát này.
- Địa hình vùng biển quanh đảo Cù Lao Chàm thể hiện sự phân dị rõ nét.
Phía Đông Bắc đảo với các sườn núi cao dốc đứng thì đáy biển sâu tới 40-50m và
sâu hơn với đường đẳng sâu 20m nằm sát gần bờ đảo. Phía Tây Nam ứng với địa
hình thấp thoải của đảo địa hình đáy biển có độ sâu chủ yếu dưới 20m, được tích tụ các vật liệu cát sạn.
- Địa hình đáy biển được chia thành 5 kiểu địa hình sau: + Địa hình tích tụ ven đảo có thành phần chủ yếu là cát được hình thành liên quan đến hoạt động của sóng phá hủy bờ và lắng đọng cát hiện tại. Địa hình này phát triển ở phía bờ Đông và Tây Nam của đảo Cù Lao Chàm
+ Địa hình xâm thực do nước bề mặt và thủy triêu trước Holocen muộn tạo
thành các thung lững hẹp có phương TB-ĐN, trong hiện tại đang được san bằng trầm tích bùn cát
33
+ Địa hình tích tụ sau đảo: tạo ra các gờ ngầm có độ sâu 10m, với đặc điểm
phía đông nam bị thon lại (sau các đảo Hòn Giài và Hòn Mồ)
+ Địa hình xâm thực do tác động của sóng được tạo bởi các vật liệu tịch sạn
cát. Địa hình này được ghi nhận tại dấu tích của gờ ngầm nừm giữa các đảo Hòn
Giài, Hòn Mồ và Hòn Tai.
+ Địa hình đáy biển không ổn định: chịu ảnh hưởng lớn của sóng biển, địa
hình này được phủ một lớp trầm tích chủ yếu là cát có quan hệ với nguồn gốc từ lục địa.
Hình 2.4: Bản đồ nền địa hình vùng đảo Cù Lao Chàm
Về mặt địa mạo, có thể chia ra các dạng địa hình trên đảo Cù Lao Chàm như
sau [6]:
- Các dạng địa hình bề mặt san bằng : tồn tại một loạt các bề mặt san bằng kiểu pediplen 400-500m (Hòn Biền) tuổi dự kiến Miocen muộn (14 triệu năm); pediplen 300-350m (Hòn Đại) tuổi Pliocen sớm (5 triệu năm); pediplen 160-180m (các yên ngựa ở TB và ĐN đảo) tuổi Pliocen muộn (3 triệu năm); Pedimen 80-120m
(sườn Bãi Hương, yên ngựa phía Đông Bãi Làng) tuổi Pleistocen sớm (1,6 triệu năm).
34
- Các dạng địa hình sườn dốc: đó là các sườn bóc mòn trên đá granit dốc, sườn bóc mòn đổ lở dốc trên 450 phân bố chủ yếu ở phía Đông của đảo; các bề mặt sườn tích –lũ tích phân bố chủ yếu ở chân các sườn núi phía TN và nam đảo.
- Các thềm biển phản ánh tác động tương hỗ giữa biển và đảo và dao động
mức nước biển trong mối liên quan với các chuyển động tân kiến tạo. Đó là các thềm biển mài mòn cao 40-60m tuổi Pleistocen giữa (300-400 nghìn năm) ở phía
Đông Bãi Làng, Bãi Xếp; thềm mài mòn cao 20-30m (bắc Bãi Làng) tuổi Pleistocen muộn (125 ngàn năm); thềm mài mòn - tích tụ cao 10-15m (Đồng Chùa) tuổi
Pleistocen muộn (50-30 nghìn năm); thềm tích tụ cát biển cao 4-6m ( Bãi Ông, Bãi
Làng, Bãi Chồng, Bãi Hương) tuổi Holocen giữa (5-6 nghìn năm).
Tài nguyên địa mạo: Thiên nhiên ban tặng cho Cù Lao Chàm nhiều giá trị tài
nguyên địa hình độc đáo đó là:
- Các vách đá kỳ vĩ, khối đá đa dạng về hình thể: dưới tác động của quá trình
xâm thực , bóc mòn, mài mòn do nước, sóng biển đã tạo nên nhiều khối đá granit có
bình thù khác nhau, đó là: các sườn núi đá, vách đá dốc đứng cao đến 100m kéo dài
hàng trăm mét, những khối đá đổ ở chân vách, các mặt clif và bench, các mỏn sót
tạo nên các cảnh quan đá chồng, các hình thù đa dạng là các điểm tham quan, nghỉ
chân chụp hình và du lịch sinh thái, thưởng ngọan phong cảnh ( Hình 2.5).
Hình 2. 5: Hòn chồng (ảnh trái) hang Yến (ảnh phải)
(Nguồn: dulichculaocham)
- Các bãi biển thoải với nền cát mịn sạch, nằm xen giữa các mỏn đá nhô ra biển với các nét chạm trổ độc đáo: Ở ven bờ phía TN và Nam đảo Cù Lao Chàm phân bố 7 bãi biển đó là các Bãi Bắc, Bãi Ông, Bãi Làng, Bãi Xếp, Bãi Chồng, Bãi Bìm, Bãi Hương (Hình 2.6). Các bãi được hình thành do quá trình tích tụ lấp góc bởi hoạt động của sóng nên thường có kích thước không lớn. Chiều rộng các bãi phổ biến từ 20-50m, dài 100-700m cấu tạo từ cát hạt trung có đường kinh Md trng
35
bình 0,2-0,5mm, với thành phần vật liệu chủ yếu là cát thạch anh ( chiếm 90%) và các vật liệu vụn san hô, mảnh vụn xác sinh vật. Đây là các bãi tắm lý tưởng của đảo Cù Lao Chàm.
- Hang yến: quá trình bóc mòn, mài mòn của biển kết hợp với hoạt động đổ lở dọc theo các khe nứt tại các khối đá granit ven đảo đã tạo nên các hang yến – một dạng địa hình độc đáo và có giá trị. Các hang yến được hình thành từ các khe nứt kiến tạo chủ yếu có phương ĐB-TN, TB-ĐN, cắm gần thẳng đứng, hoặc nghiêng 60-700, địa hình hiểm trở và Yến làm tổ chủ yếu ở bờ phía Đông của đảo, nơi có đường bờ định hướng B-N và phát triển nhiều khe nứt lớn. Quần đảo Cù Lao Chàm bắt gặp chim yến làm tổ ở sườn phía Đông các đảo Cù Lao Chàm, Hòn Tai, Hòn Khô Mẹ và Khô Con nơi có sóng gió mạnh.
Hình 2.6: Một số bãi biển ở Cù Lao Chàm: Bãi Bắc (ảnh trái),
Bãi Ông ( ảnh giữa), Bãi Xếp ( ảnh phải) ( Nguồn: Uông Đình Khanh)
2.2.4. Điều kiện khí hậu
Chế độ khí hậu khu vực Cù Lao Chàm mang nét chuyển tiếp giữa 2 miền khí
hậu khác biệt là miền Bắc và miền Nam nên thể hiện rõ 2 mùa: mùa mưa và mùa
khô. [14]
Mùa khô kéo dài 8 tháng (từ tháng 1 đến tháng 8) chịu ảnh hưởng của gió
mùa Tây Nam khô nóng ảnh hưởng, cao điểm nhất là tháng 7, 8. Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12. Vào mùa mưa trùng với thời kỳ hoạt động của gió mùa Đông Bắc xâm nhập sâu xuống phía Nam thường kết hợp với nhiễu động nhiệt đới hoạt động trên biển như bão, áp thấp nhiệt đới, dải hội tụ nhiệt đới nên thường gây mưa to trên diện rộng.
Bức xạ: Số giờ nắng trung bình trong năm là 2157 giờ. Số giờ chiếu nắng nhiều nhất là vào tháng 5 - 6. Số giờ chiếu nắng trung bình 234-277 giờ/tháng. Số
36
giờ chiếu nắng ít nhất vào tháng 11 và tháng 1. Trung bình số giờ nắng trong năm từ 69-165 giờ/tháng.
Nhiệt độ: khu vực nghiên cứu nằm trong đới khí hậu gió mùa nên có nền
nhiệt khá cao, mùa đông ít lạnh. Nhiệt độ phụ thuộc nhiều vào khí hậu nhiệt đới gió
mùa (gió mùa đông bắc, gió mùa tây nam, gió mùa đông – đông nam) và chế độ mưa. Mùa khô từ khoảng tháng 2 đến tháng 8, mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng Giêng năm sau, nhiệt độ trung bình năm là 25,60C.; nhiệt độ cao nhất: 39,80C; nhiệt độ thấp nhất: 22,80C., biên độ nhiệt năm khoảng 6-70C.
Mưa: Tổng lượng mưa trung bình năm là 2504,57mm. Lượng mưa cao nhất
vào tháng 10,11, trung bình 550-1000mm/tháng, thấp nhất vào các tháng 1,2 với
lượng mưa chỉ 23-40mm/tháng.
Chế độ mưa mang những đặc điểm cơ bản của vùng đồng bằng ven biển Trung Trung Bộ. Mùa mưa diễn ra từ tháng 9-12, trong đó tháng 10 có lượng mưa
lớn nhất. Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, trong đó tháng 3 có lượng mưa nhỏ nhất.
Lượng mưa mùa mưa chiếm 75% tổng lượng mưa năm, mùa khô chỉ chiếm 25%
tổng lượng mưa năm.
Độ ẩm không khí: Độ ẩm tương đối không khí trung bình năm là 83%. Vào
mùa khô khoảng 75% và mùa mưa 85%. Tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 12,
trung bình đạt 88-89%; tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 7, giá trị trung bình
khoảng 76 - 77%.
Bốc hơi: Trung bình lượng bốc hơi năm đạt 1000-1150mm. Tổng lượng bốc
hơi các tháng mùa khô lớn hơn mùa mưa, với lượng bốc hơi 720-810mm ( chiếm
73-76% tổng lượng bốc hơi cả năm). Tháng có lượng bốc hơi cao nhất là tháng 7, tháng có lượng bốc hơi thấp nhất là tháng 12.
Chế độ gió: Chế độ gió có hai mùa rõ rệt: Gió mùa đông từ tháng 11 đến
tháng 2 năm sau với tốc độ gió 20m/s, sau đó là gió mùa hè với tốc độ gió 40m/s.
Hướng gió thịnh hành mùa hè: Đông. Hướng gió thịnh hành mùa Đông: Bắc và Tây Bắc. Tốc độ gió trung bình: 3,3 m/s. Đảo Cù Lao Chàm có địa hình cao chắn hướng Đông Bắc và Bắc là sườn vách đá dựng đứng nên đã hạn chế được sự tác động của gió mùa Đông BBắc đến sự phát triển của hệ sinh vật trên đảo trong khi các hoạt
động kinh tế của người dân trên đảo chủ yếu tập trung ở sườn thoải phía Nam và Tây Nam.
Các hiện tượng thời tiết cực đoan: Khu vực cũng xuất hiện các loại thời tiết
nguy hiểm như dông, áp thấp nhiệt đới và bão. Dông, bão thường xảy ra vào tháng
37
9,10,11 với tần suất 7-15 ngày trong tháng. Trong cơn bão kèm theo mưa lớn và gió giật mạnh gây ra lũ lụt và sạt lở đất toàn khu vực.
Từ các kết quả về điều kiện khí hâu, khu BTB Cù Lao Chàm có số giờ nắng
khá cao, nhiệt độ thích hợp cho con người phát triển kinh tế, xã hội và hoạt động du
lịch, đồng thời thích hợp cho sự phát triển của hệ thống sinh vật, đây thực sự là thế mạnh cho hoạt động phát triền du lịch như tắm biển, nghỉ mát, tham quan trên đảo Cù Lao Chàm khi nền nhiệt trung bình đạt khoảng 260C và kéo dài trong suốt 8 tháng (từ tháng 1 đến tháng 8).
2.2.5. Đặc điểm thủy, hải văn, nước dưới đất
Thủy văn : Trên đảo Cù Lao Chàm có 4 con suối nhỏ là những dòng chảy
tạm thời, bị cạn kiệt gần như hoàn toàn vào khoảng giữa đến cuối mùa khô (khoảng
từ tháng 5, 6 đến đầu tháng 9).
- Suối Tình dài khoảng 750m và Suối Bìm dài khoảng 900m đều bắt nguồn
từ núi Hòn Biền, chảy về phía Tây của đảo. Hai suối nhỏ này là nguồn cung cấp
nước sinh hoạt chủ yếu cho người dân trên đảo khu vực Bãi Làng, Thôn Cấm và Bãi
Ông. Mùa mưa, lưu lượng nước khoảng 250l/s còn vào mưa khô có lưu lượng
khoảng 6l/s.. Ngoài ra, đây cũng là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho 2 khu du
lịch sinh thái: Bãi Chồng và Bãi Bìm. Các suối này cũng chỉ đến giữa tháng 6 là bị
cạn kiệt hoàn toàn, chỉ còn lại những vũng nước đọng dọc theo dòng chảy và bãi lầy
ở nơi cửa suối.
- Suối Ông Thơ bắt nguồn từ núi Hòn Biền đổ xuống bãi Đá Chồng, dài
khoảng 1,2km. Đây là con suối lớn thứ hai trên đảo và là nguồn cung cấp nước mặt
chính cho Đồn Biên phòng 276 và các đơn vị quân đội đóng quân gần suối trong suốt mùa mưa và nửa đầu của mùa khô. Vào mùa mưa, lưu lượng nước đạt 120l/s
còn mùa khô khoảng 10l/s. Suối bị cạn kiệt hoàn toàn vào khoảng đầu tháng 3 đến giữa tháng 6 hàng năm.
- Suối Bãi Hương bắt nguồn từ Hòn Giu đổ xuống Bãi Hương, dài khoảng 1900m. Đây là nguồn cung cấp nước mặt cho cư dân trên đảo khu vực Bãi Hương . Suối bị cạn kiệt hoàn toàn vào khoảng đầu tháng 6. Người dân ở Bãi Hương phải dùng ghe thuyền để chuyên chở nước ngọt từ Bãi Làng, đôi khi từ đất liền để sử
dụng trong những ngày suối Bãi Hương hoàn toàn kiệt nước.
38
- Trong các suối nhỏ trên thì suối Bìm là có dòng chảy lớn hơn cả, kế đến là suối Tình. Phần thượng lưu của suối Bìm người ta đã tiến hành xây con đập chắn
nước kích thước lớn tạo thành hồ Bìm nằm ở độ cao 160m, có dung tích chứa 85.000m3 nước, cung cấp nước sinh hoạt cho 2 thôn Bãi Ông và Bãi Làng. Hệ thống ống nước được dẫn từ hồ về các bể chứa ở khu vực Trạm Y tế xã và Bãi Ông. Sau đó, theo một hệ thống đường ống khác chảy về từng hộ gia đình của hai thôn Bãi
Làng và Bãi Ông .
Lưu lượng khai thác được từ các nguồn nước mặt phục vụ cho sinh hoạt của
cư dân trên đảo có thể tính toán sơ bộ theo quy chuẩn của chính phủ trong chương
trình “Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn” là 60l/ngày /người. Như vậy,
chưa kể các lực lượng vũ trang, lượng nước sử dụng trên đảo tính theo tổng số dân là 175,8m3/ngày.
Hải văn:
- Sóng: do gió tạo ra và thay đổi theo hai mùa khác nhau. Vào mùa đông,
sóng hình thành từ phía Đông Bắc và phía Đông. Độ cao của sóng trước luôn lớn
hơn sóng sau. Trong các tháng mùa đông (từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau) sóng
hướng Đông-Bắc thịnh hành. Về cuối mùa đông, tần suất sóng hướng Đông-Bắc
giảm và chuyển dần sang hướng Đông. Vào các tháng mùa hè (từ tháng 5 đến tháng
9) sóng hướng Tây-Nam chiếm ưu thế, về cuối mùa hè sóng chuyển dần sang hướng
Nam. Sóng có độ cao trung bình từ 1-3m và có thể đạt độ cao 6m trong 3 tháng
(tháng XI, XII và tháng I) [31].
- Dòng chảy: Dòng chảy gió có hướng gần như song song với đường bờ. Vào
những tháng mùa đông, dòng chảy có hướng Đông Nam, cường độ lớn nhất vào tháng XI, XII và tháng I. Vào các tháng mùa hè, từ tháng IV trở đi, dòng chảy có
hướng Bắc, Tây-Bắc, đạt cường độ lớn nhất vào tháng VII, sau đó giảm dần và lặp lại chế độ dòng chảy mùa đông.
- Dao động mực nước biển: Đảo Cù Lao Chàm có chế độ bán nhật triều không đều với mực nước trung bình trong tháng thể hiện tính chất dao động mùa rõ rệt. Trong các tháng mùa đông, mực nước trung bình tháng cao hơn mực nước trung bình các tháng mùa hè khoảng 42cm [31].
39
Tài nguyên nước ngầm trên đảo Cù Lao Chàm:
thủy văn, địa chất công trình và tìm kiếm nguồn nước đảo Cù Lao Chàm [21]. Kết
Tài nguyên nước ngầm được đánh giá thông qua công trình điều tra địa chất
quả nghiên cứu cho thấy trên đảo có 2 tầng chứa nước chính đó là:
- Tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích không phân chia tuổi Đệ tứ (Q) thuộc bậc địa hình có độ cao tuyệt đối 7-15m so với mực nước biển kéo dài theo
phương Bắc- Nam khoảng 400-600m, rộng 100-300m tại thung lũng trước núi dạng
lòng chảo và phần rìa chân phía Tây Nam đảo ở các khu vực phía Bắc Bãi Ông, Bãi Làng, Bãi Bìm, Bãi Hương với diện tích trung bình mỗi khu khoảng 0,32km2. Chiều dày tầng chứa nước từ 2,8-4,5m, chất lượng nước tốt đáp ứng sinh hoạt. Động thái
nước ngầm trong tầng thay đổi theo mùa, đặc biệt trong mùa mưa (tháng 9-10) mực
nước dâng cao, mùa khô mực nước bị hạ thấp. Tầng chứa nước lỗ hổng này khả
năng chứa nước nghèo, song có thể bố trí các công trình khai thác đơn lẻ đáp ứng lưu lượng 200-250m3/ ngày cho dân sinh và quốc phòng.
- Tầng chứa nước khe nứt: phân bố trong vỏ phong hóa và khe nứt các đá
granit phức hệ Hải Vân, chiếm hầu hết diện tích đảo Cù Lao Chàm. Chiều dày lớn
nhất của tầng đạt 25,9 - 31,2 m. Nước dưới đất trong khe nứt thuộc loại không áp,
nước thuộc loại hình hóa học clorua bicarbonat natri. Nguồn cung cấp cho đới này
là nước mưa thấm trực tiếp trên mặt; miền thoát nước là mương xói, khe rãnh và
mặt địa hình thấp ven biển. Nước khe nứt là nguồn cung cấp chủ yếu cho các dòng
chảy tạm thời trên đảo trong suốt cả mùa mưa và đầu mùa khô. Nước được thu gom
từ các đập chắn và hồ chứa nhỏ phục vụ cho sinh hoạt của người dân và bộ đội trên đảo. Trữ lượng khai thác nước trong tầng khoảng 350m3/ngày.
Có thể thấy tài nguyên nước ngầm trên đảo Cù Lao Chàm có trữ lượng không lớn, chỉ cho phép khai thác khoảng 500m3/ngày (ở cả hai tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Đệ tứ và tầng chứa nước khe nứt). Với khối lượng cho phép khai thác này chỉ đáp ứng nhu cầu dùng nước cho khoảng 4000 - 5000 người/ngày. Do vậy cần tính toán lượng khách ra đảo phù hợp (1000- 1500 người/ngày) và giữ gìn thảm rừng trên đảo.
2.2.6 Đặc điểm thổ nhưỡng
Đối với quần đảo Cù Lao Chàm, do địa hình chủ yếu là sườn dốc với sự thống trị của quá trình đổ lở, nhiều nơi lộ các khối tảng, đá gốc, tầng phong hóa
40
mỏng, vỏ phong hóa chủ yếu là Saprolit. Chính vì vậy tài nguyên đất ở Cù Lao Chàm rất hạn chế và không có nhiều đất cho phát triển nông nghiệp.
Ở Cù Lao Chàm, do sự tương tác của các yếu tố địa hình, khí hậu và biển đã
dẫn đến sự hình thành và phân hóa các mhóm đất trên các bề mặt đỉnh núi, bề mặt
sườn đông bắc, sườn tây nam; các nhóm đất trên các thềm bóc mòn, tích tụ.
Trên cơ sở kết quả điều tra cho thấy Cù Lao Chàm hình thành nên 6 nhóm
đất chính [6]:
- Trên các bề mặt đỉnh núi và hệ thống đường chia nước chủ yếu hình thành
các nhóm đất tàn tích và nhóm đất hình thành trên các thềm bóc mòn.
- Trên bề mặt sườn Đông Bắc hình thành các nhóm đất có tầng mỏng và diện
đá lộ chiếm ưu thế, ngược lại ở sườn Tây Nam phổ biến các nhóm đất có tầng dày
hơn và phân hóa các tầng khá rõ ràng.
- Trên các thềm biển tạo nên nhóm đất khá đặc trưng là đất cát biển và chân
sườn hình thành nên nhóm đất dốc tụ.
Từ những phân tích trên cho thấy đất trên đảo chủ yếu gặp các nhóm đất tàn
tích, sườn tích và đất dốc tụ phân bố ở chân và ven rìa phía tây nam đảo với diện
tích không lớn khoảng 7ha. Tầng đất mỏng, nhiều nơi lẫn tảng lăn, đá lộ đầu, độ phì
nhiêu thấp ít có gía trị cho sản xuất nông nghiệp.
Trong các nhóm đất trên thì đất dốc tụ chân sườn và đất thềm tích tụ là
nguồn tài nguyên quí giá của đảo. Chúng phân bố hạn chế ở ven Bãi Bắc, Bãi Ông,
Đồng Chùa, Bãi Làng, Bãi Hương ở các độ cao 10-20m đến 30-40m. Thành phần
đất thường là cát pha, cấp hạt >2mm thường thấp hơn 10%; bên dưới là các tảng cục
đá gốc phong hóa, tròn cạnh. Có thể xếp các đất này vào nhóm đất Fluvisol, chúng có hàm lượng mùn nghèo và ít thay đổi theo độ sâu; đất chua, bị bạc màu.
Đất trên ruộng bậc thang thoải trồng lúa nước ở Bắc Đồng Chùa thuộc đất chua (H KCL = 3,72 -3,86), nghèo mùn (1,14% trên mặt, xuống còn 0,26% ở độ sâu dưới 50cm), thành phần cơ giới chủ yếu là cấp cát thô – bột với cấp hạt 2-0,02mm chiếm 82-86%.
Trên các sườn thoải ( <20%), độ cao 60-80m gặp tổ hợp tầng đất dày; trong phẫu diện, đất có màu nâu vàng nhạt, hơi thô, viên cục góc cạnh, thịt trung bình, ít
dẻo,bên dưới 50cm lẫn nhiều sạn thạch anh và các viên cục góc cạnh phong hóa từ granit. Đất chua (pH KCL = 4,61 -4,12), mùn khá hơn ( 3,32% trên mặt)
41
2.3 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ -XÃ HỘI CỦA KHU BẢO TỒN BIỂN ĐẢO CÙ
LAO CHÀM
2.3.1. Hành chính, dân số, dân tộc và lao động
Trong 8 hòn đảo thuộc quần đảo Cù Lao Chàm thì Hòn Lao có diện tích lớn
nhất và là đảo duy nhất có người dân sinh sống từ lâu đời, hình thành xã đảo Tân Hiệp. thuộc thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
Xã đảo Tân Hiệp bao gồm 4 thôn: Bãi Hương, Bãi Làng, thôn Cấm và Bãi
Ông. Theo số liệu NGTK TP. Hội An,diện tích và dân số trên xã đảo Tân Hiệp tính
đến 31/12/2016 như sau (Bảng 2.1).
Bảng 2.1: Diện tích, dân số, mật độ dân số xã Tân Hiệp đến 31/12/2016
STT Thôn Số hộ Diện tích tự nhiên (km2) Dân số (người) Mật độ dân số (người/km2)
1 Bãi Hương 3,9 91 327 84
2 Bãi Làng 5,2 212 921 179
3 Thôn Cấm 2,32 93 343 148
4 Bãi Ông 5,0 170 655 131
Tổng 16,42 582 2.256 137
Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hội An 2016 [9]
Tính đến hết năm 2016 xã Tân Hiệp có tổng số 2.256 người, mật độ dân số trung bình là 137 người/km2 với tốc độ dân số giảm (trung bình 26,7 người/năm). Trong đó, dân số tập trung ở thôn Bãi Làng: 921 người, mật độ 179 người/km2; thôn Bãi Ông có 655 người, mật độ 131 người/km2; thôn Cấm có 343 người; mật độ 148 người/km2 và Bãi Hương có 327 người, mật độ 84 người/km2.
Tuy nhiên theo theo số liệu của ngành du lịch, lượng khách du lịch đến với
đảo Cù Lao Chàm tăng từ 17.500 lượt (năm 2009) đến gần 402.187 lượt (năm 2016), tức là mỗi người dân trên đảo phải tiếp khoảng 179 du khách/năm. Như vậy, với lượng du khách du lịch tham quan đảo là 1.127 người trong 1 ngày thì mật độ dân cư thực tế trên đảo lên tới 3.383 người/ngày.
Dân số trong độ tuổi lao động xã Tân Hiệp tính đến 31/12/2016 là 1.436
người; chiếm 63,7% tổng dân số. Trong đó, số lao động nam là 747 người và lao
động nữ là 689 người (bảng 2.2). Lao động chủ yếu làm nghề đi biển, khai thác hải
sản, dịch vụ hậu cần nghề cá và kinh doanh dịch vụ du lịch.
42
Bảng 2.2: Dân số theo giới tính và lao động xã Tân Hiệp đến 31/12/2016
Dân số (người) Lao động (người)
STT Thôn Trong đó Trong đó Tổng Tổng Nam Nữ Nam Nữ
1 Bãi Hương 327 160 167 224 117 107
2 Bãi Làng 931 437 494 568 291 277
3 Thôn Cấm 343 152 191 220 111 109
4 Bãi Ông 645 325 330 424 228 196
Tổng 2.256 1.074 1.182 1.436 747 689
Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hội An 2016
Tổng số lao động của xã Tân Hiệp là 1.436 người, trong đó số người có nghề ổn định là 1.032 người; chiếm 71,9% tổng số lao động của xã. Hiện tại, ở đây đang
có sự chuyển dịch lao động từ khai thác thủy hải sản sang làm dịch vụ.
Bảng 2.3: Số người trong độ tuổi lao động chia theo việc làm xã Tân Hiệp năm 2016
Chia theo việc làm
Đang Chia theo thôn Nội trợ Tổng số lao động Ổn định Không ổn định Mất khả năng LĐ Không có việc làm Đi học
Bãi Hương 224 163 45 9 0 7 0
Bãi Làng 568 392 109 54 0 13 0
Thôn Cấm 220 169 33 10 0 8 0
Bãi Ông 424 308 79 34 0 3 0
Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hội An 2016
0 31 0 Tổng 1.436 1.032 266 107
Nhìn chung nguồn lao động của địa phương chủ yếu là lao động phổ thông, phần lớn lao động trẻ đi đến các địa phương khác để tìm công việc làm ăn, sinh sống. Số lao động hiện có mặt tại địa phương chủ yếu là những người lớn tuổi và
một bộ phận thanh niên có học vấn thấp. Hoạt động kinh tế chính của cư dân địa phương là đánh bắt hải sản và làm dịch vụ du lịch. Do vậy, theo như đánh giá đặc
43
điểm lao động tại địa phương chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển kinh tế trong tương lai.
2.3.2 Hiện trạng các ngành kinh tế
2.3.2.1 Thương mại - dịch vụ
Ngành thương mại - dịch vụ ở đây còn mang tính chất nhỏ lẻ của các hộ tư nhân và cá thể. Toàn xã có một chợ Tân Hiệp được xây dựng tại Bãi Làng, việc mua
bán, trao đổi đều thực hiện dưới hình thức tự phát, các tiểu thương trên đảo vào đất
liền mua hàng rồi mang ra bán lại cho dân trên đảo, đồng thời họ cũng mang các
đặc sản từ đảo vào bán lại cho dân trong đất liền, tuy nhiên lượng hàng ít và không
đáng kể. Trên đảo loại hình phục vụ khách tham quan còn ít, nhỏ lẻ, chưa đảm bảo,
đây cũng là nguyên nhân làm cho hoạt động thương mại kém phát triển.
Theo số liệu thống kế, số lao động ngành thương mại và dịch vụ năm 2016 ở
xã Tân Hiệp khoảng 749 người; chiếm khoảng 52,2% tổng số lao động. Các hoạt
động chủ yếu thu hút lao động trong lĩnh vực này là thương nghiệp, ăn uống, dịch
vụ .
