ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ------------------------

NGUYỄN HỮU PHÚC

NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM DIOXIN DO CHIẾN TRANH TẠI MỘT SỐ ĐIỂM TỒN LƢU Ô NHIỄM Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Khoa học Môi trƣờng

Mã số: 60 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Nguyễn Thế Hùng

TS. Nguyễn Anh Tuấn

Thái Nguyên, năm 2012

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

i

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự

giúp đỡ vô cùng tận tình của cơ sở đào tạo, gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp. Trước

hết tôi xin chân thành cảm ơn tới Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Phòng Quản

lý đào tạo Sau đại học đã tạo điều kiện, giúp đỡ trong quá trình thực hiện đề tài.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Thế Hùng và TS. Nguyễn

Anh Tuấn đã hết lòng tận tụy hướng dẫn tôi thực hiện đề tài đã giúp đỡ tôi hoàn thành

tốt đề tài của mình.

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiên, động

viên và cổ vũ tôi trong suốt quá trình học tập.

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012

Học viên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nguyễn Hữu Phúc

ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực

và chưa hề bảo vệ một học vị nào.

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được

cảm ơn và thông tin trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012

Học viên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nguyễn Hữu Phúc

iii

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1

1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................................... 1

2. Mục tiêu nghiên cứu ..................................................................................................... 2

3. Yêu cầu ........................................................................................................................... 3

4. Ý nghĩa của đề tài .......................................................................................................... 3

Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................... 4

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ......................................................................................... 4

1.2. Cơ sở pháp lý .............................................................................................................. 5

1.3. Cơ sở lí luận ................................................................................................................ 6

1.4. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ................................ 16

1.4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ................................................................. 16

1.4.2. Tình hình nghiên cứu trong nước ................................................................... 19

Chƣơng 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................... 24

2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 24

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ......................................................................... 24

2.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................................... 24

2.4. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 24

Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................... 27

3.1. Nguồn gây ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam và các địa điểm nghiên cứu ... 27

3.1.1. Nguồn gây ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam ................................ 27

3.1.2. Nguồn gây ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng và sân bay Biên Hòa ........ 33

3.2. Đánh giá tồn lưu ô nhiễm dioxin trong môi trường ............................................. 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3.2.1. Tồn lưu ô nhiễm dioxin trong môi trường ..................................................... 38

iv

3.2.2. So sánh nồng độ ô nhiễm dioxin trong mẫu đất và mẫu trầm tích ................ 49

3.3. Đề xuất mô hình đánh giá rủi ro môi trường ban đầu ................................ 52

3.3.1. Khái quát về mô hình đánh giá rủi ro đối với ô nhiễm môi trường .............. 52

3.3.2. Đề xuất mô hình đánh giá rủi ro môi trường ban đầu do tồn lưu ô nhiễm dioxin

............................................................................................................................................. 54