Hoạt động du lịch: Các HST rạn san hô, thảm cỏ biển, quần cư rong biển,
rừng tự nhiên, bãi cát,… là nguồn lực tự nhiên quan trọng hỗ trợ cho sự phát triển
DLST. Lặn ngắm HST rạn san hô là một trong những hoạt động thú vị nhất khi đến
với DLST ở Cù Lao Chàm. Hòn Dài chính là địa điểm lý tưởng dành cho du khách
tham gia hoạt động thể thao dưới nước này. Vào mùa du lịch, mỗi ngày có khoảng
4.000 - 5.000 lượt khách ra Cù Lao Chàm lặn ngắm san hô.
Kinh tế du lịch - dịch vụ của xã đảo Tân Hiệp có sự phát triển mạnh mẽ,
chiếm tỷ trọng hơn 70% trong cơ cấu kinh tế toàn xã. Đến nay, Cù Lao Chàm đã thực sự trở thành điểm đến du lịch nổi tiếng, có sức hấp dẫn lớn đối với du khách
trong và ngoài nước. Năm 2016, tổng lượt khách đến tham quan Cù Lao Chàm đạt gần 402.187 lượt, tăng gấp 5 lần so với năm 2011, tốc độ tăng bình quân hàng năm hơn 50%. Doanh thu bán vé tham quan đạt 12,12 tỷ đồng; tăng gấp 9,7 lần so với năm 2011. Số lượng khách quốc tế và nội địa đến Cù Lao Chàm có xu hướng tăng (bảng 2.4)
44
Bảng 2.4: Hoạt động của ngành du lịch - dịch vụ ở Cù Lao Chàm
STT Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2015 Năm 2016
Tổng lượng khách đến tham quan Lượt khách 367.548 402.187
+ Khách quốc tế Lượt khách 84.914 79.699 1 + Khách nội địa Lượt khách 282.634 322.488
Tổng lượng khách lưu trú Lượt khách 11.009 12.279
2 + Khách quốc tế Lượt khách 2.168 1.805
+ Khách nội địa Lượt khách 8.841 10.474
3 Doanh thu từ Homestay Triệu đồng 724,835 728,205
4 Số lượng nhà nghỉ Homestay Cơ sở 29 35
Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hội An 2016
2.3.3.2 Khai thác thủy sản
Tổng sản lượng đánh bắt trung bình hằng năm thể hiện trên 3 ngư trường Cù
Lao Chàm, đặc trưng cho 3 vùng sinh thái khác nhau: Vùng rạn gần bờ là ngư trường của nghề lặn, một vùng nhạy cảm san hô, cỏ biển có sản lượng khoảng 60
tấn, vùng nền đáy cát bùn là ngư trường của nghề lưới nổi có sản lượng khoảng 200
tấn và vùng nước sâu là ngư trường của nghề mành, nghề câu có sản lượng khoảng
300 tấn. Khoảng 57,9% năng lực khai thác tập trung vào vùng đáy nền cát bùn của
thảm cỏ biển, 9,7% tập trung vào vùng rạn san hô gần bờ, chỉ có 26,6% đánh bắt ở
các vùng nước sâu [4]. Có thể thấy gần 70% năng lực khai thác tập trung vào các
vùng nhạy cảm của rạn san hô, thảm cỏ biển nơi đang thể hiện rất cao vai trò sinh
thái quan trọng cần phải được quản lý cẩn thận mới đảm bảo khai thác bền vững.
Hơn 90% phương tiện khai thác giản đơn, công suất thấp chỉ đánh bắt quanh quẩn ngư trường vùng rạn như thúng chai phân bố theo lớp, theo công suất và tổng sản lượng hằng năm chứng tỏ sinh kế của cộng đồng Cù Lao Chàm phụ thuộc vào nguồn lợi ven bờ (bảng 2.5). Thông qua việc mô tả lịch mùa vụ, kích cỡ lưới và ngư trường cộng đồng đã phản ảnh hiện trạng khái thác quá mức tại Cù Lao Chàm.
45
Bảng 2.5: Số lượng tàu thuyền khai thác hải sản tại đảo Cù Lao Chàm
Năm 2015 Năm 2016
Chia theo Thôn STT Số lượng (chiếc) Công suất (CV) Số lượng (chiếc) Công suất (CV)
72 1.001.5 71 974,5 1 Bãi Làng
47 564 47 546 2 Bãi Ông
Thôn Cấm 24 248 24 248 3
46 483 46 483 4 Bãi Hương
Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hội An 2016
Tổng 189 2.296,5 188 2.251,5
Số lao động trong lĩnh vực ngư nghiệp của xã Tân Hiệp đã giảm trong năm
2015 - 2016, cụ thể năm 2015 có tổng số 600 lao động trong lĩnh vực ngư nghiệp,
đến năm 2016 giảm xuống còn 428 lao động. Tại xã đảo Tân Hiệp, số lao động
trong lĩnh vực ngư nghiệp của xã Tân Hiệp đã giảm trong hai năm 2015 – 2016 đến
172 người, điểm khác biệt là tuy tổng số lao động thủy sản giảm, nhưng số lao động
nữ
Bảng 2.6: Số lao động ngư nghiệp năm 2015 - 2016 ở xã Tân Hiệp
(Đơn vị: người)
Năm 2015 Năm 2016
STT Thôn Tổng số Tổng số Trong đó lao động nữ
1 Bãi Làng Trong đó lao động nữ 33 293 191 33
2 3 Bãi Ông Thôn Cấm 147 55 17 5 103 47 17 5
Bãi Hương 105 25 87 25
Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hội An 2016
4 Tổng 600 80 428 80
2.3.3.3 Trồng trọt, chăn nuôi
Hiện nay do đất đai trên đảo Cù Lao Chàm cằn cỗi, nên diện tích canh tác
hầu như còn rất ít, các cây lương thực ít được trồng và cho năng suất không cao.
46
Các nghề khác như nghề rừng cũng không phát triển do rừng trên đảo Cù Lao Chàm là rừng đặc dụng thuộc diện bảo vệ nghiêm ngặt. Vì vậy có một số ít hộ
thu hái lá rừng làm chè nước uống; còn hầu hết các hộ gia đình làm nông nghiệp
trước đây chuyển hướng sang làm nghề dịch vụ như bán bánh mì, bánh ít, bánh
tráng, bánh gai, bánh su sê…Một số hộ chủ động chuyển đổi sang làm các nghề dịch vụ phục vụ du lịch như bán/chế tác sản phẩm mỹ nghệ, hoặc bán hàng lưu
niệm phục vụ khách du lịch trên đảo, mở dịch vụ homestay, chạy xe ôm.. .
Về chăn nuôi, số lượng gia súc (chủ yếu là bò, chỉ có duy nhất 01 con trâu)
tăng giảm không đều, có xu hướng giảm nhẹ; trong khi đàn lợn và đàn gia cầm, nhất
là đàn gà giảm sút nghiêm trọng (bảng 2.7).
Bảng 2.7: Biến động số lượng gia súc gia cầm ở xã Tân Hiệp giai đoạn 2012-2016
Năm
Vật nuôi (con) 2012 2013 2014 2015 2016
Bò 150 103 107 146 131
Lợn 180 77 226 197 52
Gia cầm 1.952 4.671 2.907 698 312
Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hội An 2012-2016
Gà 1.742 4.336 2.475 574 148
2.3.3.4 Khai thác Yến sào Cù Lao Chàm
Yến sào là tên gọi địa phương của một loại chim Yến có tên khoa học
(Collocalia francica) sinh sống trong các hang đá ở bờ Đông của Hòn Lao và một
số Hòn khác như: Hòn Tai, Hòn Khô, Hòn Lá và Hòn Ông. Quần thể chim Yến ở
Cù Lao Chàm hiện có khoảng 100.000 con. Hiện tại, các hang Yến đang được quản
lý khai thác bởi Công ty Yến sào tại Hội An và người dân cũng có thể thu hoạch tổ Yến ở những hang nhỏ chưa được quản lý như Hòn Ông, Hòn Lá với số lượng không đáng kể. Yến sào Cù Lao Chàm đã được khai thác khoảng 400 năm trước đây. Ngày nay, tại Bãi Hương, còn có một miếu thờ những người đầu tiên khai phá nghề Yến gọi là miếu Tổ nghề Yến. Một năm 2 lần, người khai thác Yến tổ chức lễ hội dâng hương cầu an, tưởng niệm tại miếu Tổ nghề Yến.
Theo kinh nghiệm, chim Yến Cù Lao Chàm có tỷ lệ chết cao nhất vào mùa mưa bão, những cơn gió mạnh khiến chim Yến không thể vào hang, thường bị gãy
47
cánh rơi xuống biển hoặc phơi mình trên bờ đá. Yến sào được khai thác một năm 2 lần: Vào tháng 4, tổ Yến được lấy đi trước khi chim chuẩn bị đẻ trứng sẽ cho sản
lượng và chất lượng cao hơn khoảng 600 kg/mùa; và vào tháng 9 sau khi chim non
vừa rời tổ có sản lượng và chất lượng thấp hơn khoảng 400 kg/mùa. Tổ Yến sau khi
khai thác và qua kỹ thuật chế biến sơ bộ được xuất khẩu (chủ yếu sang thị trường Đài Loan, Hồng Kông) với giá 3.000 USD/kg. Trung bình sản lượng khai thác yến
sào Cù Lao Chàm đạt khoảng 1000kg /năm và nguồn tài nguyên này mang về cho Hội An khoảng 3.000.000 USD [22]. Trong tương lai khi du lịch sinh thái phát triển
thì những đặc trưng về mặt sinh thái như nơi cư trú, tập tính sinh sản, khu phân bố
của chim yến sẽ là những điều hấp dẫn du khách khi đến tham quan đảo Cù Lao
Chàm (hình 2.7)
Hình 2.7: Đảo Yến ( ảnh trái) và tổ yến Cù Lao Chàm ( ảnh phải)
(Nguồn: Chu Anh Dũng)
d) Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế, khu vực quần đảo Cù
Lao Chàm thời gian qua chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành du lịch - dịch
vụ - thương mại (từ 30,11% năm 2012 tăng lên 70,83% năm 2015) và giảm dần tỷ
trọng ngành nông - lâm - ngư (từ 69,9% năm 2012 xuống còn 20,3% năm 2015).
2.3.3. Hiện trạng văn hóa, xã hội và cơ sở hạ tầng
- Về văn hóa: Hiện nay, trên đảo Cù Lao Chàm tồn tại rất nhiều di tích văn hóa như: di tích khảo cổ Bãi Ông, Bãi Làng; giếng cổ xóm Cấm, chùa Hải Tạng,
lăng Ngư Ông, Miếu tổ nghề Yến, đã vinh dự được công nhận “Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia” ngày 13/12/2006 (hình 2.8).
48
Hình 2.8: Chùa Hải Tạng ( ảnh trái) và giếng cổ xóm Cấm ( ảnh phải)
(Nguồn: Chu Anh Dũng)
- Y tế: Hiện tại, trên đảo có một bệnh xá quân dân y đặt tại khu vực Bãi
Làng, chủ yếu là làm nhiệm vụ sơ cứu tạm thời trước khi chuyển bệnh nhân vào đất
liền.
- Giáo dục: Trên đảo Cù Lao Chàm hiện có 01 trường tiểu học và trung học
cơ sở Quang Trung ( được sát nhập từ trường tiểu học Tân Hiệp và trường trung học
cơ sở Quang Trung) từ đầu năm học 2017 -2018, hiện có 210 học sinh (91 học sinh
THCS và 119 học sinh tiểu học). Trường được đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, đội
ngũ giáo viên đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục đối với xã đảo còn khó khăn.
- Thông tin liên lạc: Toàn xã có một bưu điện, có 2 mạng điện thoại di động
phủ sóng là Viettel và Mobifone. Tuy nhiên, sóng điện thoại ở đây còn chưa ổn
định, đặc biệt là khu vực Bãi Hương sóng điện thoại còn yếu, chưa đảm bảo yêu
cầu, dịch vụ internet còn rất hạn chế.
- Hệ thống cung cấp điện: Đảo Cù Lao Chàm được hòa mạng lưới điện quốc
gia năm 2016. Nhìn chung, hạ tầng kỹ thuật luôn được đầu tư, nâng cấp; giúp nâng
cao đời sống cho nhân dân, góp phần tích cực vào phát triển du lịch, để lại nhiều ấn tượng đẹp trong lòng du khách.
- Hệ thống cấp thoát nước: Nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất ở đảo Cù Lao Chàm chủ yếu khai thác từ nguồn nước mặt và bể nước 80.000m3 hồ Bãi Bìm. Tuy nhiên, vào mùa hè, lượng khách du lịch tăng cao (trung bình khoảng 3500 người cộng với số dân sống trên đảo) nên xảy ra tình trạng thiếu nước.
- Hệ thống giao thông: Hiện nay, trên đảo Cù Lao Chàm có 2 tuyến đường
chính gồm:
49
+ Đường quốc phòng (liên xã), đây là công trình của Bộ Quốc Phòng, là tuyến đường cấp phối nhựa chạy quanh đảo hiện nay có một số chổ đã bị hư hỏng
nặng do sạt lở đất.
+ Đường giao thông nông thôn đã được bê tông hóa và được nhà nước đầu tư
bằng nguồn vốn ngân sách.
Du khách tham quan trên đảo Cù Lao Chàm chủ yếu là đi bộ, du khách muốn
di chuyển giữa các bãi phải đi bộ hoặc đi xe ôm, vì tuyến đường thủy qua lại giữa
các bãi chưa được mở, đây là vấn đề bất cập gây cản trở và làm giảm tính hấp dẫn
cũng như sức hút du khách tham quan đảo.
Tuyến đường thủy từ TP. Hội An đi đảo Cù Lao Chàm mỗi ngày có 06
chuyến tàu gỗ với sức chứa từ khoảng 50 -70 chỗ ngồi. Ngoài ra, còn có một đội
cano du lịch, dành cho du khách đến thăm đảo trong ngày. Hạ tầng giao thông phục
vụ giao thông thủy hiện nay gồm 2 cầu tàu Bãi Hương và Bãi Làng (hình 2.9). Cầu
cảng Bãi Hương được xây dựng mới từ năm 2016 và hiện nay đã hoàn thành, công
trình này góp phần tạo điều kiện cho du khách có điều kiện đến thăm quan Bãi
Hương nhiều hơn và thuận lợi hơn. Còn trên Bãi Làng có 02 cầu cảng, là nơi neo đỗ
thuận lợi của tàu thuyền các loại, cũng là nơi tập kết của các tàu du lịch, ca nô từ đất
liền ra đảo, đồng thời đây là nơi hoạt động mua bán nhộn nhịp, nơi bắt đầu cho
hành trình khám phá biển đảo Cù Lao Chàm, từ đây có thể đi tới các hòn đảo nhỏ
xung quanh khu vực Hòn Lao.
Hình 2.9: Cầu cảng tại Bãi Làng ( ảnh trái) và tại Bãi Hương ( ảnh phải)
(Nguồn: dulichculaocham.com)
- Hệ thống xử lý rác thải: Khu BTB Cù Lao Chàm là điểm du lịch thu hút
nhiều du khách trong và ngoài nước. Hiện nay việc xử lý chất thải rắn tại Cù Lao
50
Chàm chỉ có 01 lò đốt với công suất thực tế nhỏ (2 tấn/ngày) trong khi đó lượng rác thải tại Cù Lao Chàm hiện nay đã lên đến 4 tấn/ngày. Vì vậy vấn đề xử lý chất thải
rắn đang là vấn đề cấp bách cũng như lâu dài đối với Cù Lao Chàm.
- Cơ sở lưu trú: Các homestay cung cấp dịch vụ lưu trú cho du khách. Theo
số liệu thống kê từ UBND xã Tân Hiệp, năm 2016 trên đảo Cù Lao Chàm có 35 cơ sở đăng ký homestay và năm 2017 là 32 cơ sở. Với trung bình mỗi homestay có 3
phòng, mỗi phòng 2 người. Như vậy khả năng đáp ứng chỗ ở cho khoảng 200
khách. Nhìn chung chất lượng của các homestay ngày càng được cải thiện, từ chỗ
chỉ đủ điều kiện đón khách nội địa, đến nay đã có 25 homestay đủ điều kiện để đón
khách quốc tế lưu trú. Ngoài ra, các dịch vụ đi kèm như: Dịch vụ ăn uống, cho thuê
xe, hướng dẫn viên, thuê thuyền, lặn san hô,… Người dân ở đây hiền lành, thân
thiện và hỗ trợ khách du lịch rất nhiệt tình. Mô hình homestay đã tạo được cơ hội để du khách có thể thâm nhập, tìm hiểu và trải nghiệm cuộc sống hàng ngày của người
dân địa phương. Đây là một nét độc đáo trong chiến lược thu hút và tăng giá trị trải
nghiệm của khách khi đến Khu BTB Cù Lao Chàm .Tuy nhiên, vào những ngày cao
điểm, lượng khách ra đảo lớn, số lượng các homestay không đủ cho nhu cầu của du
khách.
- Gia tăng các cơ sở kinh doanh du lịch: Ngày càng có nhiều cơ sở tham gia
cung cấp các sản phẩm dịch vụ phục vụ DLST ở đảo Cù Lao Chàm, chủ yếu là các
hộ cá thể với tốc độ tăng trưởng bình quân là 17,7% mỗi năm. Từ 306 hộ cá thể
kinh doanh du lịch năm 2012, tăng vọt lên 584 hộ năm 2016 (tăng 92%). Cơ sở kinh
doanh là doanh nghiệp tư nhân tăng ít, từ 2 doanh nghiệp năm 2012, tăng lên 7
doanh nghiệp năm 2016.
- Phương tiện vận chuyển: Du khách đi lại trên đảo chủ yếu là đi bộ hoặc đi
xe ôm do những người dân trên đảo phục vụ. Tuyến đường thuỷ từ đất liền ra đảo
bằng cano và tàu gỗ.
- Cơ sở vui chơi giải trí: Ngoài Trung tâm văn hoá xã, các thắng cảnh để
nghỉ ngơi, giải trí, các sản phẩm dịch còn mang tính đơn điệu.
- An ninh quốc phòng: Xã Tân Hiệp có 1 đơn vị quân đội của tỉnh đội Quảng Nam và 1 đơn vị quân đội của Quân khu 5 đang xây dựng công trình phòng thủ trên
đảo.
51
CHƯƠNG 3
ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Ở KHU BẢO TỒN BIỂN ĐẢO CÙ LAO CHÀM
3.1 ĐA DẠNG SINH HỌC KHU BẢO TỒN BIỂN ĐẢO CÙ LAO CHÀM
3.3.1. Hệ sinh thái rừng thường xanh Cù Lao Chàm
Cù Lao Chàm là một trong số rất ít đảo ven bờ của cả nước ta còn giữ được
thảm thực vật có độ che phủ tương đối lớn, khoảng 80-85%. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng vừa có chức năng bảo vệ, duy trì nguồn tài nguyên nước ngầm quí giá
trên đảo phục vụ an sinh, phát triển kinh tế- xã hội, đồng thời cũng lưu giữ nhiều
nguồn gen động thực vật quí hiếm, bảo vệ sinh cảnh, sinh thái môi trường và là tiềm
năng cho phát triển loại hình du lịch sinh thái đầy hứa hẹn trên quần đảo này.
Hệ sinh thái rừng thường xanh Cù Lao Chàm phân bố trên 07 đảo của quần
đảo Cù Lao Chàm với tổng diện tích là 1642,81 ha (Bảng 3.1) [2].
Bảng 3.1: Hiện trạng rừng khu BTB Cù Lao Chàm
STT Khu vực đảo Rừng tự nhiên Diện tích ( ha) Rừng đặc dụng
Loại khác (Cây bụi, tràng cỏ, bụi cỏ)
1 79,59 77,32 Hòn Lá 2,27
2 63,32 63,32 Hòn Dài 0
3 11,83 11,83 Hòn Mồ 0
4 81,21 81,21 Hoàn Tai 0
5 5,04 5,04 Hòn Khô Mẹ 0
6 1,03 1,03 Hòn Khô Con 0
7 Hòn Lao 1400,79 1148,25 252,54
Nguồn: Nguyễn Quang Hòa Anh, 2019. [2] Kiểu thảm đặc trưng nơi đây là rừng thường xanh cây lá rộng nhiệt đới, phân bố chủ yếu ở độ cao từ 50m đến 500m (hình 3.1) có nhiều loại cây gỗ quý như gõ biển, huỷnh, lim xẹt... và nhiều chủng loại lâm sản như song, mây, cây làm
Tổng cộng 1642,81 1388,0 254,81
52
thuốc. Trong hệ sinh thái rừng thường xanh này bắt gặp nhiều loài thực vật, thú, chim, bò sát ếch nhái.
CBHD: PGS.TS Uông Đình Khanh
Người thành lập: Chu Anh Dũng
Hình 3. 1: Cầu cảng tại Bãi Làng ( ảnh trái) và tại Bãi Hương ( ảnh phải) ( Nguồn: Lê Hùng Anh)
Hình 3. 2: Bản đồ thảm thực vật vùng đảo Cù Lao Chàm
53
3.3.1.1.Thành phần loài thực vật
Kết quả điều tra và thống kê cũng đã ghi nhận khu hệ thực vật Cù Lao Chàm có 445 loài và dưới loài thuộc 350 chi, 137 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch là Ngành Thông đất (Lycopodiophyta) Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), Ngành Hạt trần (Gymnospermae) và ngành Hạt kín (Angiospermae) (Danh mục loài thực vật thể hiện tại phụ lục 1) [1].
Trong tổng số 137 họ ở khu vực nghiên cứu, 10 họ giàu loài nhất là: họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 29 loài, họ Cà phê (Rubiaceae) 17 loài, họ Cỏ (Poaceae) 16 loài, họ Đậu (Fabaceae) 15 loài, họ Dâu tằm (Moraceae) 12 loài; họ Na (Annonaceae), họ Trúc đào (Apocynaceae), họ Cúc (Asteraceae), họ Cau (Arecaceae) và họ Cói (Cyperaceae) đều có 9 loài. Tổng số loài của 10 họ thực vật này chiếm đến 30% tổng số loài thực vật bậc cao có mạch phân bố trong khu vực nghiên cứu.
Trong tổng số 445 loài thực vật được ghi nhận, cây thân gỗ hoặc gỗ nhỏ có 151 loài (chiếm 34%); cây thân thảo có 139 loài (chiếm 31,23%); cây thân bụi có 94 loài (chiếm 21,12%); cây dây leo có 67 loài (chiếm 15,05%); các dạng sống khác như thủy sinh, ký sinh… chiếm 0,9%.
Về giá trị sử dụng của các loài thực vật đối với cộng đồng, trong khu vực nghiên cứu có 112 loài cây được ghi nhận có giá trị sử dụng với các mục đích khác nhau. Cụ thể, có 45 loài sử dụng làm thuốc như Cẩu tích (Cibotium barometz (L.) Sm.), Cỏ xước (Achyranthes aspera L.), Chân chim (Schefflera heptaphylla (L.) Frodin), Muồng (Cassia occidentalis L.), Khổ sâm (Croton kongensis Gagnep.)…; 25 loài được sử dụng lấy gỗ như Dẻ gai rừng (Castanopsis ceratacantha Rehder & E.H.Wilson), Dẻ cau (Lithocarpus fenestratus (Roxb.) Rehder), Bằng lăng ổi (Lagerstroemia crispa Pierre ex Laness.)…; 17 loài được sử dụng làm cảnh, lấy bóng mát như Bàng (Terminalia catappa L), Cẩm cù (Hoya carnosa (L.) R. Br.), Sơn tuế (Cycas inermis Lour.), Lộc vừng (Barringtonia acutangula)…; 16 loài lấy củ, quả ăn được như cây sấu (Dracontomelon duperreanum Pierre), làm rau ăn hoặc làm gia vị như Dền cơm (Amaranthus lividus L.), Mùi tàu (Eryngium foetidum L.) [26], và một số loài có công dụng khác như lấy tinh dầu cây Màng tang (Litsea cubeba (Lour.) Warb.), nguyên liệu đan lát Mây (Calamus rudentum Lour.), song mật (Calamus platyacanthus Warb. ex Becc.), lấy trầm có cây Dó bầu (Aquilaria crassna Pierre), cây có độc Mướp sát (Cebera manghas L.)....
Về các loài thực vật quý hiếm, kết quả nghiên cứu [1] cũng ghi nhận hệ thực vật tại Cù Lao Chàm có 2 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007) [7] ở mức độ sẽ Nguy cấp - VU; 8 loài có tên trong Nghị định 06/2019/NĐ-CP của chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IIA (hạn chế
54
khai thác vì mục đích thương mại); 7 loài thuộc Phụ lục II Công ước CITES - hạn chế buôn bán vì mục đích thương mại (hình 3.3); 3 loài có tên trong Danh lục đỏ IUCN, trong đó 2 loài ở mức độ Sẽ nguy cấp (VU) và 1 loài Rất nguy cấp (CR) (xem bảng 3.2 và hình 3.2). Ngoài ra còn có 4 loài cây được công nhận là “Cây Di sản Việt Nam”, đó là cụm 3 cây Ngô đồng đỏ cổ thụ tại dốc Suối Tình – Bãi Làng; cây Đa núi cao 600 tuổi (Ficus altissima Blume) tại phía Tây đường Quốc phòng trên sườn Đông đảo Cù Lao Chàm; cây Nánh (Millettia nigrescens Gagnep.) và cây Kén (Casearia grewiifolia Vent.) tại Miếu tổ nghề Yến thôn Bãi Hương (hình 3.4). Bảng 3.2: Danh sách các loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm
Stt Tên khoa học IUCN NĐ06 CITES
SĐVN 2007
Tên tiếng Việt Bình vôi Cẩu tích 1 Stephania rotunda Lour. 2 Cibotium barometz (L.) IIA IIA
Sm.
3 Aerides odorata Lour. Quế IIA
IIA 4 Cymbidium aloifolium
(L.) Sw.
IIA 5 Dendrobium podagraria
Hook. f.
IIA 6 Ludisia discolor Kiếm lô hội Tiểu thạch hộc Lá gấm
CR (Ker-Gawl.) A. Rich 7 Aquilaria crassna Pierre Dó bầu
Phụ lục II Phụ lục II Phụ lục II Phụ lục II Phụ lục II Phụ lục II VU 8 Hopea odorata Roxb.
Sao đen Sơn tuế 9 Cycas inermis Lour. VU IIA
Phụ lục II 10 Mitrephora thorell Pierre Mạo đài VU
thorel Song mật VU IIA
11 Calamus platyacanthus Warb. ex Becc.
Nguồn: Lê Hùng Anh, 2018 [1]
55
Hình 3.3: Các loài thực vật quí hiếm trên đảo Cù Lao Chàm: Sơn Tuế ( ảnh trái), Lá Gấm (ảnh giữa), Bình Vôi ( ảnh phải) ( Nguồn: Lê Hùng Anh)
Hình 3.4: Các cây di sản Việt Nam trên đảo Cù Lao Chàm: cây Ngô đồng đỏ ( ảnh trái), cây đa 600 tuổi ( ảnh giữa) và cây Nánh ( ảnh phải) ( Nguồn: Chu Anh Dũng )
3.3.1.2. Thành phần loài thú
Trước khi được UNESCO công nhận là Khu DTSQ thế giới (trước năm 2009), mức độ đa dạng sinh học động vật trên đảo Cù Lao Chàm mới được biết đến có 12 loài thú, 13 loài chim, 130 loài bò sát và 5 loài ếch nhái. Trong số này đáng chú ý có khỉ đuôi dài và chim yến là 2 loài đã được đưa vào Sách Đỏ động vật Việt Nam.
Qua kết quả các đợt khảo sát vào năm 2017 và 2018 cũng như tổng hợp các tài liệu [2,3,5], đã ghi nhận trên đảo Cù Lao Chàm có 32 loài thú (trong đó 17 loài có mẫu và quan sát trực tiếp; 15 loài được phỏng vấn qua người dân và các tổ chức) thuộc 18 họ, 8 bộ (xem tại phụ lục 2). Phân tích thành phần loài thú ở Cù Lao Chàm cho thấy các loài thú thuộc bộ Gậm nhấm chiếm ưu thế với 13 loài (chiếm 40,62 %
56
); bộ Dơi có 8 loài (chiếm 25% ); bộ Ăn thịt có 5 loài (chiếm 15,62% ), bộ Linh trưởng có 2 loài (chiếm 6,25%); các bộ Chuột chù, bộ Nhiều răng, bộ Móng guốc chẵn, bộ Tê tê mỗi bộ có 1 loài (chiếm 3,12% ). Đây là cấu trúc thường gặp của khu hệ thú ở các khu vực rừng trên đảo ven biển khác của Việt Nam.
Về thành phần nhóm loài thú quí hiếm đã xác định được 6 loài cần được bảo vệ, đó là Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus ), Khỉ vàng (Macaca mulatta ), Mèo rừng (Prionailirus bengalensis ), Rái cá vuốt bé ( Aonyx cinerea ), rái cá lông mượt (Lutra perspicilata), sóc đen (Ratufa bicolor ), Tê tê Java (Manis javanica).
3.3.1.3. Thành phần loài chim
Qua kết quả các đợt khảo sát năm 2017 và 2018 [1] và tổng hợp các tài liệu đã nghiên cứu trước đây [27] đã thống kê được ở Cù Lao Chàm có 66 loài chim thuộc 25 họ, 13 bộ. Về thành phần nhóm loài chim nguy cấp, quí hiếm đã xác định có 6 loài; Trong đó: Theo Sách Đỏ Việt Nam 2007 có 02 loài ở bậc phân hạng sẽ nguy cấp (VU) là Diều cá bé ( Ichthyophaga humilis), Bói cá lớn – (Megaceryle lugubris) và 01 loài ở bậc nguy cấp (EN) là Ác là (Pica pica). Theo IUCN có 4 loài chim ở mức độ gần bị đe dọa (NT) đến sẽ nguy cấp (VU), bao gồm: Diều cá bé (Ichthyophaga humilis); Bồng chanh (Alcedo hercules), Chích đuôi dài (Graminicola bengalensis) ở bậc gần bị đe dọa (NT); Loài Đại bàng biển bụng trắng ( Haliaeetus leucogaster) ở bậc sẽ nguy cấp (VU) (bảng 3.3).
Bảng 3.3: Danh sách các loài chim quí hiếm tại Cù Lao Chàm
STT Tên khoa hoc Tên Việt SĐVN 2007 IUCN 2018
Nam
Ichthyophaga humilis Diều cá bé VU NT 1
Haliaeetus leucogaster VU 2
Alcedo hercules Đại bàng biển bụng trắng Bồng chanh NT 3
Megaceryle lugubris Bói cá lớn VU 4
Pica pica Ác là EN 5
6 NT Graminicola bengalensis Chích đuôi dài Nguồn : Lê Hùng Anh, 2018
3.3.1.4 Thành phần loài bò sát và ếch nhái
Ở quần đảo Cù Lao Chàm: Kết quả khảo sát, phân tích mẫu vật và tổng hợp các tài liệu có liên quan [1], đã ghi nhận 50 loài bò sát và ếch nhái ( xem tại phụ lục
57
3); trong đó 12 loài ếch nhái thuộc 9 giống, 5 họ, 1 bộ và 38 loài bò sát thuộc 29 giống, 15 họ, 2 bộ. Trong số 50 loài bò sát và ếch nhái; trong đó họ Rắn nước (Colubridae) đa dạng nhất với 12 loài; họ Tắc kè (Gekkonidae) 7 loài; họ Ếch nhái (Dicroglossidae) 6 loài; họ Cóc (Bufonidae), họ Thằn lằn (Lacertidae), họ Kỳ đà (Varanidae), họ Rắn giun (Typhlopidae), họ Rắn hai đầu (Cylindrophiidae), họ Rắn mống (Xenopeltidae), họ Rắn nước (Natricidae) và họ Vích (Cheloniidae) đều chỉ có 1 loài. Và cũng trong 50 loài bò sát và ếch nhái ghi nhận ở Cù Lao Chàm thì có 12 loài thuộc diện quí hiếm, đặc hữu theo các Nghị định, Sách đỏ và Danh lục đỏ (bảng 3.4 ).
Bảng 3.4: Danh sách các loài lưỡng cư và bò sát quý hiếm ở quần đảo Cù Lao Chàm
IUCN
SĐVN
NĐ32
Đặc
TT Tên khoa học
Tên Việt Nam
2017
2007
2006
hữu
1.
Limnonectes poilani
Ếch poi lan
2
2. Leiolepis guentherpetersi Nhông cát sọc
1
Gekko gecko
Tắc kè
VU
3.
Varanus salvator
Kỳ đà hoa
EN
IIB
4.
Cylindrophis jodiae
Rắn trun jo di
5.
6. Coelognathus radiatus
Rắn sọc dưa
VU
IIB
Rắn kiếm
7. Oligodon cf. saintgironsi
1
saitgirons
8. Ologodon culaochamensis Rắn kiếm cù lao
2
chàm
Ptyas korros
Rắn ráo thường
EN
9.
Bungarus fasciatus
Rắn cạp nong
EN
IIB
10.
Naja kaouthia
Rắn hổ mang
EN
IIB
11.
một mắt kính
12.
Chelonia mydas
Vích
EN
EN
1
Nguồn : Lê Hùng Anh, 2018
Ghi chú: SĐVN (2007) = Sách Đỏ Việt Nam, (2007): VU = sẽ nguy cấp, EN
= nguy cấp. IUCN (2017) = Danh lục Đỏ IUCN (2017): VU = sẽ nguy cấp, EN =
58
nguy cấp; NĐ32/2006/NĐ–CP (2006) = Nghị định 32 của Chính phủ: Nhóm IIB:
Hạn chế khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại; Đặc hữu: 1 = Việt Nam, 2 =
Đông Dương
3.3.1.5. Thành phần tuyến trùng đất
Qua nghiên cứu sơ bộ thành phần tuyến trùng ký sinh thực vật ở Cù Lao
Chàm xác định gồm 33 loài thuộc 4 bộ, 10 họ và 18 giống tuyến trùng. Như vậy,
đều có hết các đại diện của các Bộ tuyến trùng ký sinh thực vật Việt Nam. Trong đó
01 loài mới (Geocenamus vietnamensis sp.n., 2019) được công bố cho khoa học
năm 2019 [1].
3.1.2. Hệ sinh thái vùng triều, bờ đá
Hầu hết các hệ sinh thái vùng triều, vùng nước quanh các đảo là các hệ sinh
thái có mức đa dạng sinh học phong phú với các nhóm giáp xác, thân mềm, da gai,
vích, đồi mồi, bò biển.... rất phát triển, đa dạng về thành phần loài cũng như phong
phú về số lượng.
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay và qua hai đợt khảo sát
vào tháng 05/2017 và tháng 01/ 2018 tại Cù Lao Chàm [1], đã ghi nhận 239 loài
động vật quanh đảo Cù Lao Chàm thuộc 3 ngành (Thân mềm, Da gai và giáp xác),
12 lớp, 33 bộ, 102 họ, 192 giống. Trong đó, ngành thân mềm chiếm ưu thế với 211
loài, tiếp đến là chân khớp có 23 loài, da gai có 5 loài. Tuy nhiên theo kết quả của
Ban Quản lý Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An [5], Khu vực Cù Lao Chàm có
276 loài; trong đó có 156 loài thân mềm, 71 loài giun, 24 loài giáp xác và 22 loài da
gai. Theo nhận định, số lượng loài động vật ở đây chắc chắn sẽ nhiều hơn nếu một
số nhóm được tập trung nghiên cứu nhiều hơn như lớp giun nhiều tơ và ngành da
gai.
Trên suối nước ngọt tại đảo Cù Lao Chàm, cũng đã ghi nhận được 4 loài tôm
(Caridina gracilipes, Caridina sp.2, Macrobrachium hainanense, Macrobrachium
lar) và 1 loài cua (Balssipotamon ungulatum). Đặc biệt, loài tôm Macrobrachium
59
lar là loài mới được ghi nhận cho Việt Nam (hình 3.5) . Đây là dẫn liệu đầu tiên về
thành phần loài tôm nước ngọt trên đảo Cù Lao Chàm.
Hình 3. 5: Loài tôm càng Macrobrachium lar, ghi nhận mới cho Việt Nam, thu được trên suối nước ngọt ở đảo Cù Lao Chàm năm 2018 (ảnh trái) và Loài cua đá (Gecarcoidea lalandii) thu được trên đảo hòn Tai (ảnh phải) (Nguồn: Lê Hùng Anh)
3.1.3.Hệ sinh thái rạn san hô
Hệ sinh thái rạn san hô (RSH) tại quần đảo Cù Lao Chàm phân bố chủ yếu
tại các khu vực xung quanh đảo với độ sâu không quá 14m nơi có nguồn nước và môi trường thuận lợi cho các loài san hô phát triển.
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu về khảo sát đa dạng sinh học tại Cù Lao
Chàm từ trước đến nay [11, 16, 19] đã ghi nhận 158 loài san hô cứng thuộc 38
giống và 13 họ và 8 giống san hô không tạo rạn (bao gồm san hô xanh, san hô hình
thuỷ tức và san hô mềm) phân bố trên diện tích khoảng 356 ha là nơi ẩn nấp, bắt
mồi, sinh trưởng, sinh sản để duy trì và phát triển nguồn lợi của các loài thủy sản
như cá, giáp xác, nhuyễn thể, da gai…. Trong đó, họ san hô Faviidae có số lượng
loài lớn nhất, 48 loài chiếm 30,4%, tiếp theo là họ Acroporidae có 45 loài, chiếm 28,5%, đứng thứ 3 là họ Poritidae có 18 loài chiếm 11,4%. Các họ còn lại có số loài giao động từ 2-9 loài (chiếm 1,3 - 5,7%) (Bảng 3.5).
Hệ sinh thái rạn san hô tại Cù Lao Chàm rất tốt, không có dấu hiệu bị chết trong thời gian gần đây. Về thành phần loài và độ phủ tương đối cao, diện tích phân bố của san hô mềm (san hô không tạo rạn) lớn, tại nhiều khu vực chiếm ưu thế hơn
so với san hô cứng (san hô tạo rạn) (Hình 3.6).
60
Bảng 3.5: Thành phần loài san hô cứng quần đảo Cù Lao Chàm
STT Tên họ Số lượng giống Số lượng loài
1 Acroporidae 3 46
2 Agariciidae 2 5
3 Dendrophylliidae 1 3
4 Caryophylliidae 1 2
5 Faviidae 12 48
6 Fungiidae 5 6
7 Merulinidae 2 5
8 Oculinidae 1 3
9 Pocilloporidae 1 6
10 Siderastreidae 2 5
11 Poritidae 3 18
12 Pectinidae 2 2
13 Mussidae 3 9
Nguồn: Trần Quang Kiến, Nguyễn Văn Long, Chu Thế Cường [11,16,19]
Tổng 38 158
Tại đây cũng đã xác định được 133 loài, thuộc 35 họ và 79 giống cá RSH có
trong phạm vi Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm (bảng 3.6) [11]. Trong số các loài
đã được phát hiện, các họ số lượng loài lớn chủ yếu tập trung vào 3 họ chính là họ
cá Thia Pomacentridae (28 loài chiếm 21,05 %), họ cá Bướm Chaetodontidae (15
loài, 11,27 %) và họ cá Bàng Chài Labridae (14 loài, 10,52 %). Ngoài ra còn một số
họ chiếm tỷ lệ từ 3 % đến 6% như: họ cá mú Scaridae (7 loài, 5,25 %), họ cá Mó
Serranidae (6 loài, 4,51 %), họ cá Sơn Apogonidae 5 loài ( 3,75 %), họ cá Sạo
Haemulidae, cá Lượng Nemipteridae, cá Dìa Siganidae cùng có số lượng loài là 4
loài và chiếm 3% tổng số loài/họ. Trong số 133 loài bắt gặp tại Cù Lao Chàm, có 2
loài cá Bàng Chài Bodianus axillaris và Thalasoma lunare ở cấp độ có nguy cơ
tuyệt chủng lớn (VU) cần được đặc biệt chú ý bảo tồn.
61
Bảng 3.6: Số lượng thành phần loài cá rạn san hô tại Cù Lao Chàm
STT Bộ Họ Giống loài
1 Anguilliformes 3 5 5
2 Beryciformes 1 3 3
3 Gobiesociforme 1 1 1
4 Perciformes 24 59 113
5 Tetraodontiformes 4 8 8
Nguồn: Chu Thế Cường [11]
6 Syngnathiformes 2 3 3
Hình 3.6: Khảo sát hệ sinh thái san hô quần đảo Cù Lao Chàm ( Nguồn: Chu Thế Cường)
Cũng ở vùng RSH của quần đảo Cù Lao Chàm, kết quả phân tích mẫu động vật
đáy cỡ lớn tại 5 RSH ( Bến Lăng – Hòn Dài, Vũng Thùng – Hòn Tai, Đá Bao – Hòn
Lá, Bãi Bắc – Cù Lao Chàm, Sẻo Mô – Hòn Mồ) đã xác định được 58 loài (xem phụ
lục 4) ; Trong đó, ngành thân mềm (Mollusca) có 47 loài, 19 họ thuộc 2 lớp (Lớp Hai
mảnh vỏ Bivalvia và lớp Chân Bụng Gastrospoda), ngành da gai (Echinodermata) có
11 loài, 7 họ thuộc 4 lớp (Hải Sâm, Sao biển, Huệ biển, Cầu gai) [11, 39].
Động vật đáy tại rạn san hô vùng biển Cù Lao Chàm phân bố chủ yếu tại đới
mặt bằng rạn, các loài thường gặp là Sò đá (Barbatia foliata), Hàu lá (Magallana
62
nippona), Trai ngọc môi đen (Pinctada margaritifera), Trai (Pteria tortirostris), Ốc
sứ (Cypraea arabica), Ốc miệng tím (Coralliophila violacea), Ốc gai (Thalessa
virgata), Sên biển (Phyllidia elegans), Ốc bàn tay (Lambis lambis, Lambis
scorpius), Ốc đụn cái (Tectus pyramis), Ốc đụn (Trochus maculatus), Ốc mặt trăng
(Turbo chrysostomus,) loài Sao biển (Echinaster luzonicus, Ophiomastix janualis),
Huệ biển (Anneissia bennetti). Tại đới sườn dốc các loài thân mềm phân bố thưa
dần, loài thường gặp là Bàn mai (Pinna muricata, Pinna bicolor), Hải sâm
(Holothuria (Halodeima) edulis).
Trong tổng số các loài trên, các loài trai Tai tượng (Tridacna squamosa) là
loài động vật quí hiếm nằm trong Danh mục Sách đỏ Việt Nam. Trai ngọc môi đen
(Pinctada margaritifera), Ốc đụn đực (Tectus pyramis), ốc bàn tay (Lambis lambis,
Lambis scorpius) là những loài có giá trị kinh tế ở Việt Nam. Một số loài khác như
Ốc mặt trăng (Turbo chrysostomus), Ốc đụn )Trochus maculatus, Tectus pyramis_,
hiện cũng đang được khai thác để bán cho khách du lịch với sản lượng tương đối
lớn. Do vậy cần bảo tồn đa da dạng sinh học, hạn chế khai thác đảm bảo phát triển
bền vững nguồn lợi sinh vật đáy tại vùng biển này.
3.1.4. Hệ sinh thái cỏ biển
Theo kết quả khảo sát tháng 6/2017 [11], cỏ biển tại đây chỉ thấy phân bố
chủ yếu tại Bãi Bắc và Bãi Nằn trên nền đáy cát bùn, ở độ sâu từ 1,5 - 6m nước, với
độ phủ không đồng đều từ 5 đến 50% trên diện tích khoảng 15 ha, sinh khối trung bình đạt 10,4 ± 1,1 gam khô/m2 (hình 3.6). Tại Bãi Nằn đã phát hiện 3 loài cỏ biển
là cỏ Xoan đơn Halophila decipiens), cỏ Xoan (Halophila ovalis) và cỏ Hẹ tròn
(Halodule pinifonia), trong đó loài cỏ Xoan đơn (H. decipiens) chiếm ưu thế, độ
phủ lên đến 50% trên diện tích 5ha. Bãi Bắc là khu vực có hệ sinh thái cỏ biển phát
triển tốt nhất, độ phủ cao, diện tích lớn khoảng 10 ha và có 4 loài được phát hiện tại
đây bao gồm cỏ Xoan (Halophila ovalis) cỏ Xoan đơn (H. decipiens), cỏ Hẹ tròn (
Halodule pinifonia) và cỏ Hẹ ba răng (Halodule uninervis). Loài chiếm ưu thế là cỏ
Xoan (Halophila ovalis), nhưng sát bờ có một thảm cỏ Hẹ ba răng (Halodule
uninervis) mọc dày đặc, độ phủ cao lên đến 70%. Bãi Xếp chỉ có sự phân bố của
63
loài cỏ Kiệu tròn (Cymodocea rotundata) nhưng diện tích không lớn, chỉ phân bố
vùng ven bờ độ sâu 1-2 m.
Hệ sinh thái thảm cỏ biển tại Cù Lao Chàm đang bị tác động nghiêm trọng do các hoạt động du lịch, phát triển các công trình cảng, làm đường giao thông trên
đảo, xâu dựng các khu du lịch khiến thảm cỏ biển ở một số nơi đã bị biến mất. Theo
số liệu nghiên cứu trước đây vào các năm 2006, 2007 [28, 45] bắt gặp cỏ biển ở các
khu vực Bãi Bắc, Bãi Nằn, Bãi Ông, Bãi Chồng, Bãi Bìm và Bãi Hương với diện
tích khoảng 50ha, thì đến nay chỉ còn bắt gặp cỏ biển phân bố tương đối tốt ở Bãi
Bắc và Bãi Nằn với diện tích 15ha. Đây thực sự là tình trạng đáng báo động cần có
giải pháp khắc phục.
3.1.5. Hệ sinh thái rong biển
Cùng với san hô, quần xã rong biển tại Cù Lao Chàm phân bố gần với các
RSH, chung sống chủ yếu trên các tảng đá, rạn ngầm, vách đá từ vùng triều đến
vùng dưới triều thường ở độ sâu 4m – 5m. Kết quả khảo sát tại 3 điểm : Hòn Mồ,
vụng Đông Bắc, Vụng Hương vào tháng 7/2017 và thống kê các kết quả điều tra
trước đây đã xác định được 82 loài rong biển thuộc 4 ngành : rong Lam, rong Đỏ,
rong Nâu và rong Lục. Trong số đó, rong Lam (Cyanophyta) có 7 loài (chiếm 8,5%
tổng số loài); rong Đỏ (Rhodophyta) 49 loài (59,7%); rong Nâu (Phaeophyta) 16
loài, (19,5%) và rong Lục (Chlorophyta) 10 loài (12,3%) [11] ( danh lục rong biển
xem phụ lục 5).
Trong số 82 loài rong biển đã phát hiện được ở Cù Lao Chàm, có 31 lượt loài
phân bố ở vùng triều (chiếm 31,6 % tổng số lượt loài), 67 lượt loài phân bố ở vùng
dưới triều (chiếm 68,4%); trong đó có 19 loài phân bố ở cả vùng triều và dưới triều.
Nhìn chung, các loài rong biển vùng nghiên cứu chủ yếu ở phần dưới triều (độ sâu
khoảng 10 m trở lại).
Các thảm rong biển giữ vai trò quan trọng, là nơi trú ẩn, bắt mồi và đây cũng chính là những giá thể để các loài sinh vật đẻ trứng, sau đó trứng nở ra ấu trùng và phát triển thành con non vẫn sống quanh quẩn tại các thảm rong biển trước khi vươn ra các vùng biển rộng lớn hơn.
64
Hình 3.7: Cỏ biển Cù Lao Chàm (Nguồn: Chu Thế Cường)
CBHD: PGS.TS Uông Đình Khanh
Người thành lập: Chu Anh Dũng
(A - Halophila decipiens tại Bãi Nần; B - Halophila ovalis tại Bãi Bắc; C - Halophila ovalis và Halodule pinofonia mọc xen kẽ tại Bãi Bắc; D - Halodule uninervis và Cymodocea rotundata mọc xen kẽ tại Bãi Bắc
Hình 3.8: Bản đồ đa dạng sinh học tổng thể vùng đảo Cù Lao Chàm
65
CBHD: PGS.TS Uông Đình Khanh
Người thành lập: Chu Anh Dũng
Hình 3.9: Bản đồ đa dạng sinh học chi tiết vùng đảo Cù Lao Chàm
3.2 HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ, KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN
GÂY SUY THOÁI ĐA DẠNG SINH HỌC Ở KHU BẢO TỒN BIỂN CÙ LAO
CHÀM
3.2.1 Thực trạng khai thác, sử dụng tài nguyên ĐDSH
Cù Lao Chàm được xem là bến đỗ và ngư trường quan trọng trong chiến lược
phát triển của tỉnh Quảng Nam. Trong thời kỳ gió mùa Đông Bắc và Tây Nam, các loài cá sống nổi và cá đáy tụ tập tạo nên một số ngư trường chính ngoài khơi phía Bắc và Đông của quần đảo. Các đối tượng nguồn lợi được khai thác trong khu vực chủ yếu là cá, mực nang, mực lá, tôm, tôm hùm, các loài thuộc lớp chân bụng và
trai, sò.
Cá là đối tượng chính trong tổng sản lượng đánh bắt hàng năm. Có khoảng 50 loài thuộc các họ cá Khế, cá Thu, cá Ngừ, cá Mú, cá Hồng, cá Hè, cá Cơm và cá
Nục.
66
Nghề cá rạn ở Cù Lao Chàm cũng rất đa dạng với nhiều chủng loại được khai thác bởi nhiều loại ngư cụ khác nhau bao gồm lặn ống hơi, lưới vây, lưới cản,
mành đèn, lưới rê, câu dàn, bẫy mực.
Khai thác nguồn lợi trên các rạn san hô diễn ra khắp nơi xung quanh đảo.
Nhiều loài cá rạn có giá trị thương mại như cá Mú, cá Hồng, cá Kẽm, cá Hè, cá Mó và cá Bò Da được khai thác nhiều do có nhu cầu lớn. Theo ngư dân địa phương cho
biết khai thác cá rạn với mức độ cao tập trung tại khu vực Hòn Tai và vùng biển
phía Đông của Cù Lao Chàm. Các nhóm cá kích thước lớn có giá trị thương mại cao
như cá Mú (Serranidae), cá Hè (Lethrinidae) và cá Hồng (Lutjanidae) đang bị khai
thác cạn kiệt, số lượng còn rất ít, kích thước tương đối nhỏ, điều này phản ánh một
áp lực đánh bắt lớn đối với nguồn lợi thủy sản của vùng biển Cù Lao Chàm.
Khai thác các loài thân mềm (mực nang, mực lá, mực ống) cũng đem lại
nguồn thu nhập đáng kể. Khai thác mực diễn ra tại hầu hết các địa điểm trong quần
đảo, trong đó mực lá là đối tượng được khai thác ở mức độ cao tập trung ở khu vực
Hòn Lá, Hòn Mồ, Tây Bắc Cù Lao Chàm và Hòn Tai. Một số loài tôm, trong đó
phổ biến là tôm sú cũng được đánh bắt trong khu vực này. Các loài tôm hùm (4 loài
tôm hùm) cũng được khai thác chủ yếu ở phía Đông của Cù Lao Chàm để xuất khẩu
và tiêu thụ nội địa. Việc thu thập giống tôm hùm bông (hình 3.10) trên các rạn san
hô tập trung chủ yếu tại Hòn Lá cũng đã bắt đầu trong khu vực trong khoảng 10
năm trở lại đây để cung cấp một lượng lớn tôm hùm giống cho nghề nuôi tôm hùm
lồng. Trai tai tượng (có ít nhất 03 loài) đã được khai thác để bán và tiêu thụ tại địa
phương.
Các loài chân bụng và các loài hai mảnh vỏ cũng được đánh bắt tập trung ở Hòn Khô, Bắc Hòn Lá và phía Đông Cù Lao Chàm. Trong số đó Bào ngư bầu dục,
Bào ngư vành tai được xem là loài có giá trị thương mại cao. Ốc Tù và, ốc Đụn,
Trai ngọc và Ốc Mặt Trăng cũng được khai thác bởi có giá trị cao. Các loài hải sâm có giá trị thực phẩm cũng được đánh bắt ở các rạn xung quanh quần đảo Cù Lao Chàm (hình 3.11).
67
Hình 3.10: Khai thác hải sản trong đó có cả tôm hùm bông ở Khu BTB Cù Lao Chàm Hình 3.11: Khai thác hải sâm ở khu BTB Cù Lao Chàm (Nguồn: Uông Đình Khanh) (Nguồn: Lê Hùng Anh)
Các nguồn lợi khác trên các rạn san hô cũng bị khai thác cạn kiệt và nhiều loài
có giá trị thương mại cao đang trở nên khan hiếm, bị đe dọa và có nguy cơ tuyệt
chủng. Cụ thể qua kết quả khảo sát cho thấy có 02 loài của trai tai tượng và 01 loài
của trai ngọc môi vàng đang tiến tới bị đe dọa nghiêm trọng. Ốc tù và hiện nay
không tìm thấy tại các rạn san hô, nhưng loài này trong quá khứ từng được các ngư
dân địa phương bắt đước thường xuyên. Bào ngư bầu dục (Haliotis Ovina) và tôm
hùm (Panulirusspp) vẫn được tìm thấy trên rạn nhưng số lượng của mỗi loài là rất
thấp.
Rùa biển trên các các bãi cát nhỏ ven đảo Cù Lao Chàm như Bãi Bấc, Bãi Ông, Bãi Làng, Bãi Chồng, Bãi Bìm, Bãi Hương (có chiều dài không quá 1km) là
những sinh cảnh quan trọng. Hầu hết các bãi cát này đều có thảm cỏ biển phân bố
và theo các ngư dân địa phương, trong quá khứ các bãi này là nơi làm tổ đẻ trứng
của rùa biển. Tuy nhiên trong khoảng 15 năm trở lại đây không tìm thấy rùa biển tại
các bãi này và điều này theo nhận định là do khai thác quá mức và sự xáo trộn môi
trường sống.
Qua kết quả điều tra cũng cho thấy mặc dù số lượng sao gai biển hiện diện trên rạn san hô Cù Lao Chàm không nhiều nhưng chúng có thể gây tổn hại nghiệm trọng tới quần xã san hô thông qua quá trình di chuyển của các cá thể trưởng thành và sự phát tán ấu trùng trôi nổi. Điều này có thể gây ra sự hủy hoại nghiêm trọng
cho các rạn san hô ở quần đảo Cù Lao Chàm.
Khai thác các nguồn lợi trên cạn cũng là vấn đề cần được quan tâm, cụ thể:
68
- Cua đá Cù Lao Chàm là một trong những đặc sản của địa phương. Cua đá gặp ở Cù Lao Chàm, Hòn Tai, Hòn Dài, Hòn Lá, Hòn Mồ, Hòn Ông; trong đó đảo
Cù Lao Chàm là nơi cua đá tập trung nhiều nhất. Cua đá cư trú ở hang nền đất và
hang nền đá. Mùa sinh sản từ tháng 6 đến tháng 9, còn từ tháng 10 đến tháng 12 là
thời gian cua lột xác. Trước đây người ta chỉ khai thác cua đá từ tháng 2 đến tháng 5, song do nhu cầu tiêu thụ của khách du lịch quá lớn, cua đá đã bị khai thác quanh
năm (cả vào mùa sinh sản và mùa lột xác), khiến sản lượng đã bị suy giảm nghiêm trọng, kích thước cua khai thác ngày càng nhỏ so với trước đây (hình 3.12)
Hình 3.12: Khai thác cua đá đảo Cù Lao Chàm Hình 3.13: Khai thác sản phẩm lá, cây rừng bán cho du khách (Nguồn: Uông Đình Khanh)
(Nguồn: Uông Đình Khanh) - Khai thác cây rừng làm thuốc và rau rừng tại Cù Lao Chàm cung cấp cho đời
sống người dân địa phương, và chế biến thành hàng hóa bán cho khách du lịch cũng
có nguy cơ cạn kiệt, đặc biệt trong bối cảnh số lượng khách du lịch ra đảo gia tăng
theo thời gian (hình 3.13).
3.2.2 Công tác quản lý bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học
3.2.2.1. Các khung pháp lý trong công tác bảo tồn
Trước khi thành lập Khu BTB Cù Lao Chàm, nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm nguồn lợi là sự phối kết hợp trong quản lý nguồn lợi TNTN chưa đủ mạnh. Các lực lượng chức năng như công an xã, biên phòng, kiểm ngư, dân quân xã chưa
có sự phối kết hợp chặt chẽ và hỗ trợ nhau trong công tác tuần tra, kiểm soát, quản lý và bảo vệ và chưa thuyết phục được cộng đồng tham gia bảo vệ nguồn lợi tự nhiên.
Năm 2006 là năm bản lề chuyển biến mạnh mẽ trong bảo tồn biển tại Cù Lao Chàm khi Quy hoạch phân vùng chức năng để bảo vệ, khai thác hợp lý được UBND
phê chuẩn, các tổ chức cộng đồng được thành lập để thực thi.