3.4. Một số giải pháp quản lý, khắc phục và giảm thiểu ............................................ 57

3.4.1. Những hạn chế liên quan đến quản lý ô nhiễm dioxin do chiến tranh .......... 57

3.4.2. Một số giải pháp để quản lý, khắc phục và giảm thiểu ô nhiễm dioxin ....... 58

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................... 60

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................... 62

v

DANH MỤC CÁC TỪ - CỤM TỪ VIẾT TẮT

: Acide deoxiribo nucleic AND

: Aryl nuclear Translocator AhR

: Acide ribo nucleic ARN

: Bảo vệ môi trường BVMT

: Bảo vệ thực vật BVTV

CNH – HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

: Chính phủ CP

: Environment program of America EPA

: Estrogen Receptor ER

: Tổ chức nông lương Liên Hợp Quốc FAO

: Hệ thống chương trình giám sát đánh giá ô nhiễm thực phẩm toàn cầu GEMS

: Hexa chloro dibenzo dioxin HxCDD

: Hepta chloro dibenzo dioxin HpCDD

: High-performance liquid chromatography HPLC

: Hexa chloro dibenzo furan HxCDF

: Hepta chloro dibenzo furan HpCDF

: Tổ chức quốc tế về nghiên cứu ung thư IARC

: Viện Y tế Hoa kỳ IOM

: Officical Development Assistantl ODA

PeCDD : Penta chloro dibenzo dioxin

: Penta chloro phenol PCP

: Polycholro dibenzo furans PCDFs

: Polycholro dibenzo dioxins PCDDs

: Penta cholro dibenzo furan PeCDF

: Poly chlorbiphenyls PCBs

: Persittant organic pollutants POPs

: Poly vinyl chlororua PVC

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

OCDD : Otor chloro dibenzo dioxin

vi

: Otor chloro dibenzo furan OCDD

: Tetra chloro dibenzo dioxin TCDD

: Tetra chloro dibenzo furan TCDF

: Tetra chloro benzen TeCB

: Total Equipment Failure TEF

: Toxic Equivalents TEQ

: Trung ương TW

UB 10 – 80 : Ủy ban Quốc gia điều tra hậu quả chất hóa học trong chiến tranh

UNDP : Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc

UNEP : Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc

UNESCO : Tổ chức văn hóa giáo dục Liên Hợp Quốc

VN : Việt Nam

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

WHO : Tổ chức Y tế Thế giới

vii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1. Hàm lượng TCDD và độ độc tương tương (ppt) trong máu người

Việt Nam (1991 - 1992) .................................................................................. 13

Bảng 1.2. Danh mục các bệnh ở người liên quan đến phơi nhiễm dioxin ................. 14

Bảng 1.3. Các giá trị TEF của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trong đánh giá

rủi ro đối với con người .................................................................................. 15

Bảng 1.4. Hàm lượng 2,3,7,8 - TCDD trong cá, giáp xác và thực phẩm Mỹ đã

nhập khẩu ở Việt Nam .................................................................................... 20

Bảng 1.5. Hàm lượng 2,3,7,8 - TCDD trong sữa lấy tại Việt Nam và Mỹ ................ 21

Bảng 2.1. Vị trí thu thập mẫu đất, trầm tích tại sân bay Đà Nẵng .............................. 25

Bảng 2.2. Vị trí thu thập mẫu đất, trầm tích tại sân bay Biên Hòa ............................. 26 Bảng 3.1. Lượng chất phát quang phun rải ở miền Nam Việt Nam ........................... 28

Bảng 3.2. Diện tích bị ảnh hưởng của chất khai quang ................................................ 30

Bảng 3.3. Diện tích đất bị rải ảnh hưởng nặng nề bởi chất phát quang có chứa

dioxin theo địa phương ................................................................................... 32

Bảng 3.4. Các điểm lưu giữ chính các chất phát quang/dioxin/chất da cam

trong thời gian chiến tranh Việt Nam, từ 1961 - 1971 ................................ 34

Bảng 3.5. Lượng các loại chất phát quang được quân đội Mỹ lưu giữ và trung

chuyển tại sân bay Biên Hòa .......................................................................... 37 Bảng 3.6. Nồng độ dioxin trong mẫu đất quan trắc được tại sân bay Đà Nẵng ........ 40

Bảng 3.7. Nồng độ dioxin trong mẫu trầm tích quan trắc được tại sân bay Đà

Nẵng .................................................................................................................. 44

Bảng 3.8. Nồng độ dioxin trong mẫu đất quan trắc được tại sân bay Biên Hòa ............ 46

Bảng 3.9. Nồng độ dioxin trong mẫu trầm tích quan trắc được tại các khu vực

lân cận ............................................................................................................... 48

Bảng 3.10. Bảng so sánh giá trị lớn nhất, trung bình, nhỏ nhất nồng độ ô nhiễm trong mẫu đất và mẫu trầm tích theo loại chất dioxin sân bay Đà Nẵng ............................................................................................................ 50

Bảng 3.11. Bảng so sánh giá trị lớn nhất, trung bình, nhỏ nhất nồng độ ô

nhiễm trong mẫu đất và mẫu trầm tích theo loại chất dioxin sân bay

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Biên Hòa ........................................................................................................... 51

viii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1. Cấu trúc của của một số đồng phân dioxin ................................................ 7

Hình 1.2. Cơ chế tạo ra sản phẩm phụ 2,3,7,8-TCDD ............................................... 9

Hình 1.3. Cấu trúc của phức hợp dioxin receptor .................................................... 13

Hình 1.4. Cơ chế gây độc của TCDD trong tế bào .................................................. 13

Hình 3.1. Hoá chất làm rụng lá được rải trong chiến tranh Việt Nam ..................... 28

Hình 3.2. Diện tích bị phun rải chất phát quang có chứa dioxin theo các tác

giả ............................................................................................................ 31

Hình 3.3. Biểu đồ mô tả tỉ lệ lưu giữ chất phát quang tại các sân bay lưu giữ

và trung chuyển mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt

Nam 1961 -1971 ...................................................................................... 34

Hình 3.4. Biểu đồ mô tả tỉ lệ các loại chất có trong tổng lượng các chất phát

quang tại sân bay Đà Nẵng ...................................................................... 35

Hình 3.5. Tỉ lệ % các loại chất phát quang được lưu giữ, trung chuyển qua

sân bay Biên Hòa trong chiến tranh Việt Nam ........................................ 38

Hình 3.6. Biểu đồ thể hiện nồng độ ng TEQ (Min, Mean, Max) của PCDD,

PCDF, WHO - TEQ ............................................................................... 41

Hình 3.7. Biểu đồ thể hiện so sánh sự thay đổi nồng độ TCDD và sự thay

đổi nồng độ TEQ trong các mẫu đất lấy tại sân bay Đà Nẵng ................ 42

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hình 3.8. Mô phỏng các hoạt động của quá trình đánh giá rủi ro môi trường ........ 53

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Chiến tranh đã kết thúc gần 40 năm nhưng những hậu quả để lại cho đến hiện

nay vẫn rất nặng nề. Một trong những hậu quả đó là vấn đề ảnh hưởng của dioxin có

trong hóa chất diệt cỏ mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh. Cuộc chiến tranh

hóa chất ở Việt Nam diễn ra từ năm 1961 đến năm 1972 đã, đang và tiếp tục gây tác

động đặc biệt nghiêm trọng đối với môi trường và con người ở Việt Nam.

Theo số liệu thống kê được Bộ Quốc phòng Mỹ công bố năm 2007 [39], trong

khoảng thời gian tiến hành cuộc chiến tranh hóa chất ở Việt Nam từ năm 1961 đến

năm 1972, quân đội Mỹ đã sử dụng khoảng 80 triệu lít hóa chất diệt cỏ và thực hiện

khoảng 6000 chuyến bay để phun rải xuống các khu vực ở miền Nam Việt Nam.

Trong đó, những khu vực được xác định bị phun rải nhiều nhất gồm có: Quảng Trị,

Thừa Thiên Huế, Bình Phước, Sài Gòn, Đồng Nai và Cà Mau. Bên cạnh những khu

vực này, tại một số sân bay mà Không quân Mỹ đã sử dụng làm căn cứ để tập kết,

lưu giữ và trung chuyển hóa chất diệt cỏ như: Sân bay Đà Nẵng, sân bay Phù Cát –

Bình Định và sân bay Biên Hòa – Đồng Nai thì nồng độ dioxin trong môi trường

đặc biệt cao.

Dioxin chứa trong hóa chất diệt cỏ mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh

đã gây nên hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho hàng triệu người Việt Nam bị phơi

nhiễm, cũng như là các vấn đề môi trường nghiêm trọng khác. Cho đến nay, đã có

những nghiên cứu với mục đích xác định số lượng người bị phơi nhiễm dioxin ở

nước ta; tuy nhiên, có thể nhận các thấy số liệu đưa ra chưa có sự thống nhất. Theo

Hoàng Đình Cầu [5], số lượng nạn nhân bị phơi nhiễm dioxin ở Việt Nam khoảng 1

triệu người, trong đó có khoảng 150.000 trẻ em sinh ra bị dị tật bẩm sinh có liên

quan đến dioxin. Theo Stellman 2003 [34], trong quá trình nghiên cứu đã căn cứ

vào đặc điểm phân bố dân cư và diện tích bị phun rải, cho rằng có khoảng 2,1 – 4,8

triệu người bị phơi nhiễm dioxin trực tiếp; còn theo Hội nạn nhân chất độc màu da

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

cam Việt Nam thì số lượng đó là khoảng 3 triệu người. Vì tính phức tạp của dioxin

2

và những lý do khác có liên quan, cho đến nay chúng ta vẫn chưa thể xác định được

chính xác số lượng người bị phơi nhiễm dioxin trong chiến tranh Việt Nam.