69
Tuy nhiên, do mới được thành lập và chưa có một khung pháp lý, cũng như một mô hình mẫu về quản lý Khu BTB đã được thể chế hoá ở Việt Nam, nên quản
lý Khu BTB cũng như công tác bảo tồn ĐDSH còn gặp nhiều khó khăn. Nguồn tài
chính không đủ và bền vững cho hoạt động bảo tồn biển cũng là một điểm yếu trong
việc triển khai thực thi công tác quản lý bảo tồn biển ở Cù Lao Chàm. Sự quản lý chồng chéo ở Khu BTB Cù Lao Chàm cũng là một điểm yếu có thể gây khó khăn
cho công tác quản lý bảo tồn biển ở đây. Các phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt nằm rải rác cách xa nhau trong Khu BTB Cù Lao Chàm cũng gây khó khăn và tốn kém
cho công tác quản lý. Đội tuần tra bảo tồn biển được thành lập đã tăng cường khả
năng quản lý và bảo vệ các vùng chức năng và mang lại một số kết quả nhất định
như nhận xét củacộng đồng. Tuy nhiên, đội tuần tra chỉ mới thể hiện chức năng tuần
tra, ngăn chặn các vi phạm trong khu vực bảo tồn, chưa kêu gọi được cộng đồng tham gia trong công tác bảo vệ nguồn lợi, chưa thực hiện được chương trình giám
sát, quan trắc nguồn lợi tài nguyên và môi trường. Tuy nhiên, trong những năm gần
đây, Ban quản lý Khu BTB cùng với cộng đồng dân cư địa phương đã tham gia tích
cực vào hoạt động bảo tồn ĐDSH và phát triển kinh tế, sinh kế thay thế tại địa
phương. Thông qua phương thức đồng quản lý, cộng đồng dân cư địa phương đã có
những cách tiếp cận mới về quản lý ĐDSH trên cơ sở HST, do đó công tác bảo tồn
ĐDSH ở đảo Cù Lao Chàm đã có những chuyển biến. Việc áp dụng mô hình đồng
quản lý tại Bãi Hương đã đạt được những kết quả tốt, từng bước khắc phục được
những tác động xấu, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học đảo Cù Lao Chàm, bên cạnh
đó còn đáp ứng được nguyện vọng của cộng đồng ngư dân trong việc hướng đến
quyền làm chủ và trách nhiệm đối với tài nguyên, nguồn lợi hải sản của chính họ. Họ sẽ được ưu tiên khai thác trên một số vùng bờ mà các phương tiện ở địa phương
khác sẽ bị hạn chế khai thác nhưng phải có sự phối hợp bảo vệ ở các vùng ngư
trường nhạy cảm với san hô và thảm cỏ biển.
3.2.2.2. Nguồn lực
- Nguồn lực con người: được phản ánh qua trình độ học vấn và sức khỏe. Theo khảo sát năm 2005, khoảng 1/3 tổng số các chủ hộ gia đình ở Cù Lao Chàm chỉ có trình độ văn hóa cấp 2 và khoảng 40% không có học vấn.
Bên cạnh đó, trình độ nghề nghiệp khác như kinh nghiệm và kiến thức về
đánh bắt hải sản trong hoạt động sinh kế tại Cù Lao Chàm cũng còn nhiều hạn chế.
Nắm bắt được những thuận lợi và hạn chế của nguồn lực con người, ngay từ những
ngày đầu, Khu BTB Cù Lao Chàm đã tập trung vào công tác nâng cao nhận thức và
70
đào tạo nâng cao năng lực cộng đồng.
Từ năm 2006 đến nay, nguồn lực con người của cộng đồng Cù Lao Chàm
được tiếp tục cải thiện và nâng cao thông qua các chương trình đào tạo và hỗ trợ
xây dựng mô hình trình diễn sinh kế tại địa phương.
- Nguồn lực tài chính: Vào những năm xây dựng Khu BTB Cù Lao Chàm, khoảng chừng 67% tổng số hộ gia đình đã vay vốn từ chương trình tín chấp tại địa
phương, hội đoàn thể, hoặc người thân và bạn bè. Trong thời gian từ 2006 đến
2013, nguồn lực tài chính đối với cộng đồng Cù Lao Chàm đã và đang được cải
thiện với nhiều cách tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng chính sách, hỗ trợ sinh kế
(Sinh kế cộng đồng trong và xung quanh các Khu BTB) với lãi suất ưu đãi.
Năm 2012, Ngân hàng Nông nghiệp đã đặt trạm giao dịch tại đảo, tạo điều
kiện thuận lợi cho bà con ngư dân vay và gửi tiền.
Theo thống kê trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến nay, dân số tại Cù
Lao Chàm không thay đổi lớn. Tuy nhiên, thành phần nghề nghiệp đã thay đổi
nhiều, nhất là các sinh kế mới ra đời cùng với sự phát triển của du lịch.
- Nguồn lực xã hội: là biểu tượng các mối quan hệ xã hội liên quan trong
phát triển DLST Cù Lao Chàm. Các mô hình có sự tham gia của cộng đồng là điểm
nổi bật của nguồn lực xã hội.
Các nguồn lực xã hội đã trợ giúp và cung cấp tài chính cho hộ gia đình. Ví
dụ: Thông qua Hội nông dân xã Tân Hiệp Dự án bảo vệ cua Đá được tiến hành,
thông qua Đoàn Thanh niên Dự án dào tạo thuyết minh viên cho thanh niên được
triển khai, thông qua Hội Liên hiệp phụ nữ các chương trình vốn vay và homestay
được thực hiện hiệu quả.
3.2.2.3. Giám sát và đánh giá môi trường định kỳ
- Giám sát chất lượng nước biển ven bờ trong khu bảo tồn: Nước biển ven bờ trong khu BTB được giám sát tại 19 điểm trải đều khắp các vùng rạn san hô. Giám sát sát chất lượng nước biển là hoạt đồng thường niên và được thực hiện theo hai mùa (mùa mưa và mùa khô).
- Giám sát HST rạn san hô và cỏ biển: HST rạn san hô và cỏ biển cùng các cộng đồng sinh vật biển đi kèm như cá rạn, nhuyễn thể, giáp sát,... được giám sát
theo định kỳ 3 năm một lần. Lần thứ nhất được đánh giá tổng thể vào mùa khô năm 2004. Lần thứ hai được giám sát đánh giá lại vào mùa khô năm 2008. Việc tiến
71
hành định kỳ các hoạt động giám sát môi trường và nguồn lợi sẽ giúp cho Khu BTB có thể đánh giá được hiệu quả hoạt động quản lý và bảo tồn.
- Giám sát các vụ vi phạm: Tuần tra, giám sát các vụ vi phạm: Theo báo cáo
của Phòng Tuần tra và Kiểm soát- BQL Khu BTB Cù Lao Chàm, trong 6 tháng đầu
năm 2019 Phòng đã phối hợp với lực lượng Công an xã Tân Hiệp và Đồn Biên phòng Cù Lao Chàm triển khai 141 lượt tuần tra. Trong đó, tuần tra bằng đường bộ
48 lượt và đường biển là 93 đợt. Kết quả, đã phát hiện được 40 trường hợp vi phạm,
giảm gần 10 trường hợp so với cùng kỳ năm 2018. [46]
Các hoạt động vi phạm trong khai thác thủy sản:
- Khai thác bằng nghề lưới kéo (giã cào): 04 trường hợp;
- Lặn trong vùng cấm: 07 trường hợp;
- Khai thác bằng lưới vây: 13 trường hợp;
- Khai thác bằng lờ mực: 01 trường hợp.
- Khai thác bằng nghề pha xúc: 02 trường hợp;
- Mành chụp: 01 trường hợp;
- Chở khách câu cá trong vùng cấm: 03 trường hợp;
- Buôn bán tôm hùm nhỏ hơn kích thước quy định: 05 trường hợp;
- Khai thác tôm hùm nhỏ hơn kích thước quy định: 03 trường hợp;
Theo như thống kế trên, số lượt vi phạm của người dân địa phương vẫn còn
chiếm tỷ lệ cao. Thêm vào đó, các phương tiện bên ngoài như tỉnh Quảng Ngãi,
Khánh Hòa đến để khai thác trái phép trong khu BTB Cù Lao Chàm bằng các hình
thức hủy diệt như sử dụng thuốc nổ, chích điện, các hoạt động khai thác con giống
và sinh vật non, các nghề cào te đã gây chết các thảm cỏ, làm mất nơi cư trú của thủy sinh vật, làm giảm nguồn lợi thủy sản.
- Bộ chỉ thị Khu BTB Cù Lao Chàm: Để theo dõi sự phát triển cũng như tính hiệu quả của Khu BTB Cù Lao Chàm theo các mục tiêu và tầm nhìn đã đặt ra, một bộ chỉ thị ban đầu cần được hình thành trên cơ sở của các nội dung thảo luận với cộng đồng. Các chỉ thị cần được quan tâm đến Khu BTB Cù Lao Chàm là chất lượng nước
biển, vùng rạn san hô, thảm cỏ biển, tôm hùm, cua đá, ốc vú nàng, bãi biển, phát triển du lịch, đánh bắt thủy sản, các sinh kế thay thế, hiện trạng vi phạm quy chế. Các chỉ
72
thị này là đặc trưng cho hiện trạng hoạt động của Khu BTB Cù Lao Chàm.
Như vậy, có thể thấy rằng công tác bảo tồn ĐDSH tại khu BTB Cù Lao Chàm
đã có những chuyển biến khá tích cực từ năm 2006 đến nay. Tuy nhiên trước tình
hình phát triển rất nóng của hoạt động du lịch – dịch vụ và lượng khách thăm quan
trên đảo tăng nhanh (400.000 khách vào năm 2018) thì công tác bảo tồn ĐDSH, bảo vệ môi trường ở đây sẽ càng trở nên khó khăn hơn. Vì vậy cần tiếp tục triển khai các
mô hình, biện pháp nhằm thúc đẩy công tác bảo vệ ĐDSH cũng như giúp HST biển
phục hồi và hướng tới PTBV trong tương lai.
3.2.3 Các dạng tài nguyên đa dạng sinh học có nguy cơ suy thoái 3.2.3.1.Tôm hùm
Tôm hùm là loại động vật rất có giá trị ở Cù Lao Chàm. Hầu hết tôm hùm
sinh sống trong môi trường tự nhiên. Theo khảo sát của các nhà khoa học (Võ Sĩ
Tuấn và cộng sự, 2006)[45], vùng biển Cù Lao Chàm có 4 loài tôm hùm. Tuy nhiên
theo nhận định của các ngư dân địa phương ở Cù Lao Chàm có các loại như : tôm
hùm mốc, tôm hùm tre, tôm hùm da, tôm hùm bông, tôm hùm mũ ni, tôm hùm đỏ,
tôm hùm xanh và tôm hùm xô. Tôm hùm mốc thường tìm thấy ở độ sâu 10-60m,
với trọng lượng dao động từ 100g -2,0kg, nhưng phần lớn có trọng lượng 500g.
Tôm hùm đá thường thấy ở độ sâu 1-15m, với trọng lượng dao động 100g-2,0kg,
trung bình 500g. Tôm hùm da thường thấy ở độ sâu 1-15m; tôm hùm bông ở độ sâu
10-60m, tôm hùm mũ ni ở độ sâu 1-50m. Tôm hùm đỏ được bắt có trọng lương dao
động 100-500g, trung bình 100-200g. Tôm hùm xanh có trọng lượng 100g-1,0kg,
trung bình 200-300g. Tôm hùm xô tìm thấy có trọng lượng dao động từ 100g-3,0kg, trong bình 700g.
Khu vực sinh sống của tôm hùm ở các rạn san hô và thảm thực vật dưới biển
ở độ sâu từ 1-60m nước. Chúng được tìm thấy xung quanh các hòn đảo như: Hòn
Lá, Hòn Khô, Hòn Dài, Cù Lao Chàm, Hòn Tai, Hòn Mồ. Ngư dân thường đánh bắt tôm hùm có trọng lượng từ 100g trở lên, một số thợ lặn chỉ tập trung đánh bắt tôm hùm từ 500g trở lên. Tôm hùm được coi là trưởng thành khi chúng nặng từ 100g trở lên và trứng được tìm thấy quanh năm nhưng giai đoạn để trứng từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm.
Loại tôm hùm đánh bắt được nhiều nhất là tôm hùm xô, tôm hùm đỏ, tôm
hùm đá, tôm hùm mốc (hình 3.11). Trọng lượng tôm hùm khai thác được bình quân
1-2kg/con; ở Cù Lao Chàm tôm hùm lớn nhất ngư dân đã bắt được nặng 4,0kg.
73
Thời gian đánh bắt tôm hùm từ tháng 2 đến tháng 11, trong đó thời gian đánh bắt nhiều nhất từ tháng 2 đến tháng 4 và tháng 11; thời gian đánh bắt ít hơn từ tháng 6
đến tháng 9.
Hình 3.14: Tôm hùm vùng biển Cù Lao Chàm
( Nguồn: Chu Mạnh Trinh)
Theo kết quả điều tra của học viên vào đợt khảo sát năm 2017 cho thấy hiện
nay số người khai thác tôm hùm tại các khu vực Bãi Làng, Bãi Ông, thôn Cấm là 37
người, ở Bãi Hương là 16 người. Tuy nhiên số người thường xuyên lặn bắt tôm hùm
tại Cù Lao Chàm là 8 người, tôm hùm thường bị khai thác bởi nghề lặn, soi, lưới 3
lớp. Phỏng vấn nhanh người dân trên đảo Cù Lao Chàm cho thấy hiện nay tôm hùm
được thấy rất ít hoặc tìm thấy với kích thước tương đối nhỏ do các đối tượng tiêu
thụ tôm hùm ở Cù Lao Chàm là khách buôn, khách du lịch có nhu cầu rất lớn.
Bên cạnh đó số lượng tôm hùm hiện ít đi do có nhiều người dân ở địa
phương và ở các nơi khác đến lặn, soi, đánh lưới, dùng hóa chất để bắt, thậm chí
còn khai thác cả trong mùa cấm (hàng năm sản lượng tôm hùm được khai thác ở đảo Cù Lao Chàm đạt khoảng 14,9 tấn, trong đó có khoảng 23% tổng khối lượng tôm hùm là do ngư dân ở các địa phương khác như Quảng Ngãi, Bình Định…đến khai thác).
3.2.3.2 Ốc vú nàng
Ốc vú nàng ( Collisella striata) có một chấm trên vỏ và có đường viền xà cừ
bên trong. Chúng bám trên đá ở vùng triều ở độ sâu 1-6m, phân bố nhiều ở các đảo
Hòn tai, Cù Lao Chàm, Hòn Dài, Hòn Mồ và Hàn Lá. Ốc vú nàng có 2 loại kích cỡ,
74
loại lớn có đường kính từ 5-6cm, loại nhỏ có đường kính 1-2cm. Về trọng lượng trung bình khoảng 20g/con ốc vú nàng. Mùa vụ sinh sản của ốc vú nàng từ tháng 5
đến tháng 8.
Hiện nay tại Cù Lao Chàm có khoảng 38 người khai thác ốc vú nàng, tập
trung ở các thôn Bãi Ông, Bãi Làng, thôn Cấm. Theo người dân địa phương, ở Cù Lao Chàm có 02 loại ốc vú nàng, đó là ốc vú nàng hang và ốc vú nàng vú; trong đó
ốc vú nàng vú được khai thác nhiều nhất. Ốc vú nàng được khai thác ở mọi kích
thước, nhiều nhất là loại từ 5-6cm và ốc vú nàng lớn nhất đã được khai thác có
đường kính 10cm. Ốc vú nàng được khai thác từ tháng 2 đến tháng 8, thời gian khai
thác nhiều nhất từ tháng 4 đến tháng 6. Sản lượng khai thác bình quân từ 1,5-
3,0kg/người/ngày [25].
Ốc vú nàng thường được tiêu thụ bởi quán ăn phục vụ khách du lịch, người
dân địa phương. Hiện nay số lượng ốc vú nàng khai thác ngày càng ít đi và kích
thước khai thác cũng bé đi. Nguyên nhân do bị khai thác quá nhiều , kể cả các con
nhỏ và kể cả trong mùa sinh sản; do ô nhiễm môi trường (các vết dầu loang từ tàu,
thuyền bám vào đá khiến ốc chết)
3.2.3.3. Cua đá
Cua đá (Gecarcoidea lalandii) là một trong những động vật biển quan trọng
gắn liền với cuộc sống của người dân Cù Lao Chàm từ rất lâu và đóng góp vào sinh
kế của người dân Cù Lao Chàm. Trước đây người dân địa phương thỉnh thoảng bắt
cua đá làm thức ăn trong gia đình hoặc làm quà biếu trong đất liền. Ngày nay cua đá
đã trở thành một sản phẩm du lịch nổi tiếng, chính vì thế đang gặp nhiều nguy cơ cạn kiệt.
Cua đá Cù Lao Chàm tuy là động vật biển nhưng lại sống trong các hang đá
ở trên rừng. Khi trưởng thành cua đá len lỏi theo các dòng suối tìm về bờ đá ven biển đẻ trứng, trứng nở thành con, các cua con lại len theo ven suối lên rừng. Hàng năm cua đá cái mang trứng và sinh sản từ tháng 5 đến tháng 8.
Cua đá được khai thác tập trung vào tháng 7 và 8. Bắt cua đá hiện nay đang
là sinh kế của người dân, với số lượng người bắt cua đá lên tới con số 37 người,
trong đó số người thường xuyên bắt cua đá là 12 người. Số lượng cua đá bắt hàng
đêm dao động 10-30con/ người. Kích thước bình quân cua đá bắt được từ 9-10cm (
tính theo chiều dài mai cua), trong đó con lớn nhất từng khai thác được có kích
75
thước 17cm. Trước đây vào tháng 5 và 6 cua mang trứng người dân không bắt. Hiện
nay do nhu cầu tiêu thụ quá lớn (chủ yếu do lượng khách du lịch tăng cao), cua đá
bị khai thác quanh năm, trong đó tập trung nhiều từ tháng 4 đến tháng 8. Số người
đi bắt cua đá cũng tăng lên, một số người lên tận hang để bắt cua đá, khiến sản
lượng cua đá giảm tới 80% so với trước đây. Theo số liệu thống kê 2005, 70% cua
đá được bắt ở kích thước 7-9cm, số còn lại kích thước nhỏ hơn.Tuy nhiên hiện tại,
cua đá bắt phần lớn kích thước từ 4-7cm, thậm chí có cả con mang trứng khiến cho
cua đá có nguy cơ suy giảm.
Hình 3.15: Cua đá Cù Lao Chàm được dán nhãn sinh thái
( Ảnh Chu Mạnh Trinh)
3.2.3.4 Thảm cỏ biển
Thảm cỏ biển phân bố ở khu vực Bãi Làng, Bãi Ông, Bãi Hương, Bãi Bìm,
Bãi Chồng, Bãi Nần, Hòn Dài, Hòn Tai và thường phân bố cách bờ trung bình 50-
70m. Kết quả khảo sát ghi nhận 5 loài cỏ biển gồm: Halopila decipiens, Halopila
ovalis, Halodule pinifolia, Halodule univervis và Cymodocea rotundata, với tổng
diện tích khoảng 50ha, trong đó lớn nhất nằm ở Bãi Ông (20 ha).
Cỏ biển là những thực vật thủy sinh bậc cao, có hoa, sống trong môi trường
biển. Chức năng của cỏ biển trong thủy vực ven biển đa dạng cả về giá trị sinh thái
và kinh tế. Chức năng chính của thảm cỏ biển là ổn định đới bờ, góp phần chống sạt
lở bờ biển, thúc đẩy sự lắng đọng trầm tích và các vật chất hữu cơ, vô cơ, làm sạch
76
môi trường bị ô nhiễm. Đồng thời, các thảm cỏ là nơi sống cho một số động vật
trưởng thành và là vườn ươm cho các ấu trùng, trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế
cao; lá cỏ biển đem lại nguồn thức ăn trực tiếp cho các loài động vật ăn cỏ hay thực
vật biểu sinh; tham gia vào chu trình dinh dưỡng của hệ sinh thái, là một mắt xích
quan trọng trong lưới thức ăn… Thảm cỏ biển phát triển mạnh từ tháng 4 đến tháng
8 hàng năm, vào mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau cỏ biển kém phát triển.
Trong thảm cỏ biển thường gặp Hải Sâm và Bàn Mai và nhiều loài cá như cá liệt, cá
đục và đặc biệt đây là bãi đẻ của tôm, cá và các loài hải sản khác.
Hoạt động du lịch tại Cù Lao Chàm đã mang lại lợi ích lớn cho cộng đồng
dân cư địa phương và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch - thương
mại - dịch vụ. Theo thống kê của Ban quản lý (BQL) KBTB Cù Lao Chàm, lượng
khách du lịch đến đảo Cù Lao Chàm tăng mạnh trong giai đoạn từ năm 2007 - 2015.
Để phục vụ cho việc vận chuyển lượng hành khách này, tính đến ngày 31/12/2018
trên địa bàn TP. Hội An có 44 doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển khách tham
quan tuyến Hội An - Cù Lao Chàm với 146 phương tiện, trong đó có 140 phương
tiện ca nô, 6 tàu gỗ vận chuyển hàng hóa và hành khách đi Cù Lao Chàm, tập trung
chủ yếu tại bến tàu chính Bãi Ông và một số địa điểm du lịch tại Bãi Hương và Bãi
Bắc. Bên cạnh đó, việc phát triển các công trình, cải tạo tuyến giao thông trên đảo
đã gia tăng quá trình xói lở đất, vật liệu xây dựng đưa xuống bãi biển làm suy thoái
môi trường nước, tăng độ đục và lắng đọng trầm tích trên các thảm cỏ biển.
Do phân bố tại khu vực ven bờ, độ sâu không lớn nên các thảm cỏ biển
không thể chống chịu được với tác động của phương tiện vận chuyển khách du lịch
từ đất liền ra đảo (chủ yếu là xuồng cao tốc với công suất máy lớn). Mặc dù, không đủ số liệu thống kê để tính toán tương quan giữa diện tích thảm cỏ biển với số lượng khách du lịch đến Cù Lao Chàm, nhưng có thể thấy xu thế giảm đáng kể của diện tích thảm cỏ biển trong thời gian gần đây. Quan sát thực tế cũng cho thấy, các khu vực có hoạt động du lịch mạnh (số lượng ca nô, thuyền và khách du lịch) như Bãi Hương, Bãi Ông, Bãi Chồng và Bãi Bìm đã không phát hiện thảm cỏ biển trong đợt khảo sát (năm 2016 và 2017), chỉ còn 2 khu vực có cỏ biển phát triển tương đối
tốt là Bãi Nằn và Bãi Bắc với tổng diện tích chỉ còn 15ha (so với 50ha vào năm
2007)
77
3.2.4 Nguyên nhân gây suy thoái tài nguyên ĐDSH
3.2.4.1. Khai thác quá mức và không hợp lý
Tài nguyên vùng biển Cù Lao Chàm đã và đang bị khai thác quá mức bởi ngư
dân địa phương và các địa phương lân cận trong đất liền của tỉnh Quảng Nam,
Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Định. Áp lực đánh bắt đang tăng lên trong
khi sản lượng đánh bắt giảm xuống trên vài thập kỷ qua. Các thuyền đánh bắt hầu
hết là loại nhỏ với động cơ dưới 20CV nên chỉ đánh bắt ven bờ và vùng nước sâu
không quá 50m. Bên cạnh đó ghe thuyền của các địa phương lân cận trong và ngoài
tỉnh cũng thường xuyên đến Cù Lao Chàm với số lượng đông.
Kết quả điều tra và thống kê cho thấy Ở Cù Lao chàm có 03 vùng sinh thái
khác nhau. Vùng rạn gần bờ có sản lượng đánh bắt hàng năm khoảng 60 tấn, vùng
nền đáy bùn cát là 200 tấn và vùng nước sâu là 300 tấn. Nghề đánh bắt vùng nước
sâu là nghề mành, nghề câu; nghề lưới nổi cho vùng nền đáy bùn cát, còn nghề lặn
ở vùng rạn san hô. Hơn 80% dân cư Cù Lao Chàm làm nghề đánh bắt, phần còn lại
làm nông nghiệp, dịch vụ du lịch sinh thái. Nên có thể thấy nguồn sống của dân cư
Cù Lao Chàm sống dựa vào tài nguyên biển là chính. Một điều quan trọng là năng
lực đánh bắt của cư dân Cù Lao Chàm không cao. Năng lực đánh bắt xa bờ ra các
vùng nước sâu chỉ có 26,6%, còn lại phần lớn tập trung đánh bắt vùng nền đáy cát
và bùn chiếm 57,9% và vùng rạn gần bờ 9,7%.[11]
Hình thức khai thác nguồn lợi hải sản quanh vùng biển Cù Lao Chàm khá đa
dạng gồm có: giã cào, vó cất, mành đèn, lưới vây dùng đèn hoặc không dùng đèn,
lặn ống hơi, câu tay, câu giàn, lưới cản…
Lặn ống hơi là phương thức khai thác phổ biến trong vài thập kỷ qua để bắt
tôm hùm, cá mú. Trong những năm gần đây tôm hùm bông giống đã được nhiều thợ
lặn ống hơi khai thác để cung cấp cho nghề nuôi tôm hùm lồng. Tôm hùm khai thác
thường chưa đạt đến kích thước trưởng thành vì vậy nguồn lợi này bị khai thác quá
mức.
Ngoài khai thác quá mức, nguồn lợi thủy sản quanh khu BTB Cù Lao Chàm
ngày càng cạn kiệt còn do khai thác bất hợp lý và sự gia tăng cường độ khai thác, thậm chí sử dụng cả các phương pháp đánh bắt mang tính hủy diệt để khai thác tận thu nguồn lợi thủy sản ( chích điện).
78
3.2.4.2. Hoạt động phát triển kinh tế xã hội
Các hoạt động xây dựng ven bờ đảo Cù Lao Chàm, đặc biệt là bờ phía Tây
đảo diễn ra mạnh mẽ. Đó là xây dựng cảng cá, cầu cảng, xây dựng âu thuyền, xây dựng tuyến đường quanh đảo, xây dựng các khu nghỉ dưỡng trên đảo đã tạo ra số
lượng lớn trầm tích trong khu vực xung quanh và điều này gây ra ảnh hưởng cho sự
tồn tại của các rạn san hô và thảm cỏ biển và các hệ sinh thái (hình 3.12 và hình
3.13).
Vùng biển Cù Lao Chàm cũng chịu ảnh hưởng dòng chảy của sông Hàn ở phía
Bắc và sông Thu Bồn ở phía Nam. Sự phát triển công nghiệp, du lịch và các hoạt
động kinh tế dọc theo các bờ sông cũng đang tăng lên kéo theo đó là xả thải vào
môi trường cũng như trầm tích do xói mòn được sông mang ra cũng gây ra những
vấn đề môi trường cho khu vực Cù Lao Chàm.
Hình 3.16: Làm đường trên đảo Hình 3.17: Đào san lấp mặt bằng làm khu du lịch sinh thái tại Bãi Bìm ( Nguồn: Uông Đình Khanh) (Nguồn: Uông Đình Khanh)
- Hoạt động của tàu bè: Mật độ tàu bè qua lại vùng biển Cù Lao Chàm cao gây
tác động lên môi trường biển thông qua thải dầu, neo đậu tàu thuyền trên các rạn san
hô và cỏ biển. Đặc biệt là hoạt động tàu thuyền và ca nô phục vụ vận chuyển khách
thăm đảo Cù Lao Chàm. Tính đến ngày 31/12/2018 trên địa bàn thành phố Hội An có 44 doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển khách tham quan tuyến Hội An - Cù Lao Chàm với 146 phương tiện; trong đó có 140 phương tiện ca nô (138 ca nô vận chuyển khách và 02 ca nô của tập đoàn Sun Group), 06 tàu gỗ vận chuyển hàng hóa và hành khách đi Cù Lao Chàm. Như vậy, mỗi ngày khu vực đảo Cù Lao Chàm phải tiếp nhận số lượng ca nô là rất lớn, tập trung chủ yếu tại bến tàu chính Bãi
Ông, Bãi Làng và một số địa điểm du lịch tại Bãi Hương. Điều này cũng tạo nên
sức ép đến các HST và đa dạng sinh học biển.
79
Bên cạnh đó vấn đề nhận thức và ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng dân cư địa phương và khách du lịch còn hạn chế, đây là thách thức lớn đối với công tác
bảo tồn tài nguyên ĐDSH và BVMT tại đảo Cù Lao Chàm.
3.2.4.3. Phát triển dân số và gia tăng lượng khách du lịch đến Cù Lao Chàm
Từ khi Cù Lao Chàm được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới
(ngày 26.5.2009) đến nay lượng khách du lịch đến đây tăng mạnh.
Tốc độ phát triển bình quân lượt khách đến Cù Lao Chàm trong 5 năm 2008-
2012 là hơn 41,6%/năm, trong đó tốc độ phát triển bình quân khách quốc tế hơn
28,7%, khách Việt Nam hơn 48,6%. Đến giai đoạn 2012 – 2016, tốc độ gia tăng
trung bình thời kỳ là 115,53%, trong đó tốc độ phát triển bình quân khách quốc tế
116,01%, khách Việt Nam 115,03%. Theo dự báo, đến năm 2020, quy mô dân số
toàn xã Tân Hiệp (kể cả quy đổi) khoảng 15.000 - 15.300 người; trong đó dân số
trên đảo khoảng 2.200 - 2.500 người, dân số quy đổi từ khách du lịch 12.800 người
(511.000 khách/năm). Đến năm 2025, quy mô dân số khoảng 18.750- 18.950 người;
trong đó dân số trên đảo khoảng 2.500 - 2700 người, dân số quy đổi từ khách du
lịch 16.250 người (650.000 khách/năm). [9]
Du lịch sinh thái (DLST) phát triển đã và đang tạo cơ hội cho người dân cải
thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống. Lượng khách du lịch đến với Cù
Lao Chàm - Hội An gia tăng nhanh chóng. Năm 2012 có 105.074 lượt khách thăm
Cù Lao Chàm, sang năm 2015 là 367.548 lượt khách thì năm 2017 con số này là
407.135 lượt khách, tăng 10,8% so với năm 2015 (hình 3.14). Như vậy mỗi ngày
đảo Cù Lao Chàm đón nhận khoảng 1120 khách. Sự gia tăng lượng du khách đã gây
sức ép và tác động trực tiếp đến các HST biển và nguồn cung cấp nước sinh hoạt. Quan sát thực tế cũng cho thấy, các khu vực có hoạt động du lịch mạnh (số lượng ca
nô, thuyền và khách du lịch) như Bãi Hương, Bãi Ông, Bãi Chồng và Bãi Bìm đã không phát hiện thảm cỏ biển (trong đợt khảo sát thực địa 4/2017), chỉ còn 2 khu vực có cỏ biển phát triển tương đối tốt là Bãi Nần và Bãi Bắc. Mặt khác số lượng khách ra Cù Lao Chàm vượt quá khả năng đáp ứng của đảo cũng đã làm gia tăng lượng rác thải và đặc biệt là gây áp lực lên nguồn nước mặt và nước ngầm của đảo.
80
Hình 3.18: Lượng khách tham quan Cù Lao Chàm (2005-2017) [5]
3.2.4.4. Do tác động của tai biến tự nhiên và ô nhiễm môi trường
Cứ sau mỗi đợt bão lũ, môi trường vùng biển của đảo Cù Lao Chàm lại bị ô
nhiễm, ảnh hưởng đến việc bảo tồn ĐDSH và sự phát triển bền vững nơi đây. Vùng
biển Cửa Đại – Cù Lao Chàm nằm ở cuối hạ lưu sông Thu Bồn, là nơi chịu nhiều
ảnh hưởng từ các hoạt động trực tiếp và gián tiếp của tự nhiên và con người phía
thượng nguồn. Sau mỗi trận bão, lũ thì lượng nước ngọt, rác thải, bèo lục bình và
khoảng 2 triệu tấn trầm tích, phù sa…phát tán từ cửa sông Thu Bồn, vươn ra nhiều
khu vực và vùng nước biển đảo Cù Lao Chàm làm đục hóa vùng nước biển quanh
đảo.
Đồng thời cứ sau mỗi trận bão lũ, cho thấy chất lượng nước biển tại các khu
vực ven bờ quanh các rạn san hô tại khu BTB Cù Lao Chàm có độ mặn trung bình
tầng mặt và tầng đáy đều giảm xuống, đặc biệt giảm mạnh tại khu vực Bãi Bấc, Bãi Hương, Bãi Xếp… Độ đục của nước cũng tăng cao. Những trầm tích này khi lắng xuống đáy biển sẽ phủ lên các rạn san hô, nếu nhiều sẽ gây ngạt thở và làm san hô chết. Tính từ năm 2008 đến năm 2016, độ phủ trung bình san hô cứng ở vùng biển Cù Lao Chàm đã giảm từ 14,4% xuống còn 11,5%, còn diện tích thảm cỏ biển giảm từ 50ha năm 2007 xuống còn 15ha trong năm 2017.
81
Hình 3.19: Bãi Hương nằm trong các khu vực giảm mạnh độ mặn nước biển
(Nguồn: Hoianrt.vn/)
3.2.4.5 Do những bất cập trong công tác quản lý hiện nay
- Phân vùng chức năng quản lý hiện có chưa phù hợp: Việc phân vùng quản
lý trước đây vào năm 2009 chủ yếu dựa vào nguồn tư liệu hiện trạng phân bố, tính
đa dạng của thành phần loài sinh vật và hiện trạng của hệ sinh thái rạn san hô và đất ngập nước, kết quả tham vấn lấy ý kiến các bên liên quan để xây dựng kế hoạch
phân vùng quản lý. Tuy nhiên, nhiều vấn đề quan trọng liên quan tính đại diện của
các hệ sinh thái và các dạng quần xã sinh vật; các bãi tập trung, bãi đẻ và ươm
giống, tính liên kết giữa các sinh cư (habitats) của những nhóm đối tượng nguồn lợi
quan trọng; các tác động từ hoạt động phát triển kinh tế-xã hội và biến đổi khí hậu
chưa được quan tâm hoặc thiếu nguồn tư liệu nên cơ sở khoa học để xác định phạm vi các phân khu chức năng chưa thật sự vững chắc và phù hợp.
Bên cạnh đó, trong khu BTB Cù Lao Chàm còn có một số cụm rạn ngầm (Rạn Lá và Rạn Mành) là nơi tập trung của các đàn cá có kích thước lớn và giá trị cao (cá Hồng bạc, cá Mú, cá Dìa), và đây có thể được xem là nguồn bố mẹ (brood stocks) quan trọng trong việc duy trì nguồn giống cung cấp cho khu vực xung quanh
và nguồn lợi thương phẩm của các đối tượng trên ở Cù Lao Chàm.
82
- Năng lực quản lý và thực thi pháp luật còn yếu: Mặc dù chất lượng môi nước trong Khu BTB còn tương đối tốt, tuy nhiên một số dấu hiệu về tình trạng hàm lượng BOD5 và phosphate có xu hướng tăng theo thời gian ở khu vực Cù Lao Chàm nên rất có khả năng xảy ra tình trạng ô nhiễm trong tương lai gần nếu không
có các biện pháp ngăn chặn và khắc phục phù hợp và kịp thời. Theo luật môi trường thì tất cả các chất thải trước khi đổ ra ngoài môi trường phải được xử lý, tuy nhiên
điều đáng nói là khu vực chưa có hệ thống xử lý nước thải đáp ứng yêu cầu, do đó một lượng lớn nước được thải trực tiếp ra biển thông qua các cống rãnh góp phần
gây ô nhiễm môi trường nước.
Việc xây dựng cơ sở hạ tầng trên đảo diễn ra ở nhiều nơi gây ảnh hưởng đến
môi trường và tài nguyên nhưng chưa được đánh giá và dự báo đúng mức các tác
động, thiếu sự giám sát và theo dõi của các đơn vị quản lý trực tiếp (BQL) trong quá trình thi triển khai nên gây ảnh hưởng xấu đến môi trường.
Tình trạng khai thác quá mức và hủy hoại làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản và
suy thoái các hệ sinh thái vẫn còn thường xuyên xảy ra, thậm chí ngay trong khu
vực bảo vệ nghiêm ngặt của Khu BTB, tuy nhiên việc xử lý vi phạm còn nhiều hạn
chế.
- Nhận thức và trách nhiệm về công tác bảo tồn và sử dụng bền vững tài
nguyên của các bên liên quan còn thấp: Như đã đề cập ở trên trên, việc khai thác
quá mức và hủy diệt nguồn lợi thủy sản và phá hủy các sinh cư tiêu biểu tuy đã
được kiểm soát nhưng vẫn còn diễn ra ở một số khu vực trong khu BTB Cù Lao
Chàm nhưng chưa được ghi nhận chính thức. Điều này thể hiện rất rõ qua các cuộc
khảo sát thăm dò ý kiến của cộng đồng. Do năng lực quản lý BQL Khu BTB Cù Lao Chàm nói riêng và Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An nói chung còn nhiều
hạn chế, nên việc tổ chức các hoạt động tuần tra kiểm soát trên phạm vi rộng và
thường xuyên trên toàn khu vực là khó có tính khả thi. Vì vậy, việc huy động sự tham gia của cộng đồng địa phương vào công tác bảo tồn ĐDSH là một trong những vấn đề quan trọng để công cuộc bảo tồn đạt hiệu quả.
- Nguồn tài chính đầu tư thiếu bền vững: Quản lý đa dạng sinh học là một lĩnh vực phức tạp liên quan đến nhiều lĩnh vực nên cần có nguồn tài chính bền vững
hỗ trợ. Trong thời gian qua, công tác quản lý đa dạng sinh học lại phụ thuộc vào
ngân sách địa phương. Thực tế cho thấy nguồn ngân sách chi thường xuyên cho
hoạt động bảo vệ môi trường còn ít và phần lớn nguồn kinh phí sự nghiệp môi
83
trường của tỉnh cũng như TP. Hội An được sử dụng cho việc giải quyết các vấn đề bức xúc về môi trường trên cạn nên hoạt động quản lý tài nguyên đa dạng sinh học
biển gặp nhiều khó khăn và chưa mang lại hiệu quả như mong muốn.
3.2.5 Tác động qua lại giữa bảo tồn đa dạng sinh học và hoạt động phát triển
kinh tế, sinh kế của người dân
3.2.5.1 Ảnh hưởng của các hoạt động phát triển kinh tế, sinh kế của người dân
lên đa dạng sinh học
Áp lực lớn nhất của khu BTB Cù Lao Chàm là hoạt động khai thác cạn kiệt
nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên tại khu vực này. Việc khai thác cái đối tượng tài
nguyên như tôm Hùm, cua Đá, ốc Vú nàng đã và đang xảy ra nghiêm trọng, không
những khai thác trong mùa cấm mà còn khai thác cả những cá thể mang trứng. Sự
xâm phạm các vùng sinh cảnh quan trọng như Rạn san hô, thảm cỏ biển, bãi biển
thông qua các hoạt động như neo đậu tàu thuyền, đánh bắt giã cào, du lịch hoặc đổ
rác bừa bãi vẫn diễn ra.
Hoạt động phát triển kinh tế, trong đó du lịch và dịch vụ được coi là một
trong những sinh kế quan trọng của cộng đồng dân cư trên đảo đang là mối đe dọa
trực tiếp và mạnh mẽ đối với một số loài và sinh cảnh trong khu BTB Cù Lao
Chàm, thực tế cho thấy đã có sự biến mất của một số loài như Bào ngư, Đồi mồi,
Ốc xà cừ. Cộng đồng dân cư chủ yếu là khai thác hải sản gần bờ và chủ yếu tập
trung ở các vùng rạn gây thiệt hại trực tiếp đến rạn san hô. Các tàu du lịch chở khách vào tham quan đảo không neo đậu đúng nơi quy định cũng góp phần làm gãy
các rạn san hô.
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của hoạt động sinh kế đến ĐDSH
TT Hoạt động sinh kế Ảnh hưởng đến đa dạng sinh học
1 Đánh bắt thủy sản Khai thác quá mức làm suy giảm nguồn thủy sản
2 Du lịch dịch vụ Rác thải do du khách gây ô nhiễm môi trường
Nhu cầu tiêu thụ hải sản tăng cao khi khách du lịch tăng dẫn đến khai thác hải sản quá mức
Cảng neo đậu tàu thuyền làm mất diện tích các rạn san hô và gây ô nhiễm nước do dầu mỡ.
84
+ Hoạt động khai thác trái phép của ngư dân từ địa phương khác đến như sử dụng lưới ba lớp, lưới giã cào, sử dụng ánh sáng vượt mức cho phép, sử dụng thuốc nổ ở vùng biển Cù Lao Chàm đã làm giảm sản lượng tôm hùm, một số loài mất hẳn như đồi mồi, bào ngư, ốc xà cừ; ảnh hưởng đến sinh trưởng của rong biển.
Hiện tại, trong các vùng rạn san hô Cù Lao Chàm thường xảy ra các hoạt động đánh bắt thủy sản với các nghề lưới như lưới kình, lưới mực, lưới tôm 3 lớp, lưới dầm bắt cá ghì, lưới giã cào, nghề lặn, nghề câu, đặc biệt là câu cá kình và câu mực dắt. Tình trạng ngư dân ở địa phương khác dùng thuốc nổ để đánh bắt thủy sản trong các vùng rạn thỉnh thoảng vẫn còn xảy ra. Bên cạnh đó các hoạt động neo đậu tàu thuyền, hoạt động của các tàu thuyền du lịch, làm đường quốc phòng cũng trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến vùng rạn. Ngoài ra, tại Bãi Hương, tình trạng trẻ em gỡ san hô khi nước cạn vẫn còn xảy ra.
+ Hoạt động du lịch đã và đang gây ra những áp lực đối với việc khai thác tài nguyên ở Khu BTB Cù Lao Chàm, nhất là việc gia tăng lượng du khách. Đây là mối đe doạ tương đối lớn đến công tác bảo tồn mặc dù hoạt động du lịch mang lại lợi nhuận và thậm chí thu nhập thêm cho các hộ gia đình cộng đồng người dân địa phương. Có thể lấy những ví dụ dẫn chứng rất cụ thể về những đe doạ từ hoạt động này như: Số lượng quần thể cua Đá giảm mạnh kể từ khi có khách du lịch đến, cua Đá bị khai thác cả vào mùa sinh sản và cả những con mang trứng để bán cho khách du lịch, trong khi trước đây cua mang trứng không được bắt vì chất lượng thịt cua không ngon.
+ Du lịch sinh thái là loại hình du lịch được quy hoạch ở Khu BTB Cù Lao Chàm. Tuy nhiên, phát triển du lịch với quy mô càng lớn sẽ càng gây áp lực và đe doạ cho Khu BTB Cù Lao Chàm trên mọi phương diện từ suy giảm nguồn lợi hải sản, cảnh quan thiên nhiên có thể bị phá vỡ, các vấn đề về nước thải, rác thải gây ô nhiễm môi trường và rất nhiều các vấn đề khác. Vì vậy, cần thiết phải tìm ra những giải pháp sao cho cả bảo tồn và du lịch cùng có lợi đối với Khu bảo tồn biển này.
Sự phân vùng hiện tại tập trung chủ yếu vào hai sinh cảnh chính là san hô và thảm cỏ biển ven bờ, đã và đang có tác dụng nhất định đối với việc bảo vệ và sử dụng nguồn lợi tài nguyên và môi trường ở đây. Tuy nhiên, từ hai vùng sinh cảnh này, DLST đã phát triển và đang mang lại nhiều ảnh hưởng rất lớn đến một số nguồn lợi tài nguyên khác. Một số nguồn lợi tư nhiên như tôm Hùm, cua Đá, Ốc vú nàng hiện đang có kích thước và số lượng nhỏ và giảm dần; san hô gãy nát, thảm cỏ biển bị cày xới, bãi biển bị xâm phạm, rác thải tồn đọng. Tình trạng trên
85
có thể mang lại một tác động rất lớn đến nguồn lợi tài nguyên và môi trường tại quần đảo. Các sinh cảnh quan trọng như rạn san hô, thảm cỏ biển có thể bị suy thoái, từ đó kéo theo các cộng đồng sinh vật sinh sống kèm theo như cá, tôm có thể bị kiệt quệ, ảnh hưởng đến sinh kế đánh bắt của người dân địa phương và từ đó ảnh hưởng ngược trở lại sự phát triển của DLST.
+ Rác thải hiện tại là một ô nhiễm đối với môi trường ở Cù Lao Chàm. Theo các số liệu khảo sát, hàng ngày có khoảng 1 tấn rác thải được thải ra trên đảo, trong đó phần lớn là rác hữu cơ. Riêng Bãi Hương số lượng rác thải có ít hơn nhưng cũng không kém phần bức xúc vì phần lớn rác không có bãi đổ hợp vệ sinh phải đem chôn ở bãi biển, hoặc đổ xuống biển và trên núi.
3.2.5.2 Các ảnh hưởng từ hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học lên hoạt động phát triển kinh tế, sinh kế của người dân địa phương
Bảo vệ đa dạng sinh học sẽ cải thiện sinh kế bản địa. Tuy nhiên các hoạt động bảo tồn cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến sinh kế của người dân địa phương: nghiêm cấm khai thác gỗ, củi; nghiêm cấm khai thác thủy sản; nghiêm cấm lấn chiếm đất rừng; nghiêm cấm thu hái lâm sản ngoài gỗ… Trong đó hoạt động bảo tồn gây thiệt hại đến sinh kế lớn nhất của người dân hiện nay là nghiêm cấm khai thác thủy sản. Vì vậy, có thể thấy rằng việc bảo vệ đa dạng sinh học sẽ đem lại lợi ích cho sinh kế địa phương khi nó góp phần tạo ra nguồn thu từ du lịch và được hướng dẫn khai thác bền vững kết hợp khai thác tài nguyên và bảo tồn.
Qua thu thập, điều tra phỏng vấn bằng phương pháp phỏng vấn nhanh, nhận thấy khi thành lập khu bảo tồn biển, sinh kế của người dân bị ảnh hưởng như sản lượng khai thác thủy sản bị giảm sút nghiêm trọng, sản xuất lương thực bị ảnh hưởng do đất nông nghiệp bị thu hồi để xây dựng khu bảo tồn. Sử dụng công cụ SWOT để đánh giá mối quan hệ giữa bảo tồn ĐDSH vơi sinh kế của người dân) (bảng 3.8)
86
Bảng 3.8: Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với sinh kế người dân
Điểm mạnh Điểm yếu
Người dân trên đảo tăng thêm thu nhập Bị cấm khai thác thủy sản và lâm sản
Duy trì tính đa dạng sinh học cao và nguồn lợi hải sản tương đối dồi dào Mất nguồn sinh kế truyền thống là đánh bắt thủy hải sản
Tiềm năng về du lịch, dịch vụ - thương mại cao Vai trò của cộng đồng trong việc ra quyết định còn thấp
Ngăn chặn tình trạng khai thác quá mức, thiếu bền vững làm suy giảm tài nguyên
Cơ hội Thách thức
Tăng khoảng cách giàu nghèo
Thu nhập từ khai thác thủy sản bền vững khi tài nguyên rừng và biển được quản lý tốt hơn Người nghèo và phụ nữ khó tiếp cận các nguồn sinh kế mới
Phát triển du lịch, dịch vụ Nhận thức của người dân chưa cao
Tiếp cận các nguồn sinh kế bền vững hơn Du lịch phát triển làm gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên
Du lịch phát triển làm gia tăng tình trạng ô nhiễm Sự hỗ trợ về vốn tài chính, kỹ thuật từ chính phủ và các tổ chức phi chính phủ, các dự án về bảo tồn
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ HƯỚNG TỚI
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
3.3.1 Cơ sở và nguyên tắc bảo tồn
Để đạt được hiệu quả cao trong công tác bảo tồn ĐDSH thì đối tượng cốt lõi
nhất chính là con người: cộng đồng dân cư địa phương là những đối tượng cần
hướng đến để triển khai các biện pháp bảo tồn TNTN, TNVN và tài nguyên ĐDSH. Cần nâng cao nhận thức của người dân về các giá trị tài nguyên mà họ đang trực tiếp khai thác và sử dụng, những lợi ích mà các tài nguyên đó mang lại, đồng thời đề xuất các biện pháp nhằm cải thiện sinh kế của người dân gắn với bảo tồn ĐDSH. Mục đích là vừa nâng cao đời sống tinh thần cho người dân địa phương, vừa bảo tồn được các giá trị tài nguyên, xây dựng lối sống văn minh, đề cao các giá trị văn
hóa, truyền thống lịch sử, gắn với bảo vệ môi trường, thực hiện có hiệu quả cao tiến trình phát triển bền vững.
87
Phát huy vai trò quản lý Nhà nước để kết nối, khơi nguồn động lực của bản quản lý Khu BTB, các nhà khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng trong sự nghiệp bảo tồn và phát triển, cải thiện sinh kế - văn hóa. Nâng cao năng lực chuyên môn và hiệu quả quản lý của BQL Khu BTB Cù Lao Chàm, nhằm vận hành tốt các hoạt động bảo tồn và phát triển toàn diện đối với các lĩnh vực tài nguyên thiên nhiên biển đảo, cảnh quan, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, đa dạng sinh học, bản sắc văn hóa truyền thống, bảo vệ môi trường.
Dựa trên nguyên tắc bảo tồn để phát triển và phát triển để bảo tồn, đồng hành bền vững với thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và tinh thần chỉ đạo chiến lược phát triển bền vững của Quốc gia (AGENDA-21) của tỉnh Quảng Nam và Thành phố Hội An, đồng thời phù hợp với các chương trình Nhà nước triển khai như: xóa đói giảm nghèo; xây dựng nông thôn mới; xây dựng và phát triển biên giới, biển đảo. Đồng thuận những mục tiêu hội nhập Quốc tế theo chủ trương của Đảng và Nhà nước ta
Việc bảo vệ và sử dụng hợp lý các giá trị TNTN, TNNV, tài nguyên ĐDSH
ở Cù Lao Chàm luôn cần được quan tâm và chú trọng vì cuộc sống của người dân
trên đảo vẫn còn nhiều khó khăn, vấn đề bảo tồn và phát triển phải được đặt song
song và luôn gắn kết với nhau mới tạo được hiệu quả thực sự. Vấn đề này đòi hỏi
một cách tiếp cận tổng thể và đa ngành, nhiều bên liên quan cùng phối hợp tham
gia, giám sát và thực thi.
3.3.2 Một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học
3.3.2.1 Giải pháp liên quan đến công tác quản lý
Từ tháng 5/2009, Cù Lao Chàm – Hội An đã được UNESCO chính thức
công nhận là Khu DTSQTG thì toàn bộ Khu BTB Cù Lao Chàm được coi là vùng lõi của Khu DTSQ. Mặt khác, do tình hình phát triển kinh tế và du lịch tại Cù Lao
Chàm cho thấy các rạn san hô và thảm cỏ biển có nguy cơ bị suy thoái. Nếu các
dạng tài nguyên này bị suy thoái thì giá trị về mặt ĐDSH của khu BTB Cù Lao Chàm cũng như khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An sẽ bị suy giảm.
Về đánh bắt thủy hải sản tại Khu BTB Cù Lao Chàm cần phát triển theo hướng kinh tế hải sản bền vững. Thực tế cho thấy, việc đánh bắt hải sản ở đảo Cù Lao Chàm chủ yếu ở vùng ven bờ, nếu không có biện pháp bảo vệ tốt thì các ngư dân địa phương sẽ đánh bắt ở các vùng bảo vệ nghiêm ngặt thuộc Khu BTB Cù Lao
Chàm, gây nguy hại đến các rạn san hô, thảm cỏ biển, rong biển, làm cạn kiệt tài
nguyên ven bờ và làm giảm tính ĐDSH. Vì vậy cần đẩy mạnh việc hỗ trợ chuyển
88
đổi nghề khai thác thủy sản theo hướng nâng dần công suất tàu thuyền để vươn ra khơi xa, thực hiện việc kiêm nghề, chuyển nghề, ứng dụng các nghề khai thác; bồi
dưỡng kiến thức sử dụng, vận hành các phương tiện, kỹ thuật đánh bắt hiện đại để
hiệu quả khai thác cao hơn và bảo vệ được nguồn tài nguyên sinh vật biển; kết hợp
với các chế tài (quy định, xử phạt...) cần thiết để bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven các hòn đảo, đặc biệt ở các rạn san hô; nghiêm cấm và xử lý kiên quyết các hình thức,
loại hình khai thác mang tính hủy diệt. Tiếp tục tăng cường công tác quản lý tài nguyên rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng, thực hiện tốt các quy định về phòng chống
cháy rừng, không để xảy ra tình trạng xâm hại rừng đặc dụng đối với rừng đặc
dụng.
Hiện nay hoạt động du lịch ở cụm đảo Cù Lao Chàm đang ngày càng phát
triển “nóng”. Bên cạnh những yếu tố tích cực, cũng gây không ít tác động tiêu cực cho Khu BTB Cù Lao Chàm. Dẫu biết rằng cuộc sống của người dân Cù Lao Chàm
khấm khá lên từ hoạt động du lịch trên đảo, song cũng chính những hoạt động này
lại là nguyên nhân khiến cho người dân và cảnh quan tự nhiên của Khu BTB chịu
sức ép. Khu BTB nói riêng và Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An nói chung đang
bị đe dọa, giảm độ ĐDSH, tình trạng thiếu nước ngọt sinh hoạt trong mùa khô, chất
lượng nước ngầm đang bị ô nhiễm, lượng rác thải gia tăng. Tất cả hệ lụy đó đều
xuất phát từ áp lực của lượng du khách đến tham quan đảo. Vì vậy để đảm bảo sự
phát triển bền vững của Khu BTB Cù Lao Chàm, cần phải cương quyết khống chế
lượng khách ra đảo mỗi ngày. Tính toán giữa lượng du khách tương ứng với nhu
cầu sử dụng thực phẩm tại chỗ, nhu cầu sử dụng lượng nước ngọt, lượng rác thải
mỗi ngày… với các trữ lượng và khả năng cung cấp của đảo để đưa ra nghững con số hợp lý. Kết quả tính toán sơ bộ cho thấy Cù Lao Chàm có thể đáp ứng lượng
khách ra đảo khoảng 1000-1200 người/ngày.
Các giá trị ĐDSH của Khu BTB Cù Lao Chàm được bảo tồn và phát huy với
sự tham gia có trách nhiệm, sự hợp tác liên ngành và đạt được sự đồng thuận của đại diện các bên liên quan (nhà quản lý, nhà khoa học, người dân và các doanh nghiệp) chính là điều kiện tiên quyết trong công tác bảo tồn ĐDSH gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội.
89
Hình 3.20: Sự đồng thuận của các bên trong công tác bảo tồn ĐDSH
3.3.2.2 Giải pháp liên quan đến nâng cao nhận thức
a, Nâng cao nhận thức và tham gia quản lý của cộng đồng địa phương
Cộng đồng địa phương ở đây được xác định là những cư dân sống trên Hòn
Lao. Họ có các hoạt động khai thác nguồn lợi biển trong khu vực mặt nước được
xác định là vùng đệm của KBT biển Cù Lao Chàm. Do vậy, các giải pháp đưa ra
nhằm giúp cho cộng đồng địa phương một mặt bảo vệ nguồn tài nguyên biển xung
quanh và bên trong vùng đệm, mặt khác giúp người dân có được sinh kế thông qua
khai thác hợp lý nguồn lợi từ biển của KBT biển Cù Lao Chàm. Sau đây là một số
giải pháp cụ thể:
- Tiến hành nghiên cứu môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học bên trong và xung quanh khu BTB Cù Lao Chàm: Tiến tới xây dựng
thí điểm các mô hình khai thác hợp lý, kết hợp bảo tồn tài nguyên biển theo hướng
bền vững cho cộng đồng cư dân. Từ đó, xây dựng các quy định bảo vệ môi trường sinh thái dành riêng cho các cộng đồng cư dân địa phương sinh sống trong khu BTB Cù Lao Chàm, khách du lịch, các công ty du lịch, chính quyền địa phương.
- Thành lập được các tổ, đội khai thác nguồn lợi thủy sản gắn với cam kết và tuân thủ đầy đủ những quy tắc trong việc khai thác nguồn lợi biển: Tiến hành tham vấn cộng đồng địa phương về vị trí khoanh được khai thác và những cam kết của
cộng đồng địa phương trong khai thác hợp lý và bảo vệ tài nguyên biển, đa dạng
90
sinh học quanh, trên cơ sở tham vấn của chính quyền địa phương và ý kiến của các chuyên gia cùng thực hiện.
- Nghiên cứu thêm các hình thức sinh kế cộng đồng cho cư dân trong khu BTB
bằng việc liên kết với các trường dạy nghề để đào tạo nghề du lịch như hướng dẫn
viên du lịch và nghề nấu ăn cho cư dân nhằm phục vụ cho khách du lịch. Phối hợp
với cộng đồng cư dân địa phương với các công ty du lịch để triển khai, xây dựng
các hoạt động dịch vụ du lịch như: tham quan, câu cá, homestay, chở khách.
- Kêu gọi sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các đội tuần tra giám
sát và quan trắc bên trong và bên ngoài khu BTB Cù Lao Chàm: Xây dựng chương
trình tuần tra có sự tham gia phối hợp của cộng đồng, thành lập các đội tuần tra (10
người là người địa phương), tập huấn chuyên môn nghiệp vụ về tuần tra, giám sát,
quan trắc cho các đội và đảm bảo hoạt động thường xuyên hàng ngày trong khu
vực, có cơ chế chính sách hỗ trợ chi phí tiền công lao động cho các đội tuần tra này
một cách thỏa đáng. Xây dựng câu lạc bộ bảo tồn biển, cộng đồng tham gia xác
định khoanh vùng và xây dựng quy chế trong Khu BTB.
- Thảo luận cộng đồng, phát động các chiến dịch vận động bảo vệ môi
trường, chương trình làm sạch bãi biển, tài nguyên thiên nhiên cho học sinh, thanh
niên, phụ nữ ở Hòn Lao, xây dựng các mô hình xử lý nước thải sinh hoạt cho cư dân
sống trên các Hòn Lao của Cù Lao Chàm.
b, Nâng cao nhận thức đối với khách du lịch
Trước số lượng khách du lịch đến với Cù Lao Chàm ngày càng tăng như hiện
nay thì việc nâng cao nhận thức về việc bảo tồn ĐDSH và bảo vệ môi trường là điều
hết sức cần thiết. Để thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền đối với khách du
lịch về khu BTB Cù Lao Chàm, có thể thực hiện các biện pháp như: phát tài liệu,
panô, poster, tờ rơi về bảo vệ ĐDSH ( bảo vệ tài nguyên biển, bảo vệ môi trường,
cảnh quan bên trong và ngoài Khu BTB Cù Lao Chàm) cho du khách. Xây dựng các
phòng trưng bày, tổ chức các sự kiện truyền thông, chương trình truyền thông, tổ
chức các sự kiện về bảo vệ môi trường trong khu vục nhằm nâng cao nhận thức, ý
thức khai thác hợp lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi truờng Khu BTB Cù
Lao Chàm.