Trong nhiều năm qua, Bộ Quốc phòng đã phối hợp với nhiều cơ quan khác

nhau có liên quan trong và ngoài nước tiến hành các nghiên cứu với mục đích xác

định mức độ tồn lưu ô nhiễm dioxin; tác động sinh thái và đề xuất các biện pháp

ngăn chặn sự lan truyền trong môi trường cũng như xử lý triệt để các điểm tồn lưu ô

nhiễm dioxin với nồng độ cao.

Tuy nhiên thực tiễn cho thấy giải quyết các vấn đề liên quan đến tồn lưu ô

nhiễm dioxin là vấn đề đặc biệt phức tạp. Đánh giá mức độ ô nhiễm, xác định mức

độ ảnh hưởng, rủi ro sinh thái và tác động đến sức khỏe con người là cơ sở đặc biệt

quan trọng đối với hoạt động phòng ngừa, cải thiện ô nhiễm, xử lý triệt để - phục

hồi môi trường và hạn chế tới mức thấp nhất tác hại của dioxin đối với con người.

Hiện nay, ở Việt Nam chưa có đủ các điều kiện đáp ứng được những yêu cầu,

cần thiết về trang thiết bị, nguồn lực,...để phục vụ cho việc giải quyết các vấn đề

liên quan đến tồn lưu ô nhiễm dioxin do vậy những dữ liệu khoa học mà chúng ta có

được vẫn chưa đáp ứng được các tiêu chí để quốc tế công nhận. Vì vậy, để đáp ứng

những yêu cầu của thực tiễn thì việc tiếp tục có những nghiên cứu về thực trạng ô

nhiễm, phân tích, đánh giá được nồng độ dioxin trong môi trường là cần thiết và

đóng vai trò vị trí, quan trọng cho việc đề xuất các giải pháp quản lý, khắc phục ô

nhiễm, giảm thiểu rủi ro sinh thái, rủi ro cho sức khỏe của con người cũng như giải

quyết các vấn đề xã hội khác liên quan đến tồn lưu ô nhiễm dioxin.

Xuất phát từ những vấn đề thực tế nêu trên, được sự nhất trí của Ban giám

hiệu, Khoa Sau đại học Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đồng thời được

sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Thế Hùng và TS. Nguyễn Anh Tuấn, tôi đã

tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm dioxin do chiến

tranh tại một số điểm tồn lưu ô nhiễm ở Việt Nam”.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá thực trạng ô nhiễm và bước đầu đề xuất mô hình đánh giá rủi ro

và giải pháp giảm thiểu ô nhiễm đối với môi trường do dioxin có nguồn gốc từ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

chất diệt cỏ mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh tại Việt Nam.

3

3. Yêu cầu

- Thông tin, số liệu thu thập được phải đảm bảo tính trung thực, chính xác và

khách quan;

- Các phương pháp nghiên cứu áp dụng cho đề tài phải đảm bảo tính khoa học;

- Đánh giá đầy đủ, chính xác nồng độ dioxin tồn lưu đất trầm tích;

- Đề xuất mô hình đánh giá rủi ro ban đầu đối với môi trường do tồn lưu ô

nhiễm dioxin có nguồn gốc từ chiến tranh;

- Giải pháp và kiến nghị đề xuất phải có tính thực tế, khả thi.

4. Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa khoa học:

+ Cung cấp các căn cứ khoa học để tiếp tục có những định hướng cho việc

nghiên cứu tồn lưu ô nhiễm dioxin ở Việt Nam

- Ý nghĩa thực tế:

+ Xác định được mức độ tồn lưu ô nhiễm dioxin trong đất và trầm tích tại

các điểm sân bay trước đây là nơi lưu giữ và trung chuyển dioxin trong chiến

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tranh Việt Nam.

4

Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài

* Khái niệm môi trường

Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005: Môi trường bao gồm các

yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời

sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật [11].

Theo UNESCO, môi trường được hiểu là “ toàn bộ các hệ thống tự nhiên và

các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và

bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm

thỏa mãn những nhu cầu của con người”.

* Một số khái niệm liên quan

Theo Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2005 [11], các khái niệm về ô

nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và chất thải được trình bày như sau :

- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường, không

phù hợp với các tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật.

- Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành

phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật.

- Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh,

dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.

- Tồn lưu ô nhiễm môi trường:

Theo định nghĩa của Bộ Môi trường New Zealand: “Điểm ô nhiễm

(contaminated site) là một vị trí/khu vực mà tại đó chất nguy hại xuất hiện ở nồng

độ cho phép và các đánh giá chỉ ra rằng nó gây ra, hoặc có tiềm năng gây ra rủi ro

trung hạn hoặc dài hạn cho sức khỏe cộng đồng và môi trường”

Theo nhóm Quản lý tồn lưu ô nhiễm của Canada thì “Điểm ô nhiễm tồn lưu là

vị trí/khu vực mà chất ô nhiễm xuất hiện ở nồng độ cao hơn nồng độ thông thường

và gây ra, hoặc có thể gây ra, hoặc có thể gây ra các tác động nguy hại trung hạn

hoặc dài hạn đến môi trường và sức khỏe cộng đồng, hoặc vượt quá tiêu chuẩn cho

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

phép trong luật”

5

Theo các Bộ: Môi trường, Giao thông vận tải, Năng lượng và Truyền thông

Thụy Sỹ thì “Điểm ô nhiễm tồn lưu là những điểm bị ô nhiễm mà dẫn tới những tác

hại hoặc tổn thất, hoặc tiềm tàng nguy cơ gia tăng tác hại”.

Luật Bảo vệ Môi trường năm 1990 của Anh định nghĩa: “Điểm ô nhiễm là mọi

khu vực có chứa các loại chất được xác định gây ra những tổn thương nghiêm trọng

hoặc có tiềm năng gây ra các tổn thương, hoặc gây ra ô nhiễm hoặc có thể gây ra ô

nhiễm cho các nguồn nước được kiểm soát”

Ở Việt Nam, theo Đặng Kim Chi “Điểm ô nhiễm tồn lưu là khu vực đã và

đang tồn tại những chất ô nhiễm, có khả năng hoặc tiềm ẩn khả năng gây nhiễm độc

môi trường khí, nước, đất và sinh vật cũng như tới sức khỏe con người” (Hội thảo

xử lý ô nhiễm tồn lưu Việt- Đức năm 2007).

- Rủi ro môi trường: “Ruûi ro" laø "söï keát hôïp caùc xaùc suaát, hoaëc taàn suaát xaåy

ra cuûa moät moái nguy hieåm (hazard) xaùc ñònh vaø möùc ñoä haäu quaû xaåy ra [31].

Do vậy, có thể hiểu rủi ro môi trường là xác suất tác động có thể có của các

yếu tố nguy hại tồn tại hoặc tiềm ẩn trong môi trường (chất ô nhiễm…) và mức độ

tác động của các yếu tố nguy hại đó.

"Rủi ro" = "Nguy hại" + "Tiếp xúc" [31].

- Đánh giá rủi ro môi trường: là một kỹ thuật nhằm đánh giá một cách có hệ

thống các tác động có hại thực tế hay tiềm tàng của các chất ô nhiễm lên thực vật,

động vật và toàn bộ hệ sinh thái [9].

- Quản lý rủi ro môi trường: Quản lý rủi ro môi trường là thiết lập và thực hiện

chính sách phản ứng lại rủi ro và giảm bớt rủi ro sao cho chi phí kinh tế nhất. Quản

lý rủi ro là cung cấp các thông tin nguy cơ cho các nhà quản lý dự án để phục vụ

cho việc ra quyết định [9]. Do vậy, có thể nói đó là một quá trình thực thi các quyết

định về lựa chọn hay chấp nhận rủi ro.