91
3.3.2.3 Giải pháp liên quan đến phát triển nguồn nhân lực
- Đối với cộng đồng địa phương: Cần tổ chức các lớp tập huấn cho cộng
đồng địa phương về công tác bảo tồn ĐDSH với vai trò chính của họ để nâng cao
nhận thức, vai trò và trách nhiệm của người dân. Mặc dù từ trước đến nay đã có
những chương trình đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nhưng cần tăng cường hơn nữa việc tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về bảo tồn ĐDSH, bảo vệ tài nguyên môi trường
sinh thái biển, các buổi giao lưu với du khách, nhà khoa học và ban quản lý.
- Đối với cán bộ quản lý khu BTB: Tổ chức những khoá tập huấn ngắn hạn
với nội dung phù hợp về công tác bảo tồn ĐDSH, địa lý môi trường, kỹ năng giao
tiếp và phục vụ khách du lịch, phát triển du lịch bền vững, phát triển du lịch cộng
đồng, kiến thức và kỹ năng về giới thiệu các điểm tham quan du lịch và gia trị bảo
tồn tài nguyên thiên nhiên, lồng ghép các hoạt động văn hoá trong du lịch. Công tác
đào tạo cần xác định rõ nhu cầu đào tạo tránh việc áp đặt một số nội dung đào tạo
chưa phù hợp. Việc xây dựng và đào tạo có thể lồng ghép trong các chương trình
hành động và hợp tác với cá Trung tâm đào tạo, các Viện nghiên cứu chuyên ngành
trong nước và quốc tế.
3.3.2.4 Giải pháp liên quan đến khoa học, công nghệ thông tin
Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, điều tra, thống kê hiện trạng đa
dạng sinh học, nhất là đa dạng sinh học rừng tại các đảo Cù Lao Chàm; đề xuất giải
pháp bảo vệ hiệu quả các chủng loài quý, hiếm, có nguy cơ suy giảm, tuyệt chủng
và phân vùng phát triển du lịch sinh thái hợp lý. Áp dụng các giải pháp kỹ thuật
tổng hợp nhằm bảo vệ, phục hồi các nguồn lợi tài nguyên bị nguy cấp, cạn kiệt; ưu
tiên đầu tư kinh phí cho hoạt động phục hồi và bảo vệ nguồn lợi.
Tiếp tục mở rộng nghiên cứu chuyển vị bảo tồn rùa biển trong Khu DTSQ
Cù Lao Chàm – Hội An và bảo tồn nguyên vị tạo khu vực Bãi Bấc của đảo Cù Lao Chàm bằng cách tạo sinh cảnh, không gian thuận lợi để rùa biển lên bãi đẻ trứng. Đồng thời, nghiên cứu và đề xuất mở rộng chương trình này ra các địa phương khác.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ quản lý, điều hành Khu BTB Cù Lao Chàm, trong đó cần xây dựng hệ thống thông tin về Khu BTB Cù Lao
Chàm bằng hệ thống thông tin địa lý (GIS). Tiếp tục thực hiện các chương trình quan trắc, đánh giá định kỳ đối với các HST quan trọng như: HST rạn san hô; HST
92
thảm cỏ, rong biển; HST rừng Cù Lao Chàm; giám sát chất lượng môi trường nước biển,…nhằm sớm phát hiện các yếu tố tác động và có giải pháp bảo vệ. Áp dụng
các giải pháp kỹ thuật tổng hợp nhằm bảo vệ, phục hồi các nguồn lợi tài nguyên bị
nguy cấp, cạn kiệt; ưu tiên đầu tư kinh phí cho hoạt động phục hồi và bảo vệ nguồn
lợi.
3.3.2.5 Giải pháp liên quan đến hợp tác trong nước và quốc tế
Tại kì họp thứ 6, Đại hội đồng GEF đã có 29 quốc gia cam kết tài trợ trên 4
tỷ USD cho công tác BVMT của Việt Nam trong chu kỳ đầu tư 4 năm tới (2018 –
2022). Trong thời gian tới, nước ta sẽ mở rộng hội nhập quốc tế và hợp tác với các
đối tác chiến lược trong khối ASEAN, EU, APEC và các tổ chức quốc tế thuộc Liên
hiệp hội sẽ là cơ hội để đẩy mạnh hợp tác Quốc tế về BVMT, bảo tồn ĐDSH tại khu
BTB Cù Lao Chàm nói riêng và khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An nói riêng. Do
đó, cần nắm bắt để tranh thủ các nguồn lực cho công tác BVMT, bảo vệ ĐDSH để
thực hiện được các mục tiêu, nhiệm vụ của Khu BTB Cù Lao Chàm đã đề ra.
3.3.2.6 Giải pháp liên quan đến các mô hình phát triển sinh kế cho người dân
(1) Mô hình đồng quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường:
Trước kia người dân sống trên đảo chỉ sống chủ yếu dựa vào phương thức
đánh bắt nguồn lợi tự nhiên và chế biến hải sản nhưng từ khi khu BTB được công
nhận là vùng lõi của khu DTSQTG thì người dân ở đây đã có thu nhập thêm từ các
hoạt động dịch vụ đưa khách du lịch đi thăm quan, quản lý Khu BTB…Như vậy,
người dân chính là người được hưởng lợi trực tiếp từ các hoạt động này và cần có
trách nhiệm đồng quản lý đối với tài nguyên mà chính người dân đang khai thác, sử
dụng.
Thông qua mô hình đồng quản lý về tài nguyên các khái niệm về quản lý
tổng hợp và quản lý thích ứng cũng đã được lồng ghép trong việc quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường. Sự đồng thuận cao của cộng đồng trong lập kế hoạch phân vùng, xây dựng quy chế và kế hoạch quản lý của khu BTB để khai thác hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đóng vai trò quan trọng trong định hướng phát triển bền vững đã giúp cho cộng đồng tiếp nhận kịp thời cách tiếp cận mới trong quản lý nguồn lợi trên cơ sở HST.
93
(2) Mô hình vườn cây thuốc trên đảo Cù Lao Chàm
Mô hình sẽ được ban quản lý của Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm kết hợp với một doanh nghiệp chế biến dược liệu để lựa chọn loại hay nhóm loại cây thuốc đặc trưng của Cù Lao Chàm, đồng thời lựa chọn vị trí, giới thiệu với cộng đồng để cộng đồng chọn ra một nhóm nông hộ (khoảng 5-10 hộ) có tay nghề tham gia trồng vườn cây thuốc dưới tán rừng theo kỹ thuật do các chuyên gia khu Bảo tồn biển chỉ dẫn. Chất lượng sản phẩm được đánh giá theo ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp dược liệu. Khi kết quả phù hợp về cây thuốc và chất lượng đáp ứng nhu cầu sẽ triển khai thành sinh kế mới cho cộng đồng.
-Ý nghĩa của mô hình: Đây là mô hình cho kết quả trong một thời gian không dài và sau đó có thể trở thành điểm thu hút khách du lịch sinh thái và tham quan chữa bệnh, đồng thời doanh nghiệp có thể tiêu thụ sản phẩm dược tại chính nơi cây thuốc được trồng ra theo chỉ dẫn địa lý của dược liệu.
(3) Mô hình du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch nghiên cứu - học tập
Hình thành chuỗi các tour – tuyến, điểm du lịch kết hợp giữa đô thị du lịch
Hội An với khu BTB Cù Lao Chàm trong sự kết hợp hài hòa theo cam kết chặt chẽ
giữa hoạt động quản lý của khu DTSQ và các doanh nghiệp du lịch trong sự điều
phối chung của thành phố Hội An như:
+ Điểm tham quan: các bãi đẻ của rùa biển trên các bãi cát nhỏ ven đảo ở Bãi
Bắc, Bãi Ông, Bãi Làng, Bãi Chồng, Bãi Bìm và Bãi Hương
+ Tour – tuyến tham quan: Tour du lịch học tập – nghiên cứu, tham quan từ
Bãi Hương đến các địa điểm khác trên đảo Cù Lao Chàm: tham quan các điểm di
sản văn hóa, du lịch sinh thái rừng, tour du lịch lặn biển tham quan rạn san hô, hang
yến….là những sản phẩm du lịch độc đáo của quần đảo Cù Lao Chàm (hình 3.12).
94
Hình 3.21: Sơ đồ tour Bãi Hương, từ vườn ươm san hô gắn kết với các điểm đến lân cận
Thuyết minh mô hình:
- Tour được nghiên cứu thiết kế từ cầu cảng Bãi Hương đến xóm mới, qua tịnh xá Ngọc Hương, về vùng phơi rau rừng, lá thuốc, đến con đường lấp kín homestay vòng ra trước biển với các quá cà phê, quán ăn, trở ra bến cảng và nếu tiếp tục, du khách có thể xuống Hòn Tai hoặc vòng lên Bãi Chồng, Bãi Xếp, Bãi Làng.
- Tour du lịch học tập Bãi Hương đòi hỏi các phần cơ bản bao gồm cần phải có thu dịch vụ hưởng ngoạn đầy đủ các dịch vụ bao gồm dịch vụ sinh thái, dịch vụ dịch vụ Văn hóa, chia sẻ kinh nghiệm, người dân thu các dịch vụ này thông qua hoạt động thuyền thúng, bơi skorkelling, đồng thời cộng đồng cần tạo điều cho sinh viên có thể ăn ở cùng gia đinh và chi phí thấp nhất, đồng thời người dân phải cung cấp tri thức cộng đồng cho sinh viên theo kinh nghiệm của mình.
- Theo đó, chỗ ăn và chỗ ở của các sinh viên sẽ được các hộ dân bố trí, mỗi nhà khoảng từ 3–5 sinh viên, cùng ăn cùng ở với người dân sống tại đảo. Sinh viên sẽ được trực tiếp người dân trên đảo tham gia hướng dẫn, giải thích, chia sẻ kinh nghiệm về cuộc sống làng chài, về đánh bắt cá, về cây rừng lá thuốc, về ẩm thực, về đi rừng, đi biển cho sinh viên.
95
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
1. Khu Bảo tồn biển Cù lao Chàm nằm trong vùng lõi của Khu DTSQTG Cù
Lao Chàm – Hội An với diện tích 11.560ha. Đây là khu vực có những điều kiện về
cơ sở địa lý (tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn, tài nguyên du lịch) hết sức thuận lợi để phát triển kinh tế và hoạt động du lịch. Đồng thời khu BTB cũng có
tài nguyên ĐDSH có giá trị cao với sự hiện diện đầy đủ của các HST tiêu biểu như
HST rừng thường xanh, HST bãi triều cát, HST rạn san hô, HST thảm rong và cỏ
biển.
2. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận được hơn 500 loài thực vật thuộc 100 họ
bậc cao. Về Khu Động vật đã ghi nhận được 32 loài thú, 66 loài chim, 38 loài bò sát
và 12 loài ếch nhái. Đặc biệt trong số đó một số động vật rừng được ghi nhận trong SĐVN (2007). Về HST bãi triều, bờ đá đã xác định được 239 loài, thuộc 3 ngành
(Thân mềm, Da gai và Giáp xác) trong đó ngành Thân mềm chiếm ưu thế. HST rạn
san hô đã xác định được 292 loài san hô, phân bố trên diện tích khoảng 356ha và
HST cỏ biển phân bố tại khu vực Bãi Bắc, Bãi Xếp và Bãi Nằn với tổng diện tích
khoảng 15ha.
3. Các HST và tài nguyên ĐDSH đang bị tác động mạnh, bị khai thác cạn kiệt
và cần được bảo tồn trước những hoạt động phát triển kinh tế - xã hội tại khu BTB
Cù Lao Chàm. Theo đó đã xác định được một số loài có nguy cơ suy thoái bao gồm:
tôm hùm, cua đá, ốc vú nàng và thảm cỏ biển.
4. Bước đầu đã xác định được các nguyên nhân gây ra việc suy giảm, cạn kiệt
tài nguyên ĐDSH ở khu BTB Cù Lao Chàm, đó là: Khai thác quá mức tài nguyên; khai thác không hợp lý; Ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế xã hội; Do phát triển
dân số và gia tăng lượng khách du lịch; Do tác động của tai biến tự nhiên; và do
những bất cập trong công tác quản lý hiện nay.
5. Trên cơ sở xác định nguyên nhân gây tác động làm suy giảm đa dạng sinh học khu BTB Cù Lao Chàm, đề tài đã đưa ra một số nhóm giải pháp nhằm bảo tồn tài nguyên ĐDSH khu BTB Cù Lao Chàm: Giải pháp liên quan đến công tác quản lý; Giải pháp liên quan đến nâng cao nhận thức; Giải pháp liên quan đến phát triển
nguồn nhân lực; Giải pháp liên quan đến khoa học, công nghệ thông tin; Giải pháp
liên quan đến hợp tác trong nước và quốc tế và Giải pháp liên quan đến các mô hình
phát triển sinh kế cho người dân.
96
Kiến nghị
1. Cần chú trọng bảo tồn các loài đang bị khai thác mạnh và có nguy cơ suy
thoái bao gồm: tôm hùm, ốc vú nàng, cua đá và thảm cỏ biển. Trong đó ưu tiên bảo
tồn các HST đặc trưng như các bãi san hô, thảm cỏ biển tại Bãi Bấc, Bãi Ông, Bãi
Bìm, Bãi Chồng. Các khu vực này chính là môi trường sống và trú ngụ của các loài sinh vật biển và sẽ giúp cho HST ở đây được phục hồi và đa dạng về số lượng loài.
2. Tăng cường công tác tuần tra kiểm soát các hoạt động du lịch và hoạt
động của ngư dân để bảo tồn ĐDSH đối với các khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt
và các khu vực đang phục hồi với sự tham gia mạnh mẽ của cộng đồng địa phương.
Đầu tư, hỗ trợ ngư dân các công cụ, thiết bị để có điều kiện đánh bắt xa bờ để tăng
thu nhập cải thiện cuộc sống, giảm sự phụ thuộc của người dân vào sinh kế đánh bắt
trong phạm vi khu BTB Cù Lao Chàm.
3. Đẩy mạnh phát triển DLST, du lịch học tập – nghiên cứu trong khu BTB
Cù Lao Chàm song phải kiểm soát lượng du khách ra đảo. Đồng thời phải quản lý
sử dụng hợp lý nguồn nước ngọt vốn đang bị thiếu hụt và xử lý tốt chất thải sinh
hoạt như nước thải, chất thải rắn, vật dụng bằng túi ni-lông, nhựa nhằm BVMT ở
Cù Lao Chàm.
97
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Lê Hùng Anh, 2018. Đánh giá hiện trạng Đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên ở Khu DTSQTG Cù Lao Chàm – Hội An, Báo cáo chuyên đề của đề tài “Luận cứ khoa học nhằm hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn đa dạng sinh học với sinh kế bền vững ở Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An”
2. Nguyễn Quang Hòa Anh, 2019. Đa dạng sinh học rừng và định hướng bảo tồn tại Cù Lao Chàm, Quảng Nam. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Cù Lao Chàm : Đa dạng tài nguyên thiên nhiên- văn hóa và phát triển bền vững, tr.56-77, Hội An. 3. Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, 2008. Kế hoạch quản lý Khu bảo
tồn biển Cù Lao Chàm, 80 trang, Hội An.
4. Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, 2016. Báo cáo kết quả giám sát đa
dạng sinh học tại khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm, 23 trang, Hội An.
5. Ban Quản lý khu dữ trữ sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An, 2019. Báo cáo đánh giá định kỳ 10 năm Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An (2009-2019), Hội An 5/2019.
6. Đặng Văn Bào, Nguyễn Hiệu, Cát Nguyên Hùng, Đặng Kinh Bắc, 2016. Đặc điểm địa chất-địa mạo Hội An. Thông tin Nghiên cứu địa lý –sinh thái Hội An, tr.9-31, Hội An.
7. Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam, 2007. Sách
Đỏ Việt Nam 2004, Phần I. Động vật, Nxb. KHTN & CN, Hà Nội.
8. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2002. Chiến lược quốc gia quản lý hệ
thống khu bảo tồn của Việt Nam 2002-2010.
9. Chi cục thống kê thành phố Hội An, 2017. Niên giám thống kê thành phố Hội
An năm 2016.
10. Công ước về Đa dạng sinh học (CBD), thoả thuận vào ngày 05/06/1992 tại Hội nghị LHQ về Môi trường và Phát triển tại Rio de Janeiro vào năm 1992 (bao gồm 183 nước phê chuẩn)
11. Chu Thế Cường và nnk, 2018. Đánh giá hiện trạng Đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên ở Khu DTSQTG Cù Lao Chàm – Hội An, Báo cáo chuyên đề của đề tài “Luận cứ khoa học nhằm hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn đa dạng sinh học với sinh kế bền vững ở Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An”.
98
12. Nguyễn Thùy Dương, 2009. Nghiên cứu sự biến động cảnh quan và đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển tỉnh Thái Bình. Luận án Tiến sỹ chuyên ngành Sinh thái học, Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội, 170 trang.
13. Nguyễn Hữu Đại, Donald Macintosh, 2008. Hiện trạng tài nguyên đất ngập nước ( chủ yếu là dừa nước) ở hạ lưu sông Thu Bồn ( Quảng Nam) và vấn đề quản lý, bảo vệ, phục hồi. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển T8 (2008), số 4, tr 51-66.
14. Lê Hữu Hùng, 2016. Đặc điểm khí hậu, thời tiết ở Hội An. Thông tin Nghiên
cứu địa lý – sinh thái Hội An, tr. 75-101, Hội An.
15. Ngô Văn Hùng, 2019. Cù Lao Chàm: Khu bảo tồn biển- vùng lõi của khu dự
trữ sinh quyển thế giới.
16. Trần Quang Kiến, 2016. Tài nguyên sinh vật vùng biển, đảo Cù Lao Chàm.
Thông tin Nghiên cứu địa lý – sinh thái Hội An, tr. 152-172, Hội An.
17. Trần Đình Lân (chủ nhiệm) 2015. Lượng giá kinh tế các hệ sinh thái biển - đảo tiêu biểu phục vụ phát triển bền vững một số đảo tiền tiêu ở vùng biển ven bờ Việt Nam. Đề tài cấp nhà nước mã số KC.09.08/11-15.
18. Nguyễn Văn Long, Võ Sĩ Tuấn, Hoàng Xuân Bền và nnk, 2008. Đa dạng sinh học và chất lượng môi trường Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm 2004-2008. Báo cáo tổng kết đề tài, lưu trữ tại Viện Hải dương học.
19. Nguyễn Văn Long (chủ nhiệm), 2018. Điều tra và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng bền vững đối với tài nguyên đa dạng sinh học ở Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An.
20. Luật số 20/2008/QH12 của Quốc hội : Luật Đa dạng sinh học, ngày 13/11/2008. 21. Phạm Ngọc Minh (chủ biên), Lê Thanh Cường, Hoàng Ngọc Cừ và nnk, 2002. Báo cáo điều tra địa chất thủy văn- địa chất công trình và tìm kiếm nguồn nước đảo Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam. Tài liệu lưu trữ Trung tâm Thông tin tư liệu, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Hà Nội.
22. Võ Tấn Phong, 2017. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của quần thể loài chim yến tổ trắng Aerodramus fuciphagus (Thunberg, 1812) trong điều kiện tự nhiên tại quần đảo Cù Lao Chàm, Hội An, tỉnh Quảng Nam. Luận án tiến sĩ chuyên ngành động vật học, Hà Nội.
23. Đặng Xuân Phương, Nguyễn Lê Tuấn (2014). Quản lý nhà nước tổng hợp thống
nhất về biển và hải đảo; Nxb. Chính trị quốc gia.
24. Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 26/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ: V/v phê
duyệt Quy hoạch hẹ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020.
99
25. Lê Ngọc Thảo, 2011. Báo cáo Chuyên đề phát triển sinh kế tại khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm và ảnh hưởng của biển đổ khí hậu. Đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các loài sinh vật đặc trưng của đảo Cù Lao Chàm và đề xuất các biện pháp bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu, cải thiện sinh kế cho cộng đồng”.
26. Phạm Thị Kim Thoa, 2014. Đa dạng sinh học các loài rau rừng có giá trị tại
Khu Dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An.
27. Lê Đình Thủy, 2017. Điều tra, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn, sử dụng bền vững các loài động vật có xương sống trên cạn ( thú, chim, bò sát, ếch nhái) ở quần đảo Cù Lao Chàm. Báo cáo đề tài VAST 04.07/15-16, Hà Nội.
28. Nguyễn Văn Tiến, Lê Thị Thanh và Từ Thị Lan Hương, 2007. Quản lý nguồn lợi thảm cỏ biển Quảng Nam. Báo cáo Hội nghị Khoa học Toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 2. Nhà xuất bản Nông nghiệp; tr.141-146. 29. Hồ Xuân Tịnh, 2007. Cù Lao Chàm trong “Con đường tơ lụa” trên Biển Đông. Kỷ yếu Cù Lao Chàm, vị thế- tiềm năng và triển vọng, trang 125-130, Hội An. 30. Dư Văn Toán, 2013. Hiện trạng mô hình hợp tác quốc tế về bảo tồn thiên nhiên tại các vùng biển cận biên và một số gợi ý ban đầu cho Việt Nam; Tạp chí Môi Trường, số 9/2013
31. Lê Đức Tố (chủ nhiệm), 2005. Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế - sinh thái trên một số đảo, cụm đảo lựa chọn thuộc vùng biển ven bờ Việt Nam. Đề tài KC.09.12.
32. Chu Mạnh Trinh, 2007. Cù Lao Chàm, san hô và đa dạng sinh học biển. Kỷ yếu
Cù Lao Chàm, vị thế-tiềm năng và triển vọng, tr. 80-90, Hội An.
33. Chu Mạnh Trinh, Hứa Chiến Thắng 2012. Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm - Một mô hình thành công về quản lý theo cách tiếp cận hệ sinh thái, dựa vào cộng đồng.
34. Chu Mạnh Trinh, 2013. Xây dựng khả năng thích ứng cho thành phố Hội An, Quảng Nam thông qua Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm. Tài liệu lưu trữ KBT biển Cù Lao Chàm
35. Chu Mạnh Trinh, 2014. Mô hình phát triển sinh kế địa phương góp phần sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường ở Cù Lao Chàm - Hội An. Tài liệu lưu trữ KBT biển Cù Lao Chàm
36. Chu Mạnh Trinh, 2014. Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm - Hội An, Định hướng phát triển bề vững. Tài liệu lưu trữ KBT biển Cù Lao Chàm
100
37. Chu Mạnh Trinh, 2015. Mô hình đồng quản lý tài nguyên và môi trường để phát triển bền vững ở Cù Lao Chàm - Hội An. Tài liệu lưu trữ KBT biển Cù Lao Chàm
38. Võ Sĩ Tuấn, 2013. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ phục hồi san hô cứng ở một số khu bảo tồn biển trọng điểm. Báo cáo đề tài cấp Bộ NN và PTNT. Tài liệu lưu trữ.
39. Hứa Thái Tuyến, 2013. Động vật thân mềm rạn san hô ở vùng biển Cù Lao
Chàm. Tạp Chí Khoa học và Công nghệ biển, 13(2): 116-124.
40. Ủy ban nhân dân thành phố Hội An, 2015. Quyết định Qui chế quản lý Khu dự
trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội An, Hội An.
Tiếng Anh
41. APEC (2014), Marine Sustainable Development Report. APEC Ocean and
Fisheries Working Group August 2014
42. Markus Schmidt, Helge Torgersen, Astrid Kuffner: Biofaction KG (Áo), World
wide views on Biodiversity 2012 (WWViews 2012)
43. Pariola S. & Platair G., (2002). Environmental Strategy Notes: Payments for
Environmental Services. WB: Washington, D.C.
44. Timothy J.Farnham (2007), Saving Nature’s Legacy, Origins of the Idea of
Biological Diversity, 14-15.
45. Vo Si Tuan, Hoang Xuan Ben, Nguyen Van Long and Phan Kim Hoang, 2006. Conservation of marine biodiversity: a tool for sustainable management in Cu Lao Cham Islands, Quang Nam Province. Proceedings of the 10th International Coral Reef Symposium, Okinawa, Japan 28 June – 2 July 2004: 1249-1258.
Website:
46. http://www.culaochammpa.com.vn/index.php?option=com_content&view=articl e&id=750%3Atinh-hinh-vi-phm-trong-khai-thac-thy-sn-6-thang-u-nm-ti-khu- btb-cu-lao-cham&catid=39%3Atin-khu-bo-tn-bin&Itemid=64&lang=vi
47. http://www.vasi.gov.vn/hoi-dap/khu-bao-ton-bien-la-gi-khu-bao-ton-bien-duoc- phan-loai-nhu-the-nao-he-thong-cac-khu-bao-ton-bien-de-xuat-o-viet-nam-va- ke-ten-cac-khu-bao-ton-bien-do/t708/c310/i389
48. https://biodiversityvn.wordpress.com/ 49. http://www.cbd.int/sp/targets/
101
PHỤ LỤC 1
Danh lục thành phần loài thực vật có mạch trên đảo Cù Lao Chàm ( Kết quả điều tra khảo sát theo 2đợt:
(Đợt 1: T5/2017 và Đợt 2: T1/2018)
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
I. LYCOPODIOPHYTA
Dạng sống
Công dụng
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N
NGÀNH THÔNG ĐẤT
1. Lycopodiaceae
Họ Thông đất
1.
Thảo
Huperzia salvinoides (Herter) Holub
Thạch tùng tứ đính
2.
Thảo
Lycopodiella cernua (L.) Pic. Serm.
3.
Thảo
Lycopodium clavatum L.
2. Selaginellaceae
Thông đất Thạch tùng dùi, Thông đá Họ Quyển bá
4.
Thảo
Selaginella delicautula (Desv.) Alston
Quyển bá yếu
5.
Thảo
Selaginella flabellata Spring
Quyển bá quạt
6.
Thảo
Selaginella trachyphylla A. Braun ex Hieron. II. POLYPODIOPHYTA
3. Aidiantaceae
Quyển bá nhám NGÀNH DƯƠNG XỈ Họ Tóc vệ nữ
Aidiantum caudatum L. Aidiantum flabellatum L.
Vệ nữ có đuôi Vệ nữ
4. Angiopteridaceae Angiopteris annamensis C. Chr. & Tardieu
Thảo Thảo Bụi
5. Aspleniaceae
Asplenium sp.
7. 8. 9. 10.
Thảo
6. Blechnaceae
Họ Móng ngựa Móng ngựa trung bộ Họ Tổ điểu Tổ điểu Họ Lá dừa
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
IUC N
CITE S
Blechnum orientale L.
Ráng lá dừa
7. Dicksoniaceae
Họ Cẩu tích
11. 12.
Cibotium barometz (L.) Sm.
Công dụng Thuốc
IIA
Cẩu tích
Dạng sống Thảo Bụi
Phụ lục II
8. Dryopteridaceae
13.
Nephrolepis cordifolia (L.) C. Presl
Thảo
14.
Leo
9. Gleicheniaceae Dicranopteris linearis (Burm. f.) Underw. 10. Polypodiaceae
Colysis wrightii (Hook.) Ching Pyrrosia sp.
Họ Ráng Mộc xỉ Ráng móng trâu hình tim Họ Guột Guột Họ Ráng nhiều chân Ráng cổ lý Ráng tai chuột
15. 16.
11. Pteridaceae
Họ Tóc vệ nữ
Thảo
17. 18. 19.
Acrostichum aureum L. Antrophyum callifolium Blume Pteris vittata L.
Thảo Thảo Thảo
Ráng biển Lưỡi beo Ráng sẹo gà dải có sọc
12. Schizaeaceae
Họ Ráng ngón
20.
Lygodium flexuosum (L.) Sw.
Bòng bong lắt léo
Leo
Lygodium scandens (L.) Sw.
Bòng bong bò
21.
III. Pinophyta
13. Cycadaceae
Ngành Thông Họ Tuế
22.
Cycas inermis Lour.
Sơn thuế
Leo Bụi
Cảnh
IIA
VU
14. Gnetaceae
23.
Gnetum latifolium Blume
Họ Gắm Gắm lá to
Leo
Phụ lục II
LC
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
24.
Gnetum montanum Markg.
Gắm núi
Công dụng
Dạng sống Leo
IUC N LC
IV. MAGNOLIOPHYTA
MAGNOLIOPSIDA 15. Acanthaceae
NGÀNH MỘC LAN LỚP MỘC LAN Họ Ô rô
25.
Acanthus ilicifolius L.
Ô rô
Thảo
LC
26.
Ruellia coerulea Morong
Quả nổ
Thảo
16. Aizoaceae
Họ Sam biển
27. 28.
Glinus oppositifolius (L.) DC. Sesuvium portulacastrum (L.) L.
Rau đắng đất Phiên hạch
Thảo Thảo
17. Amaranthaceae
Họ Rau dền
29.
Achyranthes aspera L.
Cỏ xước
Thảo Thuốc
30.
Amaranthus lividus L.
Dền cơm
Thảo Rau
31.
Amaranthus spinosus L.
Dền gai
Thảo
32. 33.
Alternanthera sessilis (L.) A.DC.. Celosia argentea L.