1.2. Cơ sở pháp lý

- Căn cứ Nghị quyết số 41 - NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ

Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghệ hóa hiện đại hóa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

đất nước;

6

- Căn cứ luật BVMT 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày

01/07/2006;

- Căn cứ Quyết định số 33/1999/QĐ - TTg ngày 01 tháng 3 năm 1999 của Thủ

tướng Chính phủ về việc thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia khắc phục hậu quả chất

độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam;

- Quyết định số 67/2004/QĐ - TTg ngày 27 tháng 4 năm 2004 của Thủ tướng

Chính phủ về kế hoạch hành động giai đoạn 2004 - 2010 khắc phục hậu quả chất

độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam;

- Quyết định số 251/2005/QĐ - TTg ngày 12 tháng 10 năm 2005 của Thủ

tướng Chính phủ về kiện toàn Ban Chỉ đạo quốc gia khắc phục hậu quả chất độc

hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam;

- Căn cứ Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng

đến năm 2020 theo Quyết định số 256/2003/QĐ ngày 02 tháng 12 năm 2003 của

Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường;

- Căn cứ Quyết định 184/2006/QĐ - TTg về việc thực hiện Công ước

Stockholm tại Việt Nam về quản lý các hợp chất POPs;

- Căn cứ Kế hoạch số 70 - KH/TU ngày 28 tháng 04 năm 2005, thực hiện

Nghị quyết số 41 - NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá IX) về bảo vệ môi trường trong

thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước.

1.3. Cơ sở lí luận

* Giới thiệu chung về dioxin

Dioxin là tên gọi chung của một nhóm hàng trăm các hợp chất hóa học tồn tại

bền vững trong môi trường cũng như trong cơ thể con người và các sinh vật khác.

Tùy theo số nguyên tử Cl và vị trí không gian của những nguyên tử này, dioxine có

75 đồng phân PCDD (poly-chloro-dibenzo-dioxines) và 135 đồng phân PCDF (poly

- chloro -dibenzo - furanes) với độc tính khác nhau. Theo Công ước Stockhoml năm

1972, dioxine còn bao gồm nhóm các PCBs (polyclobiphenyles), là các chất tương tự

dioxine, bao gồm 419 chất hóa học trong đó có 29 chất đặc biệt nguy hiểm. Trong số

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

các hợp chất dioxin, TCDD là nhóm độc nhất. TCDD và các dioxin khác được hình

7

thành như một phụ phẩm của các quá trình hoá học, từ những hiện tượng tự nhiên

như núi lửa phun, cháy rừng đến các quá trình nhân tạo như sản xuất hoá chất, thuốc

trừ sâu, thép, sơn, giấy, quá trình thiêu và toả khói... Dioxin là sản phẩm phụ của

nhiều quá trình sản xuất chất hóa học công nghiệp liên quan đến clo như các hệ thống

đốt chất thải, sản xuất hóa chất và thuốc trừ sâu và dây truyền tẩy trắng trong sản xuất

giấy [20]. Trong những năm chiến tranh, quân đội Mỹ đã sử dụng hơn 20 loại chất

diệt cỏ có chứa hàm lượng dioxin cao để phun rải xuống nhiều vùng thuộc miền

Trung và Nam nước ta [34].

Hình 1.1. Cấu trúc của của một số đồng phân dioxin

* Tính chất hóa lý

Dioxin rất bền vững không bị phận hủy dưới tác dụng của axit mạnh, kiềm mạnh, các chất [O]... Dioxin rất ít bay hơi ở t0 thường tan tốt trong các dung môi ko

phân cực như n - hexane, tan rất ít trong dung môi phân cực như acetone và hầu như

ko tan trong nước (khoảng ~ 0.2 microgam /l nước)... Chu kỳ bán hủy của dioxin từ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5 - 7 năm và có thể lên đến 12 năm. Dioxin là các hợp chất hữu cơ không mùi,

8

không màu, chứa cacbon, hidro, oxi và clorin. Có khoảng 210 hợp chất dioxin khác

nhau,tùy theo số nguyên tử Cl và vị trí không gian của những nguyên tử nà, dioxin

có 75 đồng phân PCDD (poly - chloro -dibenzo - dioxines) và 135 đồng phân PCDF

(poly - chloro - dibenzo - furanes) với độc tính khác nhau. Dioxine còn bao gồm

nhóm các PCB (poly-chloro-biphenyles), là các chất tương tự dioxin, bao gồm 419

chất hóa học trong đó có 29 chất đặc biệt nguy hiểm , nhưng chỉ có 17 hợp chất là

độc. Tiêu biểu và độc hại nhất là: dioxin 2,3,7,8 -tetra-clorodibenzen-p-dioxin, viết

tắt là 2,3,7,8 –TCDD [20]. Đối với môi trường đất thì chu kỳ bán hủy của dioxin

trong đất là khoảng 10 năm. Theo những nghiên cứu của D.Pautenbach (1992) và

R.Puri (1989,1990), trên lớp đất bề mặt thì chu kỳ bán hủy của dioxin dao động

trong khoảng từ 9 đến 25 năm, còn ở các lớp đất sâu hơn thì chu kỳ đó dao động

trong khoảng từ 25 đến 100 năm [23]. Dioxin khó tan trong nước nên hầu như được

đi vào cơ thể con người qua chuỗi thức ăn. Dioxin tan một phần trong chất béo

(dung môi ko phân cực hoặc ít phân cực) và tan mạnh trong các dung môi hữu cơ

như dầu hỏa, diezen... Chúng gắn với các chất hữu cơ và được hấp thụ vào mô mỡ

của tế bào sinh vật. Khi đã vào cơ thể con người dioxin nhanh chóng gắn với những

phân tử protein trong màng tế bào. Sau khi kết hợp với các thụ thể này dioxin nhanh

chóng được di chuyển và bào tương và nhân tế bào. Theo các quá trình sinh lý, hóa

sinh xảy ra trong cơ thể sinh vật thì dioxin tích lũy và tồn lưu trong thời gian dài. Dioxin có áp suất bay hơi rất thấp, chỉ bằng 1,7.10-6 mmHg ở 25oC, dioxin có điểm nóng chảy cao khoảng 305oC và khả năng tan trong nước khoảng 0,2 µg/l. Về mặt ổn định nhiệt thì hợp chất này ổn định nhiệt đến khoảng 750oC. Ngưỡng nhiệt độ để phân hủy hoàn toàn dioxin khoảng 1000 - 1300 oC.

* Nguồn phát thải dioxin

Đầu thế kỷ 20, khi công ty Dow Chemical Midland ở Mỹ thành công trong

việc nghiên cứu và tách chiết khí clo từ dung dịch muối ăn. Từ thời điểm đó clo đã

được sử dụng để tổng hợp nên các loại hóa chất như: thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ,

các hợp chất dẻo-polyvinyl. Việc tổng hợp thành công và đưa vào sử dụng những

hợp chất này được xem như là một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tại thời điểm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

đó. Trong các hợp chất là thuốc diệt cỏ thì dioxin được tìm thấy nhiều nhất, ước

9

tính nồng độ khoảng 2ppm. Dioxin chủ yếu được tạo ra là do sản phẩm phụ phát

thải của các quá trình sản xuất công nghiệp nhưng cũng có thể là kết quả của quá

trình tự nhiên, như vụ phun trào núi lửa và cháy rừng có liên quan đến clo. Dioxin

là sản phẩm phụ không mong muốn của một loạt các quy trình sản xuất bao gồm

nấu chảy, clo tẩy trắng bột giấy và sản xuất của một số chất diệt cỏ và thuốc trừ sâu.

Ngày nay, các lò đốt rác thải công nghệ cũ, lạc hậu thường là những nguồn phát thải

dioxin phổ biến, do quá trình đốt cháy phản ứng cháy không có đủ nhiệt độ để diễn

ra hoàn toàn. Dù là công nghệ đã cho phép để thiêu đốt chất thải được kiểm soát với

lượng khí thải thấp.