Rau rệu Mào gà đuôi lươn
Thảo Thảo
18. Anacardiaceae
Họ Xoài
34.
Buchanania arborescens (Blume) Blume
Chây
Gỗ
35.
Dracontomelon duperreanum Pierre
Sấu
Gỗ
36.
Gluta tavoyana Hook.f.
Sưng
Gỗ
Quả, Gỗ
37.
Rhus chinensis Mill.
Muối
Gỗ
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N
38.
Semecarpus anacardiopsis Evrard & Tardieu
Sưng đào
Dạng sống Gỗ
Công dụng
19. Ancistrocladaceae
Họ Trung quân
39.
Ancistrocladus tectorius (Lour.) Merr.
Dây trung quân
Leo
20. Annonaceae
Họ Na
40.
Annona glabra L.
Gỗ
Quả
Nê biển
41.
Fissistigma glaucescens (Hance) Merr.
Leo
Dây dất xiêm
42.
Desmos chinensis Lour.
Bụi
Hoa dẻ
43.
Goniothalamus touranensis Ast
Gỗ
Giác đế đà nẵng
44. Mitrella touranensis Bân
Gỗ
Vú bò đà nẵng
45. Mitrephora thorell Pierre
Gỗ
VU
Mạo đài thorel
46.
Polyalthia corticosa Finet & Gagnep.
Gỗ
Gỗ
Nhọc
47.
Uvaria littoralis (Blume) Blume
Leo
Bù dẻ lá lớn
48.
Xylopia vielana Pierre
Gỗ
Giền đỏ
21. Apiaceae
Họ Hoa tán
49.
Centella asiatica (L.) Urb.
Rau má
Thảo Rau
50.
Eryngium foetidum L.
Mùi tàu
Thảo Rau
22. Apocynaceae
Họ Trúc đào
51.
Alstonia scholaris (L.) R. Br.
Sữa
Gỗ
LR/ lc
52.
Cebera manghas L.
Mướp sát
Gỗ
Độc
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
Stt
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N
Công Dạng sống dụng Thảo Cảnh
53.
Catharanthus roseus (L.) G.Don
Dừa cạn
54.
Kopsia harmandiana Pierre ex Pit.
Cốp
Gỗ
55. Melodinus cochinchinensis (Lour.) Merr.
Dây giom
Leo
56.
Strophanthus divaricatus (Lour.) Hook. & Arn.
Sừng trâu
Leo
57.
Tabernaemontana bovina Lour.
Ớt rừng
Bụi
58.
Tabernaemontana bufalina Lour.
Lài trâu
Gỗ
59. Wrightia annamensis Eberh. & Dubard
Thừng mức
Gỗ
Gỗ
23. Aquifoliaceae
Nhựa ruồi
60.
Ilex annamensis Tardieu
Bùin trug bộ
Gỗ
61.
Ilex condorensis Pierre
Bùi côn đảo
Gỗ
24. Araliaceae
Họ Nhân sâm
62.
Brassaiopsis glomerulata (Blume) Regel
Than
Gỗ
63.
Dị sâm thơm
Gỗ
64.
Heteropanax fragrans (Roxb.) Seem. Schefflera petelotii Merr.
Chân chim núi
Gỗ
65.
Schefflera heptaphylla (L.) Frodin
Chân chim
Thuốc , cảnh Thuốc
66.
Trevesia palmata (Roxb.) Vis.
Đu đủ rừng
Gỗ
25. Asclepiadaceae
Họ Thiên lý
67.
Gymnema sylvestre R. Br. ex Schult.
Loã ty rừng
Leo
Thuốc
68.
Hoya carnosa (L.) R. Br.
Cẩm cù
Leo Cảnh
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N
Hoya diversifolia Blume
Cẩm cù
Công Dạng sống dụng Leo Cảnh
69.
Streptocaulon juventas Merr.
Hà thủ ô nam
Leo
Thuốc
70.
Toxocarpus wightianus Hooker & Arnott
Tiễn quả
71.
Leo
26. Asteraceae
Họ Cúc
72.
Ageratum conyzoides (L.) L.
Thảo
Cỏ lào
73.
Blumea balsamifera (L.) DC.
Thảo
Đại bi
74.
Conyza canadensis L.
Thảo
Ngải dại
75.
Eclipta prostrata (L.) Hassk.
Cỏ nhọ nồi, Cỏ mực
Thảo Thuốc
76.
Elephantopus scaber L.
Thảo
Cúc chỉ thiên
77.
Eupatorium odoratum L.
Thảo
Cỏ lào
78. 79.
Launaea sarmentosa (Willd.) Alston in Trimen Pluchea pteropoda Hemsl.
Thảo Bụi
Sa sâm Sài hồ nam
Hải cúc
80. Wedelia biflora (L.) DC. in Wight
Thảo Thuốc
27. Avicenniaceae
Họ Mắm
Gỗ
81.
Avicennia marina (Forsk.) Vierh.
Mắm
LC
28. Balsaminaceae
Họ Bóng nước
82.
Impatiens clavigera Hook. f.
Thảo
Bóng nước
83.
Impatiens touranensis Tardieu
Thảo
Bóng nước đà nẵng
29. Bignoniaceae
Họ Núc nác
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
Stt
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N
Dolichandrone serrulata (Wall. ex DC.) Seem.
Quao răng
84.
Dạng sống Gỗ
Công dụng
85.
Oroxylum indicum (L.) Kurz
Gỗ
Thuốc
Núc nác
86.
Radermachera sp.
Gỗ
Rà đẹt
30. Boraginaceae
Họ Vòi voi
87.
Carmona microphylla (Lamarck) G. Don
Bụi
Cùm rụm lá nhỏ
88.
Cordia sp.
Gỗ
Cườm rụm
89.
Heliotropium indicum L.
Thảo
Vòi voi
31. Cactaceae
Họ Xương rồng
90.
Opuntia dillenii (Ker-Gawl.) Haw.
Xương rồng bà
Bụi
32. Buddlejaceae
Họ Bọ chó
91.
Buddleja asiatica Lour.
Bọ chó
33. Caesalpiniaceae
Bauhinia touranensis Gagnep. Caesalpinia crista L. Caesalpinia bonduc (L.) Roxb. Cassia occidentalis L. Cassia tora L. Gymnocladus angustifolius (Gagnep.) J.E.Vidal Intsia bijuga (Colebr.) Kuntze Peltophorum pterocarpum (DC.) K.Heyne
Họ Muồng Móng bò đà nẵng Móc mèo Móc mèo Muồng Muồng lạc Lõi khoai Gõ biển Lim xẹt
34. Capparaceae
Họ Bạch hoa
92. 93. 94. 95. 96. 97. 98. 99. 100. 101. 102.
Capparis sepiaria L. Cleome viscosa L. Crateva magna (Lour.) DC.
Leo Bụi Bụi Bụi Thảo Gỗ Gỗ Gỗ Bụi Thảo Gỗ
Thuốc Gỗ Gỗ Gỗ
Cáp hàng rào Màn màn tím Bún
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N
Crateva formoensis (Jacobs) B. S. Sun
Bún đài loan
35. Caryophyllaceae
Họ Cẩm chướng
Polycarpaea sp.
Cóc mẩn
Họ Phi Lao
103. 104. 105.
36. Casuarinaceae Casuarina equisetifolia Forst. & Forst. f.
Phi lao
Dạng sống Gỗ Thảo Gỗ
Công dụng Gỗ, chắn gió
37. Celastraceae
Họ Dây gối
Celastrus sp. Maytenus diversifolia (Max.) Ding Hou
Hải đồng Lõa châu biển
38. Chenopodiaceae
Họ Rau muối
Suaeda maritima (L.) Dum. Chenopodium ambrosioides L.
Phì điệp biển Dầu giun
39. Chloranthaceae
Họ Sói
Sói rừng
Chloranthus spicatus (Thunb.) Makino 40. Clusiaceae
Họ Măng cụt
106. 107. 108. 109. 110. 111.
Calophyllum inophyllum L.
Mù u, Hồ đồng
Bụi Bụi Thảo Thảo Bụi Gỗ
Cồng đà nẵng Bứa lửa Vàng vé Bứa lá thuôn
Calophyllum tournanense Gagnep. ex P.F.Stevens Garcinia fusca Pierre Garcinia merguensis Wight Garcinia oblongifolia Champ. ex Benth. 41. Combretaceae
Họ Bàng
112. 113. 114. 115. 116.
Terminalia catappa L.
Bàng
Gỗ Gỗ Gỗ Gỗ Gỗ
LR/ lc
117.
Lumnitzera racemosa Willd.
Cóc trắng
Gỗ
Bóng mát
LC
42. Connaraceae
Họ Trường điều
118.
Leo
Quả giùm
Connarus paniculatus Roxb. var. paniculatus.
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
119.
Công dụng
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N
Dạng sống Leo
Dây trường điều
120.
Leo
Trường khế
Connarus paniculatus var. hainanensis (Merr.) Vid. Cnestis palala (Lour.) Merr.
43. Convolvulaceae
Họ Khoai lang
Ipomoea pes-caprae (L.) R. Br.
121.
Rau muống biển
Leo
Bìm chân cọp Bìm hoa vàng
122. 123.
Leo Leo
Ipomoea pes-tigridis L. Meremia hederacea (Burm. f.) Hallier'f. 44. Crassulaceae
Họ Trường sinh
Kalanchoe pinnata (Lamk.) Pers.
124.
Thuốc bỏng
45. Cucurbitaceae
125.
Thảo Cảnh, thuốc
Leo
Họ Bầu bí Dây cứt quạ
Gymnopetalum scabrum (Lour.) W. J. de Wilde & Duyfjes Trichosanthes sp.
Dưa núi
126.
Leo
46. Cuscutaceae
Họ Tơ hồng
Cuscuta chinensis Lamk.
127.
Tơ hồng
47. Dilleniaceae
Họ Sổ
Dillenia pentagyna Roxb. Dillenia turbinata Finet & Gagnep. Tetracera indica (Christm. & Panz.) Merr. 48. Dipterocarpaceae
Sổ Lọng bàng Dây chặc chìu Họ Dầu
Dipterocarpus altus Roxb. Dipterocarpus sp. Hopea odorata Roxb.
Dầu rái Dầu Sao đen
49. Droseraceae
Họ Bắt ruồi
Drosera sp.
Gỗ Gỗ Gỗ
Ký sinh Gỗ Gỗ Leo Gỗ Gỗ Gỗ Thảo
VU
Bắt ruồi
128. 129. 130. 131. 132. 133. 134.
50. Ebenaceae
Họ Thị
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
Diospyros apiculata Hieron Diospyros malabarica (Desr.) Kostel. Diospyros maritima Blume
Thị lọ nồi Thị lông nhung Thị ven biển
51. Elaeocarpaceae
Elaeocarpus floribundus Blume Elaeocarpus parviflorus Span. Elaeocarpus petiolatus (Jacq.) Wall.
Họ Côm Côm cuống dài Côm hoa nhỏ Côm
52. Erythroxylaceae
Erythroxylum annamense Tardieu
Họ Cô ca Cô ca trung bộ
53. Euphorbiaceae
Họ Thầu dầu
135. 136. 137. 138. 139. 140. 141. 142. 143. 144. 145. 146. 147. 148. 149. 150. 151. 152.
Dạng sống Gỗ Gỗ Gỗ Gỗ Gỗ Gỗ Gỗ Bụi Bụi Gỗ Gỗ Gỗ Gỗ Gỗ Gỗ Bụi Gỗ Gỗ
Công dụng
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N
Tai tượng Bọ nét Chòi mòi Chòi mòi lông Thàu táu Dâu da đất Dâu tiên Nhội Cù đề Đỏm thon Dạ nâu
153.
Lộc mại
Gỗ
154. 155. 156. 157. 158.
Acaphyla indica L. Alchornea rugosa (Lour.) Muell.-Arg. Antidesma chonmon Gagnep. Antidesma velutinum Tul. Aporosa ficifolia Baill. Baccaurea ramiflora Lour. Baccaurea silvestris Lour. Bischofia javanica Blume Breynia vitis-idaea (Burm. f.) C.E.C. Fischer. Briedelia monoica var. lancaefolia Muell.-Arg. Chaetocarpus castanocarpus (Roxb.) Thwaites Claoxylon indicum (Reinw. ex Blume) Hassk. Cleistanthus tonkinensis Jabl. Croton kongensis Gagnep. Euphorbia hirta L. Euphorbia atoto Forst. f.. Euphorbia thymifolia L.
Bụi Bụi Thảo Thảo Thảo
Thuốc
Cọc rào Khổ sâm Cỏ sữa lá lớn Đại kích biển Cỏ sữa đất
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
Giá
Công dụng Thuốc
Excoecaria agallocha L. Glochidion zeylanicum var. tomentosum (Dalzell) Trimen Bọt ếch lông Mã rạng lông Macaranga trichocarpa (Zoll.) Mỹll.Arg Ruối trung bộ Mallotus floribundus (Blume) Müll.Arg. Cánh kiến Mallotus philippensis (Lamk.) Muell.-Arg. Chó đẻ răng cưa Phyllanthus amarus Schum. Chó đẻ Phyllanthus urinaria L. Thầu dầu Ricinus communis L. Bồ ngót quả mọng Sauropus baccifonnis (L.) Airy-Shaw. Sòi Triadica cochinchinensis Lour. Sòi lá tròn Triadica rotundifolia (Hemsley) Esser Sơn đồng Vernicia cordata (Thunb.) A. Shaw
54. Fabaceae
159. 160. 161. 162. 163. 164. 165. 166. 167. 168. 169. 170. 171. 172. 173. 174. 175.
Abrus precatorius L. Canavalia maritima (Aubl.) Thouars Crotalaria pallida Ait. Dalbergia sp. Desmodium triquetrum (L.) DC.
Họ Đậu Cam thảo dây Đậu biển Sục sạc Tràng quả ba cạnh
Dạng sống Gỗ Bụi Bụi Bụi Gỗ Thảo Thuốc Thảo Thuốc Bụi Thảo Gỗ Gỗ Gỗ Leo Leo Thảo Gỗ Thảo
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N LC
176.
Derris elliptica (Wall.) Benth.
Dây mật
Độc
Leo
177.
Desmodium heterocarpon (L.) DC.
Thọc lép
Bụi
178.
Desmodium trifolium (L.) DC.
Thóc lép
Bụi
179.
Flemingia macrophylla (Willd.) Prain
Tóp mỡ
Bụi
180.
Lablab purpureus (L.) Sweet subsp. pupureus
Bạch biển
Leo
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
181.
Pueraria montana (Lour.) Merr.
Sắn dây dại
Dạng sống Leo
Công dụng
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N
182.
Leucaena leucocephala (Lam.) de Wit
Keo dậu
Bụi
183.
Millettia nigrescens Gagnep.
Nánh
Gỗ
184.
Millettia pulchra Kurz.
Mát rừng
Gỗ
Thuốc
185.
Ormosia sp.
Ràng ràng
Gỗ
55. Fagaceae
Họ Giẻ
186.
Castanopsis ceratacantha Rehder & E.H.Wilson
Dẻ gai sừng
Gỗ
Gỗ
187.
Castanopsis scortechinii Gamble
Dẻ gai đà nẵng
Gỗ
Gỗ
188.
Lithocarpus annamensis (Hickel & A.Camus) Barnett
Dẻ cau trung bộ
Gỗ
Gỗ
189.
Lithocarpus fenestratus (Roxb.) Rehder
Dẻ cau
Gỗ
Gỗ
190.
Quercus gemelliflora Blume
Sồi song xanh
Gỗ
56. Flacourtiaceae
Họ Mùng quân
191.
Casearia grewiifolia Vent.
Kén
Gỗ
192.
Casearia membranacea Hance
Nuốt lá màng
Gỗ
193.
Flacourtia indica (Burm. f.) Merr.
Mùng quân
Gỗ
194.
Trà ran nam bộ
Gỗ
195.
Homalium cochinchinense (Lour.) Druce Scolopia buxifolia Gagnepain
Cụm rụm
Bụi
196.
Scolopia chinensis (Lour.) Clos
Bôm tàu
Bụi
197.
Xylosma longifolia Clos
Mộc hương lá dài
Bụi
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
Dạng sống
Công dụng
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N
57. Gesneriaceae
Họ Tai voi
198.
Aeschynanthus poilanei Pellegr.
Má đào poilanei
Thảo
199.
Primulina eberhardtii (Pellegr.) Mich.Möller & A.Weber Cây ri ta eberhardt
Thảo
58. Goodeniaceae
Họ Hếp
200.
Scaevola taccada (Gaertn.) Roxb.
Hếp
Bụi
59. Hypericaceae
Họ Ban
201.
Cratoxylum cochinchinense (Lour.) Blume
Thành ngạnh
Gỗ
202.
Đỏ ngọn
Gỗ
Cratoxylum formosum subsp. pruniflorum (Kurz) Gogelein
60. Icacinaceae
Họ Thụ đào
203.
Gonocaryum lobbianum (Miers) Kurz
Cuống vàng
Gỗ
61. Juglandaceae
Họ Hồ đào
204.
Engelhardia sp.
Chẹo
Gỗ
62. Lamiaceae
Họ Bạc hà
205.
Agastache rugosa (Fisch. &C.A.Mey.) Kuntze
Hoắc hương núi
Thảo
206.
Gomphostemma sp.
Cỏ đinh hương
Thảo
207.
Hyptis suaveolens (L.) Poit.
É thơm
Thảo
208.
Leucas aspera (Willd.) Link
Mè đất nhám
Thảo
63. Lauraceae
Họ Long não
209.
Actinodaphne pilosa (Lour.) Merr.
Bộp lông
Gỗ
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N
210.
Cassytha filiformis L.
Công dụng
Tơ xanh
211. 212.
Cinnamomum sp. Litsea cubeba (Lour.) Warb.
Dạng sống Ký sinh Gỗ Gỗ
Quế rừng Màng tang
Litsea glutinosa (Lour.) C. B. Robins. Machilus odoratissimus Nees
Bời lời nhớt Kháo thơm
64. Lecythidaceae
Họ Lộc vừng
Barringtonia acutangula Barringtonia asiatica (L.) Kurz Barringtonia macrostachya (Jack) Kurz
Gỗ Gỗ Gỗ Gỗ Gỗ
Tinh dầu Cảnh
Lộc vừng Bàng vuông Lộc vừng chùm to
213. 214. 215. 216. 217.
65. Leeaceae
Họ Gối hạc
Leea compactiflora Kurz
Gối hạc
66. Loganiaceae
Strychnos axillaris Colebr. Strychnos angustiflora Benth. Strychnos vanprukii Craib
67. Loranthaceae
Họ Mã tiền Mã tiền hoa nách Củ chi Mã tiền cành vuông Họ Chùm gửi
218. 219. 220. 221. 222.
Helixanthera parasitica Lour.
Thuốc
Chùm gửi
223.
Taxillus chinensis (DC.) Danser
Mộc vệ tầu
Họ Bằng lăng
Bằng lăng ổi
68. Lythraceae Lagerstroemia crispa Pierre ex Laness. 69. Malvaceae
Họ Bông
224. 225. 226. 227.
Abelmoschus moschatus (L.) Medic Brownlowia tabularis Pierre Malvastrum coromandelianum (L.) Garcke
Bụi Leo Leo Gỗ Ký sinh Ký sinh Gỗ Bụi Gỗ Bụi
Gỗ
Vông vang Lò bó Hoàng manh
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
Hibiscus tiliaceus L. Sida acuta Burm. f. Sida rhombifolia L.
Bụp tra Bái nhọn Ké hoa vàng
Dạng sống Gỗ Bụi Bụi
Công dụng
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N
Thespesia populnea (L.) Soland. ex Correa Urena lobata L.
Tra làm vồ Ké hoa đào
70. Melastomataceae
Họ Mua
Melastoma malabathricum L. Memecylon edule Roxb.
Mua Sầm
71. Meliaceae
Họ Xoan
Aglaia cambodiana (Pierre) Pierre Aglaia lawii (Wight) C. J. Saldanha Melia azedarach L.
Gội Gội biển Xoan
72. Menispermaceae
Họ Tiết dê
Pericampylus glaucus (Lamk.) Merr. Stephania rotunda Lour.
Dây châu đảo Bình vôi
73. Mimosaceae
Họ Trinh nữ
Lecoena lecocephala (Lamk.) de Wit Mimosa pudica L.
Keo dậu Xấu hổ
74. Molluginaceae
Họ Rau Đắng đất
228. 229. 230. 231. 232. 233. 234. 235. 236. 237. 238. 239. 240. 241. 242. 243.
Glinus lotoides L. Glinus oppositifolius (L.) DC.
Rau đắng lông Rau đắng đất
Gỗ Bụi Bụi Gỗ Gỗ Gỗ Gỗ Leo Leo Gỗ Bụi Thảo Thảo
Gỗ Gỗ Gỗ Thuốc Cảnh
IIA
LC
75. Moraceae
Họ Dâu tằm
Mít nài Chay lá bồ đề
244. 245. 246. 247. 248. 249.
Artocarpus chama Buch.-Ham. Artocarpus styracifolius Pierre Artocarpus rigidus subsp. asperulus (Gagnep.) F.M.Jarrett Mít rừng Ficus altissima Blume Ficus annaluta Blume Ficus benjamina L.
Đa Đa xanh Si
Gỗ Gỗ Gỗ Gỗ Gỗ Gỗ
Cảnh
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
Ficus depressa Blume Ficus microcarpa L.f. Ficus superba (Miq.) Miq. var. japonica Miq. Maclura cochinchinensis (Lour.) Corner Streblus asper Lour. Streblus ilicifolius (Vidal) Corner
Đa lá xoài Gừa Rau sộp Gai mang Ruối Ô rô núi
76. Myristicaceae
Họ Máu chó
Knema globularia (Lam.) Warb. Knema conferta (King) Warb.
Máu chó Máu chó lá nhỏ
77. Myrsinaceae
Họ Đơn nem
Dạng sống Gỗ Gỗ Gỗ Leo Gỗ Bụi Gỗ Gỗ Bụi Bụi Bụi
Công dụng Gỗ Gỗ Thuốc
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N
Gỗ
Ardisia aciphylla Pitard Ardisia gigantifolia Maesa indica Wall. ex DC. Myrsine linearis Myrsine seguinii H. Lev
Cơm nguội Khôi tía Đơn nem Xây hẹp Mặt cắt
78. Myrtaceae
Họ Sim
250. 251. 252. 253. 254. 255. 256. 257. 258. 259. 260. 261. 262. 263.
Melaleuca leucadendra (L.) L.
Leo Gỗ
Tràm
264. 265. 266. 267.
Psidium guajava L. Rhodomyrtus tomentosa (Ait.) Hassk. Syzygium cumini (L.) Skeels Syzygium polyalthum (Wight.) Walp.
Gỗ Bụi Gỗ Gỗ
Ổi Sim Trâm mốc Sắn thuyền
268. 269. 270.
Syzygium touranense Merr. & L.M.Perry Syzygium syzygioides (Miq.) Amsh. Syzygium zeylanicum (L.) DC.
Gỗ Gỗ Gỗ
Tinh dầu Quả Quả Gỗ Vỏ, Gỗ Gỗ Gỗ
Trâm đà nẵng Trâm Trâm
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
79. Nepenthaceae
Nepenthes anamensis Macfarl.
80. Nyctaginaceae
Họ Nắp ấm Nắp ấm trung bộ Họ Hoa phấn
Dạng sống Leo
Công dụng
Boerhavia diffusa L.
Thảo Thuốc
81. Ochnaceae
Ochna integerrima (Lour.) Merr.
Sâm đất Họ Mai Mai rừng
82. Olacaceae
Họ Dương đầu
Anacolosa griffithii Mast. Olax imbricata Roxb.
Xun thượng Dương đầu
83. Oleaceae
Họ Nhài
Jasminum nervosum Lour. Jasminum scandens (Retz.) Vahl
Vằng Nhài leo
84. Onagraceae
Họ Rau mương
Ludwigia prostrata Roxb.
85. Opiliaceae
Cansjera rheedii Blanco
Rau mương đất Họ Rau sắng Sơn cam
86. Oxalidaceae
Họ Chua me đất
271. 272. 273. 274. 275. 276. 277. 278. 279. 280.
Oxalis corniculata L.
Bụi Bụi Bụi Leo Leo Thảo Bụi Thảo
Thuốc
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N
Chua me đất hoa vàng
87. Passifloraceae
Họ Lạc tiên
Passiflora foetida L.
Lạc tiên
88. Phytolaceae
Họ Thương lục
Phytola sp.
Thương lục
89. Piperaceae
Họ Lá lốt
281. 282. 283. 284.
Piper boehmeriifolium (Miq.) Wall. ex C. DC. Piper lolot C. DC.
Tiêu lá gai Lá lốt
Leo Thảo Thảo Thảo
Thuốc Rau,
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
Dạng sống
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N
Họ Hắc châu
Cườm thảo
Công dụng Thuốc
Gỗ
90. Pittosporaceae Pittosporum floribundum Wight & Arn. 91. Plantaginaceae
Họ Mã đề
Plantago major L.
Thảo Thuốc
Mã đề
92. Plumbaginaceae
Đuôi công
Plumbago zeylanica
Bạch hoa xà
Thảo Thuốc
93. Polygalaceae
Họ Viễn chí
Polygala chinensis L.
Viễn chí
Bụi
94. Polygonaceae
Họ Rau răm
Coccoloba uvifera (L.) L. Polygonum barbatum L. Polygonum chinense L.
Nho biển Nghể râu Lá lồm
95. Portulacaceae
Họ rau sam
Portulaca oleracea L. Portulaca quadrica
Rau sam Sam lá nhỏ
96. Proteaceae
Họ Chẹo thui
Helicia cochinchinensis Lour.
Chẹo thui
97. Rhamnaceae
Họ Táo
Colubrina asiatica (L.) Brongn Rhamnus crenatus Sieb. & Zucc. Sageretia theezans (L.) Brongn. Ziziphus oenoplia (L.) Mill.
98. Rhizophoraceae
Rhizophora apiculata Blume Bruguiera gymnorrhiza (L.) Lam.
Lẹo mắt Mận rừng Canh châu Táo rừng Họ Đước Đước vòi Vẹt dù
99. Rosaceae
Họ Hoa hồng
285. 286. 287. 288. 289. 290. 291. 292. 293. 294. 295. 296. 297. 298. 299. 300. 301.
Eriobotrya cavaleriei
Cảnh Rau Thuốc
Gỗ Thảo Leo Thảo Thảo Gỗ Bụi Bụi Bụi Bụi Gỗ Gỗ Gỗ
Cay cho
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
Dạng sống
Công dụng
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N
(H. Lev.) Rheder Rubus alcefolius Poir. Rubus cochinchinensis Tratt. Rubus moluccanus L.
Ngấy Ngấy hương Ngấy
100.
Rubiaceae
Họ Cà phê
Canthium dicoccum (Gaertn.) Merr. Canthium horridum Blume Gardenia annamensis Pit. Hedyotis biflora (L.) Lamk. Hedyotis corymbosa (L.) Lamk. Hedyotis trinervia (Retzius) Roemer & Schultes Ixora sp. Lasianthus cyanocarpus Jack Lasianthus pierrei Pit. Morinda citrifolia L. Morinda umbellata L. Mussaenda densiflora H.L.Li \ Neolamarckia cadamba (Roxb.) Bosser Paederia foetida L. Paederia scandens (Lour.) Merr. Psychotria montana Blume Randia spinosa Blume
Xương cá Găng nghèo Dành dành An điền hai hoa Cóc mẩn An điền ba gân Mẫu đơn Sú hương Sú hương pierre Nhàu Ba kích hoa tán Bướm bạc Gáo Rau mơ thối Rau mơ leo Lấu Găng
101.
Rutaceae
Họ Cam
Atalantia buxifolia (Poir.) Oliv. Acronychia pedunculata (L.) Miq. Clausena excavata Burm.f. Glycosmis pentaphylla (Retz.) DC. Micromelum hirsutum Oliv.
302. 303. 304. 305. 306. 307. 308. 309. 310. 311. 312. 313. 314. 315. 316. 317. 318. 319. 320. 321. 322. 323. 324. 325. 326.
Quýt gai Bưởi bung Hồng bì dại Cơm rượu Mắt trâu
Leo Leo Leo Gỗ Bụi Bụi Thảo Thảo Thảo Bụi Bụi Bụi Bụi Leo Leo Gỗ Leo Leo Bụi Bụi Bụi Gỗ Bụi Bụi Bụi
Thuốc Thuốc Thuốc Rau
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
Zanthoxylum nitidum (Roxb.) DC.
Sabiaceae
Salicaceae
Sẻn Họ Thanh phong Mật xạ cuống dài Họ Liễu Bom gai
102. Meliosma longipes Merr. 103. Scolopia spinosa Warb. 104.
Sapindaceae
Họ Bồ hòn
Cardiospermum halicacabum L. Dimocarpus longan var. obtusus (Pierre) Leenh. Dodonaea viscosa (L.) Jacq. Lepisanthes rubiginosa (Roxb.) Leenh.
Tầm phỗng Nhãn rừng Chành ràng Nhãn dê
105.
Sapotaceae
Họ Hồng xiêm
Planchonella obovata (R.Br.) Pierre Sarcosperma angustifolium Gagnep. Xantolis maritima (Pierre ex Dubard) P. Royen
Mộc Chây Ma dương
106.
Saururaceae
Họ Giấp cá
Houttuynia cordata Thumb.
Diếp cá
107.
Saxifragaceae
Họ Thường sơn
Dichroa febrifuga Lour.
108. Scrophulariaceae
Bacopa monnieri (L.) Wettst. Limnophila chinensis (Osbeck) Merr. Lindernia antipoda (L.) Alston Lindernia ciliata (Colsm.) Pennell Scoparia dulcis L.
Dạng sống Leo Gỗ Gỗ Leo Gỗ Bụi Gỗ Gỗ Gỗ Gỗ Thảo Bụi Thảo Thảo Thảo Thảo Thảo
Công dụng Rau
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N LC
109. Simaroubaceae
Thường sơn Họ Hoa Mõm chó Rau đắng biển Rau ngổ Màn đất Lữ đằng lông Cam thảo nam Thanh thất
327. 328. 329. 330. 331. 332. 333. 334. 335. 336. 337. 338. 339. 340. 341. 342. 343. 344. 345. 346.
Ailanthus triphysa (Dennst.) Alston Brucea javanica (L.) Merr. Eurycoma longifolia Jack.
Thanh thất Sầu đâu cứt chuột Bách bệnh
Gỗ Bụi Bụi
Thuốc
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
Harrisonia perforata (Blanco) Merr.
Hải sơn
110.
Solanaceae
Họ Cà
Physalis angulata L. Solanum americanum Mill.
Tầm bóp Lu lu đực
Công dụng
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N
111.
Sterculiaceae
Họ Trôm
Firmiana colorata (Roxb.) R. Br. Helicteres angustifolia L. Helicteres angustifolia L. Pterospermum heterophyllum Hance Sterculia lanceolata Cav. Waltheria americana L. 112.
Styracaceae
Styrax agrestis (Lour.) G. Don
Ngô đồng Tổ kén Cui biển Lòng mang Sảng Hoàng tiên Họ Bồ đề Ô rép
Symplocaceae
Họ Dung
113. Symplocos glomerata King ex C.B. Clarke Symplocos cochinchinensis var. laurina (Retz.) Noot.
Dung chụm Dung lá trà
114.
Thymeleaceae
347. 348. 349. 350. 351. 352. 353. 354. 355. 356. 357. 358. 359. 360.
Wikstroemia indica (L.) C. A. Mey. Aquilaria crassna Pierre
Họ Trầm Dó miết Ấn Độ Dó bầu
Dạng sống Bụi Thảo Thảo Gỗ Bụi Gỗ Gỗ Gỗ Bụi Gỗ Gỗ Gỗ Bụi Gỗ
CR
115.
Tiliaceae
Họ Đay
Đay quả dài Gai đầu lông
Corchorus olitorius L. Triumfetta pseudocana Sprague & Craib. Ulmaceae
116.
Họ Du
Celtis philippensis Blanco Tremna orientalis (L.) Blume
Sếu Hu đay
117.
Urticaceae
Họ Gai
361. 362. 363. 364. 365.
Boehmeria nivea (L.) Gaudich.
Gai
Bụi Bụi Gỗ Gỗ Bụi
Thuốc Gỗ, Trầm Lá
Phụ lục II
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
Pouzolzia zeylanica (L.) Benn.
Bọ mắm
Verbenaceae
Họ Cỏ roi ngựa
118. Callicarpa albida Blume Clerodendrum cyrtophyllum Tucrz Clerodendrum inerme (L.) Gaertn. Lantana camara L. Phyla nodiflora (L.) Greene. Premna corymbosa (Burm. f.) et Willd. Vitex rotundifolia L. f. Vitex trifolia L.
Trứng ếch Bọ mẩy Vạng hôi Ngũ sắc Lức dây Vọng cách Quan âm biển Đẻn ba lá
Viscaceae
Họ Ghi
Càng cua
119. Viscum ovalifolium DC. 120.
Vitaceae
Họ Nho
Ampelopsis cantoniensis (Hook. & Arn.) Planch. Cayratia japonica (Thunb.) Gagnep. Cayratia trifolia (L.) Domino Cissus triloba (Lour.) Merr. Tetrastigma retinervium Planch. Vitis balansaeana Planch.
Chè dây Vác nhật Vác ba lá Chìa vôi Tứ thư Nho dại
Dạng sống Thảo Bụi Bụi Bụi Bụi Thảo Bụi Bụi Gỗ Bụi Leo Leo Leo Leo Leo Leo
Công dụng Thuốc
LILIOPSIDA 121. Amaryllidaceae
LỚP HÀNH Họ Thuỷ tiên
366. 367. 368. 369. 370. 371. 372. 373. 374. 375. 376. 377. 378. 379. 380. 381. 382.
Crinum asiaticum L.
Náng hoa trắng
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N
122.
Araceae
Họ Ráy
383.
Alocasia macrorrhizos (L.) G. Don
Ráy rừng
Thảo Cảnh, Thuốc
Thảo
384.
Alocasia odora (Roxb.) C. Koch
Dọc mùng
Thảo
Rau
LC
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
Stt
Homalomena occulta (Lour.) Schott
Thiên niên kiện
Công Dạng sống dụng Thảo Thuốc
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N
385.
386.
Pothos repens (Lour.) Druce
Ráy leo
Leo
387.
Rhaphidophora decursiva (Roxb.) Schott.
Ráy leo
Leo
123.
Arecaceae
Họ Cau
388. 389.
Arenga pinnata (Warmb.) Merr. Calamus rudentum Lour.
Búng báng Mây
Bụi Leo
390.
Calamus platyacanthus Warb. ex Becc.
VU
IIA
Song mật
Leo
391.
Calamus tetradactylus Hance
Mây
Leo
Caryota mitis Lour. Cocos nucifera L. Licuala spinosa Thunb. Nypa fruticans Wurmb. Phoenix paludosa Roxb.
124. Asparagaceae
392. 393. 394. 395. 396. 397.
Asparagus cochinchinensis (Lour.) Merr.
Móc Dừa Mật cật gai Dừa nước Chà là biển Họ Thiên môn đông Thiên môn đông
Bụi Gỗ Bụi Bụi Bụi Leo
125. Commelinaceae
Họ Thài lài
Commelina benghalensis L. Commelina communis L.. Murdannia nudiflora (L.) Brien Pollia thyrsiflora (Blume) Steud.
Thài lài lông Thài lài Lõa trai Bôn chùy
Thảo Thảo Thảo Thảo
Đan đan lát Đan lát Đan lát Cảnh Quả Quả Cảnh, Thuốc
LC
Cyperaceae
Họ Cói
398. 399. 400. 401. 402.
126. Cyperus compressus L.
Cói hoa dẹt
Thảo
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
Công dụng
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N LC LC
Cyperus rotundus L. Cyperus stoloniferus Retz. Fimbristylis sp.
403. 404. 405.
Dạng sống Thảo Thảo Thảo
Cỏ gấu Cú biển Cói quăn
Kyllinga brevifolia Rottb.
406.
Thảo
Cói tròn đầu
407.
Thảo
Cói bạc đầu
Kyllinga nemoralis (J.R.Forst. & G.Forst.) Dandy ex Hutch. & Dalziel Mariscus javanicus (Houtt) Merr. & Metc Scleria leavis Retz. Scirpus juncoides Roxb.
Lác Java Đưng ba cạnh Cói giùi bấc
127.
Dioscoreaceae
Họ Củ nâu
Dioscorea alata L. Dioscorea esculenta (Lour.) Burkill
Khoai vạc Củ từ
408. 409. 410. 411. 412.
Thảo Thảo Thảo Leo Leo
Củ Củ
Dracaenaceae
Họ Huyết giác
128. Dracaena cambodiana Pierre ex Gagnep. Dracaena angustifolia Roxb.
413. 414.
Bụi Bụi
Huyết giác Bồng bồng
Thuốc Thuốc , cảnh
129.
Iridaceae
Họ Lay ơn
Belamcanda chinensis (L.) DC.
415.
Rẻ quạt
Thảo Cảnh, Thuốc
130.
Maranthaceae
Họ Lá dong
Thảo
Lá dong
416.
Phrynium sp.
Họ Chuối
131.
Mussaceae
Bụi
Thuốc
Chuối rừng
417.
Mussa sp.
132.
Orchidaceae
Họ Lan
Quế
418.
Aerides odorata Lour.
Thảo Cảnh
IIA
Phụ lục II
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
419.
Cymbidium aloifolium (L.) Sw.
Kiếm lô hội
Công Dạng sống dụng Thảo Cảnh
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019 IIA
IUC N
420.
Dendrobium podagraria Hook. f.
Tiểu thạch hộc
Thảo Cảnh
IIA
421.
Ludisia discolor (Ker-Gawl.) A. Rich
Lá gấm
Thảo Thuốc
IIA
CITE S Phụ lục II Phụ lục II Phụ lục II
133.
Pandanaceae
Họ Dứa dại
422.
Dứa việt
Bụi
Thuốc
Pandanus odoratissimus L. f. var. vietnamensis (St. John) B. Stone
134.
Poaceae
Họ Hoà thảo
423.
Brachiaria reptans (L.) C. A. Gardner & C. E. Hubb.
Vĩ thảo bò
Thảo
424. 425. 426. 427. 428.
Thảo Thảo Thảo Thảo Thảo
Cước Lục lông Cỏ may Xoang trục Cỏ gà
Cenchrus brownei Roem. & Schult. Chloris barbata (L.) Sw. Chrysopogon aciculatus (Retz.) Trin. Coelorachis sp. Cynodon dactylon (L.) Pers.
429. 430.
Thảo Thảo
Túc hình hai sừng Túc hình rìa
Digitaria bicornis (Lamk.) Roem. & Schult. Digitaria ciliaris (Retz.) Koel.
431. 432.
LC
Thảo Thảo
Cỏ lồng vực nước Cỏ mần trầu
Echinochloa crus-galli (L.) Beauv. Eleusine indica (L.) Gaertn
433. 434. 435.
Thảo Thảo Thảo
Bần thảo rìa Cỏ tranh Cỏ gừng
Eremochloa ciliaris (L.) Merr. Imperata cylindrica (L.) Beauv. Panicum repens L.
Thảo
San nước
436.
Paspalum paspaloides (Michx.) Scribn.
Stt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
437.
Phragmites karka (Retz.) Trin. ex Steud.
Sậy núi
Dạng sống Thảo
Công dụng
SĐVN (2007)
NĐ 06/2019
CITE S
IUC N LC
438.
Setaria geniculata (Lamk.) Beauv.
Cỏ sâu róm
Thảo
135.
Smilacaceae
Họ Khúc khắc
439.
Smilax corbularia Kunth
Kim cang
Leo
440.
Smilax gagnepainii T.Koyama
Kim cang có cánh
Leo
441.
Smilax poilanei Gagnep.
Kim cang poilan
Leo
Leo
136.
Stemonaceae
Bách bộ
442.
Stemona tuberosa Lour.
Bách bộ
Thảo Thuốc
137.
Zingiberaceae
Họ Gừng
443.
Alpinia globosa (Lour.) Horan.
Ré
Thảo Thuốc
444.
Alpinia galanga (L.) Willd.
Gừng gió
Thảo
445.
Curcuma zedoria (Berg.) Roscoe
Nghệ đen
Thảo Thuốc
Nguồn [1]
PHỤ LỤC 2
Bảng danh sách loài thú ở quần đảo Cù Lao Chàm
TL KQNC NĐ 32 SĐV N STT Tên phổ thông Tên Khoa học IUCN (2018) (2006) (2007)
I. Bộ chuột chù Soricomorpha
1. Họ chuột chù Soricidae
1. Chuột chù nhà Suncus murinus QS,M
II. Bộ Dơi Chiroptera
2. Họ Dơi quả Pteropodidae
2. Dơi chó mũi ống Cynopterus QS,M
horsfieldii
3. Họ Dơi mũi lá Rhinolophidae
3. Dơi lá đuôi Rhinolophus QS,M
affinis
4. Dơi lá mũi nhỏ Rhinolophus QS,M
pusillus
4. Họ Dơi nếp Hipposideridae
mũi
5. Dơi nếp mũi nâu Hipposideros QS,M
galeritus
6. Dơi nếp mũi xám Hipposideros QS,M
lớn grandis
7. Dơi nếp mũi Hipposideros QS,M
xinh pomona
5. Họ Dơi muỗi Vespertilionidae
8. Dơi lông đen cf. QS,TK
Pipistrellus abramus
Megadermatidae 6. Họ Dơi ma
9. Dơi ma nam Megaderma QS,M
spasma
IUCN TL KQNC NĐ 32 SĐV N STT Tên phổ thông Tên Khoa học (2018) (2006) (2007)
Primates
III. Bộ Linh trưởng
7. Họ Khỉ Cercopithecidae
10. Khỉ đuôi dài Macaca QS IIB VU
fascicularis
11. Khỉ vàng Macaca mulatta QS IIB LR
8. Họ Cu li Loricidae
12. Cu li nhỏ X PV IB VU Nycticebus
pygmaeus
IV. Bộ Ăn thịt Carnivora
9. Họ Mèo Felidae
13. Mèo rừng Prionailirus X PV IB
bengalensis
10. Họ chốn Mustelidae
14. Lửng lợn Arctonyx collaris X PV
15. Rái cá lông mượt Lutra X IB EN VU
perspicilata
11. Họ cầy Viverridae
16. Cầy vòi đốm Paradoxurus X
ermaphroditus
V.Bộ gậm nhấm Rodentia
12. Họ Sóc Sciuridae
17. Sóc bụng đỏ X QS
Callosciurus erythraeus
18. Sóc đỏ Callosciurus X QS
finlaysonii
19. Sóc đen Ratufa bicolor X QS VU NT
20. Sóc mõm hung Dremomys X QS
IUCN TL KQNC NĐ 32 SĐV N STT Tên phổ thông Tên Khoa học (2018) (2006) (2007)
rufigenis
21. Sóc vằn lưng X QS
Menetes berdmorei
22. Sóc chuột Tamiops X QS
macclellandii
13. Họ dúi Rhyzomyidae
23. Dúi mốc lớn X PV Rhyzomys
pruinosus
14. Họ nhím Hystricidae
24. Nhím đuôi ngắn Hystrix X PV
brachyura
15. Họ Chuột Muridae
25. Chuột nhắt nhà Mus musculus X M
26. Chuột nhà Rattus tanezumi X M
27. Chuột đen Rattus rattus X M
28. Chuột nâu/chuột Rattus X M
cống norvegicus
29. Chuột bụng trắng Rattus niviventer X M
VI. Bộ nhiều Scandentia
răng
16. Họ Đồi Tupaiidae
30. Đồi Tupaia belangeri X QS
VII. Bộ móng
guốc chẵn
17. Họ lợn
31. Lợn rừng Sus scrofa X PV
VIII. Bộ Tê tê
32. Tê tê Java Manis javancia X IB
Nguồn [ 1, 2, 3, 5]
Ghi chú:
Sinh cảnh phân bố:
1. Ven biển, cồn cát và khu dân cư (độ cao dưới 100m);
2. Trảng cỏ, cây bụi và đồng ruộng (độ cao dưới 100m);
3. Rừng phục hồi và rừng tự nhiên ít bị tác động (độ cao 100 – 500m)
Nguồn tư liệu: QS: Quan sát; PV: Phỏng vấn; TL: Tài liệu đã công bố; M: Thu mẫu vật; TK: nghe và phân tích tiếng kêu.
Giá trị KH và KT: SĐVN, 2007; IUCN, 2018: CR – Rất nguy cấp; EN – Nguy cấp;
VU – Sẽ nguy cấp; LR – Ít nguy cấp; NT – Gần bị đe dọa.
NĐ 32/2006:
IB – Nhóm nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại;
IIB – Nhóm hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại
PHỤ LỤC 3
Danh mục thành phần loài lưỡng cư, bò sát ở quần đảo Cù Lao Chàm
TT Tên khoa học Tên Việt Nam
AMPHIBIA LỚP LƯỠNG CƯ
Anura Bộ Không đuôi
1. Bufonidae Họ Cóc
Cóc nhà 1. 1 Duttaphrynus melanostictus (Schneider, 1799)
Nhái bầu mukhlesur
3. Microhylidae Họ Nhái bầu
2.
Microhyla mukhlesuri Hasan, Islam, 6 Kuramoto, Kurabayashi & Sumida, 2014 4. Dicroglossidae
Họ Ếch nhái chính thức
Ngóe 3. 7 Fejervarya limnocharis (Gravenhost, 1829)
Ếch đồng 4. 8 Hoplobatrachus rugulosus (Wiegmann, 1834)
Ếch nhẽo 5. 9 Limnonectes bannaensis Ye, Fei, & Jiang, 2007
Limnonutes poilani (Bouret, 1942) Ếch poilan
Cóc nước nhẵn 6. Ocidozyga martensii (Peters, 1867)
Occidozyga lima (Gravenhorst, 1829) Cóc nước sần
5. Ranidae Họ Ếch nhái
Chẫu chuộc 7. Hylarana guentheri (Boulenger, 1882)
Ếch suối 8. Hylarana sp.
6. Rhacophoridae Họ Ếch cây
Chẫu chàng mi an ma 9. Polypedates mutus (Smith, 1940)
vietnamensis Ếch cây sần việt nam 10. Poyarkov, Orlov, Theloderma Moiseeva, Pawangkhanant, Ruangsuwan, Vassilieva,
Galoyan, Nguyen & Gogoleva, 2014
REPTILIA LỚP BÒ SÁT
Squamata Bộ Có vảy
Sauria Phân bộ Thằn lằn
1. Agamidae Họ Nhông
Nhông xanh 11. Calotes versicolor (Daudin, 1802)
Nhông cát sọc 12. Leiolepis guentherpetersi Darevsky & Kupriyanova, 1993
2. Gekkonidae Họ Tắc kè
13. Thạch sùng ngón giả bốn vạch Cyrtodactylus pseudoquadrivirgatus Roesler, Vu, 2 Nguyen, Ngo & Ziegler, 2008 6
Thạch sùng cụt thường 14. Gehyra mutilata (Weigmann, 1834)
Tắc kè 15. Gekko gecko (Linnaeus, 1758)
Tắc kè đuôi dẹp 16. Hemidactylus platyurus (Schneider, 1792)
Thạch sùng đuôi sần 17. Hemidactylus frenatus Schlege, 1836
4. Lacertidae Họ Thằn lằn chính thức
Liu điu chỉ 18. Takydromus sexlineatus Daulin, 1802
5. Scincidae Họ Thằn lằn bóng
Thằn lằn bóng hoa 19. Eutropis multifasciatus (Kuhl, 1820)
Thằn lằn bóng đốm 20. Eutropis macularius (Blyth, 1853)
Thằn lằn vạch 21. Lipinia vittigera (Boulenger, 1894)
Thằn lằn chân ngắn bao ring 22. Lygosoma bowringii (Gunther, 1864)
Thằn lằn phê nô đuôi đỏ 23. Scincella rufocaudata Darevsky & Nguyen, 1983
6. Varanidae Họ Kỳ đà
Kỳ đà hoa 24. Varanus salvator (Laurenti, 1786)
Serpentes Phân bộ Rắn
7. Typhlopidae Họ Rắn giun
Rắn giun thường 25. Ramphotyphlops braminus (Daudin, 1803)
8. Cylindrophiidae Họ Rắn hai đầu
Rắn hai đầu 26. Cylindrophis ruffus (Laurenti, 1768)
10. Xenopeltidae Họ Rắn mống
Rắn mống, rắn hổ hành 27. Xenopeltis unicolor Reinwardt in Boie, 1827
11. Colubridae Họ Rắn nước
Rắn rào xanh 28. Boiga cyanea (Dumeril, Bibron & Dumeril, 1854)
Rắn rào quảng tây 29. Boiga quangxiensis
Rắn cườm 30. Chrysopelea ornata (Shaw, 1802)
Rắn sọc dưa 31. Coelognathus radiatus (Boie, 1827)
Rắn dẻ 32. Dryocalamus davisonii (Blanford, 1878)
Rắn khuyết mũ 33. Lycodon capucinus Boie in Boie 1827
Rắn khuyết đai 34. Lycodon subcinctus Boie, 1827
Rắn khiếm trung quốc 35. Oligodon chinensis (Gunther, 1888)
culaochamensis Nguyen, Nguyen, Rắn kiếm cù lao chàm 36. Oligodon Nguyen, Phan, Jiang & Murphy, 2017
Rắn khiếm vân đen 37. Oligodon ocellatus (Morice,1875)
Rắn khiếm đuôi vòng 38. Oligodon fasciolatus (Gunther, 1864
Rắn ráo thường 39. Ptyas korros (Schlegel, 1837)
Rắn hổ đất nâu 40. Psammodynastes pulverulentus (Boie, 1827)
Rắn nước đốm vàng 41. Xenochrophis flavipunctatus (Hallowell, 1861)
12. Elapidae Họ Rắn hổ
Rắn cạp nong 42. Bungarus faciatus (Schneider, 1801)
Rắn hổ mang một mắt kính 43. Naja kaouthiaLesson, 1831*
13.Viperidae Họ Rắn lục
Rắn lục mép trắng 44. Trimeresurus albolabris (Gray, 1842).
Rắn lục xanh 45. Viridovipera stejnegeri (Schmidt, 1925).
Testudines Bộ Rùa
17. Cheloniidae Họ Vích
Vích 46. Chelonia mydas (Linnaeus, 1758)
Nguồn [1, 27]
PHỤ LỤC 4
Danh mục động vật đáy tại vùng biển Cù Lao Chàm
TT Lớp/họ Tên khoa học Bến Lăng Vũng Thùng Bãi Bắc Sẻo Mô
Địa điểm Hòn Đá Bao
+ 1 Ngành thân mềm Mollusca Lớp Hai mảnh vỏ Bivalvia Arcidae +
2 Chamidae +
3 Isognomonidae +
4 +
5 Ostreidae + +
6 Pinnidae +
7 +
8 Pteriidae + + +
9 +
10 + +
11 Tridacn idae +
Barbatia foliata (Forsskal, 1775) Chama japonica Lamarck, 1819 Isognomon isognomum (Linne, 1758) Isognomon perna (Linnaeus, 1767) Magallana nippona (Seki, 1934) Pinna muricata Linnaeus, 1758 Pinna bicolor Gmelin, 1791 Pinctada margaritifera (Linne, 1758) Pinctada martensii (Dunker, 1872) Pteria tortirostris (Dunker, 1849) Tridacna squamosa Lamarck, 1819
12 Lớp Chân Bụng Gastropoda Cerithiidae +
13 Conidae +
Cerithium lissum Watson, 1880 Conus pertusus Hwass in Bruguière, 1792
14 +
15 +
16 +
17 +
18 Cypraeidae +
19 + +
20 +
21 +
22
23 Muricidae + +
24 + +
25 + + +
26 Phyllidiidae + + +
27 28 Strombidae + + +
29 + +
+ 30 Trochidae +
31 + + +
32 Turbinidae +
33 + +
Conus gilvus Reeve, 1849 Conus musicus Hwass in Bruguiere, 1792 Conus textile Linnaeus, 1758 Conus miles Linnaeus, 1758 Calpurnus verrucosus (Linne, 1758) Cypraea arabica Linne, 1758 Cypraea hevola Linne, 1758 Monetaria annulus (Linnaeus, 1758) Ovula ovum (Linne, 1758) Coralliophila violacea (Kiener, 1836) Morula mutica (Lamarck, 1816) Thalessa virgata (Dillwyn, 1817) Phyllidia elegans Bergh, 1869 Phyllidia sp. Lambis lambis Linne, 1758 Lambis scorpius (Linne, 1758) Tectus pyramis (Born, 1778) Trochus maculatus Linne, 1758 Turbo bruneus Roding, 1798 Turbo chrysostomus Linne, 1758 Ngành Da gai
Echinodermata
Lớp Sao biển Asteroidea 34 Echinasteridae +
35 Ophiocomidae +
+ Echinaster luzonicus (Gray, 1840) Ophiomastix janualis Lyman, 1871 Ophiolepis sp.
36 Lớp Hải Sâm Holothuroidea
37 Holothuriidae +
Holothuria (Halodeima) edulis Lesson, 1830 Lớp Huệ biển Crinoidea
38 Comatulidae +
Tổng số 15 5 12 7
16 Nguồn [11] Anneissia bennetti (Müller, 1841)
PHỤ LỤC 5
Tên taxon
Phân bố rộng
Phân bố sâu
Dưới triều
Vụng Hương
Vùng triều
Hòn Mô Vụng Đông Bắc
CYANOPHYTA
1
Aphanocapsa littoralis Wettst.
+
+
+
2
Oscillatoria bonnemaisonii.
+
+
+
3
O. princeps
+
+
+
4
L. confernoides
+
+
5
Phormidium corium
+
+
+
+
6
Symploca atlantica
+
+
+
+
7
S. hydnoides
+
+
+
+
RHODOPHYTA
8
Acrochaetium gracilis
+
+
+
+
9
A. gracilis var. vietnamensis
+
+
+
10
A. pulchelum
+
+
11 Actinotrichia fragilis (Forsk.) Boerg.
+
+
+
12
Aglaothamnion neglectum
+
+
13
Amphiroa fragillissima
+
+
+
+
14
A. foliacea
+
+
+
15
Liagora divaricatat Tseng
+
+
+
16
L. ceranoides
+
+
+
17
L. farinosa
+
+
18
L. intestinalis
+
+
+
Thành phần loài và phân bố của rong biển Cù Lao Chàm
19
Porphyra suborticalata Kjelm.
+
+
20
Galaxaura clavigera
+
+
+
+
21
G. fastigiata Decne.
+
+
+
+
22
G. glabriscula
+
+
+
23
G. obtusata (Ell. et Sol.) Lamx.
+
+
+
24
G. oblongata
+
+
+
25
G. vietnamensis
+
+
+
+
26
+
+
+
Asparagopsis taxiformis (Delile) Coll. & Herv.
27
Caulacanthus horridilus
+
+
+
28
Centroceras clavulatum
+
+
+
29
C. inerme
+
+
+
30 Gelidiella acerosa (Forsk.) Feld. &
+
+
Ham.
31
G. lubrica
+
+
32
Peyssonnelia gunniana J. Ag.
+
+
+
+
33
P. calcea Heydr.
+
+
+
+
34
P. rubra (Grev.) J. Ag.
+
+
+
+
35 Lithophyllum thrichotomum (Hedr.)
+
+
+
+
Le.
36
L. okamurai Forsk.
+
+
+
+
37
Coralina officinalis L.
+
+
+
+
38
Jania decussato-dichotoma
+
+
+
+
39
J. rupens (L.) Lamx.
+
+
+
+
40
J. capillacea Harv.
+
+
41
J. longiathrata Dawson
+
+
42
J. ungulata
+
+
43
Hypnea cervicornis J. Ag.
+
+
+
44
H. pannosa
+
+
+
45
H. spinella
+
+
46 Ceratodictyon spongiosum Zanard.
+
+
+
47
Ceramium cingulatum
+
+
+
48
C. gracillimum
+
+
+
49
C. taylorii
+
+
50
+
+
+
+
+
Ceramium clarionense Secth. et Gardon
51
C. maryae W. v. Bosse
+
+
+
+
+
52
Polysiphonia subtilissima Mont.
+
+
+
53
P. sertularioides (Grot.) J. Ag.
+
+
+
+
54
Herposiphonia caespitosa Tseng
+
+
+
+
+
55
Leveillea jungermanioides
+
+
+
(Harv. & Mart.) Harv.
56
Wurdemannia miniata
+
+
PHAEOPHYTA
57
Chnoospora minima
+
+
+
+
58
Dictyota dichotoma
+
+
+
+
59
D. divaricata Lamx.
+
+
+
60
D. friabilis Setch.
+
+
+
61 Lobophora variegata (Lamx.) Wom.
+
+
+
+
62
Padina australis Hauck.
+
+
+
+
63
P. boryana Thivy
+
+
+
+
64
P.gymnospora
+
+
+
65 Colpomenia sinuosa (Roth.) Derb. et
+
+
+
Sol.
66
C. bullosa
+
+
+
67
Dictyotepris delicatula
+
+
68
D. membaranacea
+
+
69
Chnoospora minima
+
+
+
70
Hydroclathus clathratus
+
71
Sargassum sp.
+
72
Turbinaria ornata (Turn.) J. Ag.
+
+
+
+
CHLOROPHYTA
73
Acetabularia calcyculus
+
+
+
+
+
74
A. moebii
+
+
+
+
+
75
Neomeris Vanbossae Howe
+
+
+
+
76 Boodlea composita (Harv.) Brand.
+
+
+
+
77
B. struvoides
+
+
+
+
78
Udotea javenis (Mont.) Gepp.
+
+
+
+
Struvea
79
Struvea delicatula
+
+
+
+
80 Avrainvillea erecta (Berk.) A. & E.
+
+
+
S. Gepp.
81
Codium arabicum Kuetz.
+
+
+
+
82
C. tenue Kuetz.
+
+
+
+
Tổng số loài: 82
70
49
50
31
67
Nguồn [11]