Đặc điểm tạo thành dioxin của các nguồn phát thải từ hoạt động công nghiệp

và dân sinh cụ thể như sau [10]:

- Sự tạo thành dioxin đặc thù trong chất da cam do quân đội Mỹ sử dụng

trong chiến tranh Việt Nam: Theo đó quy trình sản xuất chất da cam theo công

nghệ trước đây cần phải sử dụng tiền chất là tetra-chlorobenzen (TeCB) đã tạo ra

một lượng đáng kể dioxin, trong đó thành phần chủ yếu là 2,3,7,8-TCDD. Đối

với quá trình này quân đội Mỹ đã đẩy nhiệt độ tổng hợp lên cao hơn nhằm mục

đích tạo ra lượng dioxin lớn hơn.

Hình 1.2. Cơ chế tạo ra sản phẩm phụ 2,3,7,8-TCDD

- Các quá trình có sử dụng nhiệt và phản ứng cháy: Hình thành theo 3 cơ chế;

Thứ nhất, do sự phân hủy không hoàn toàn các hợp chất dioxin có sẵn trong

thành phần tham gia phản ứng cháy, nguyên nhân là do quá trình đốt hiệu quả thấp,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

công nghệ đốt và hệ thống kiểm soát ô nhiễm trong quá trình đốt kém.

10

Thứ hai, dioxin hình thành trong lò thông qua các phản ứng hóa học giữa các

hợp chất hydrocacbon có cấu trúc nhân thơm với các hợp chất có chứa clo.

Thứ ba, phản ứng tổng hợp từ dầu hình thành dioxin từ carbon đơn giản và

clo vô cơ, đây thực chất là quá trình phân nhỏ và biến đổi của các phân tử có cấu

trúc carbon lớn sang các hợp chất vòng (aromatic) [26].

- Các quá trình công nghiệp khác: Một số ngành công nghiệp khác có khả

năng phát thải ra dioxin là các ngành công nghiệp ximăng - tận dụng các nguyên

liệu đốt như dầu cặn, dầu thải, vỏ lốp xe...; dệt nhuộm và may mặc - do sử dụng các

hóa chất nhuộm đa số có chứa các nhóm chức hữu cơ và các công đoạn tẩy trắng

thường sử dụng hóa chất tẩy có chứa clo; ngành công nghiệp sản xuất giấy - quy

trình sản xuất giấy sử dụng hợp chất chlorophenols, hợp chất này được coi là chất

tiền dioxin.

* Sự tồn tại, phân bố và lan truyền của dioxin trong môi trường

Các hợp chất POPs nói chung và dioxin nói riêng, khi tồn tại trong môi

trường, chúng dễ dàng luân chuyển giữa không khí, đất và nước.

Trong môi trường không khí, dioxin tồn tại ở cả 2 trạng thái: hơi (pha khí) và

hấp phụ vào các hạt rắn (pha rắn) lơ lửng trong không khí. Trong môi trường nước,

dioxin được gắn vào các hạt rắn lơ lửng và các hạt trầm tích. Sự phân bố dioxin

giữa các môi trường không khí, đất và nước không ổn định. Như vậy, có thể thấy do

khả năng hòa tan trong nước thấp (khoảng 0,2 microgram/lít) cho nên trong môi

trường dioxin chủ yếu tồn tại ở pha rắn và pha khí.

Các hợp chất dioxin di chuyển vào không khí do sự phát thải trực tiếp hoặc do

sự phát tán bụi từ mặt đất. Sau một thời gian dioxin sẽ được đưa trở lại đất và nước

bởi sự lắng đọng qua bụi, mưa và tuyết. Trong nước, dioxin có thể được di chuyển

bởi dòng nước, tích lũy ở trầm tích hoặc đáy các thủy vực hoặc gắn với các phần tử

lơ lửng trong nước, một phần bay hơi vào không khí.

Do có tính tương thích cao với các chất hữu cơ nên dioxin sẽ tập trung chủ

yếu ở các khu vực có hàm lượng hữu cơ cao. Hàm lượng clo trong phân tử càng

cao thì càng dễ phân bố vào trong đất, trầm tích và chất hữu cơ. Tính tương thích

với các hợp chất hữu cơ của dioxin tăng lên khi số lượng nguyên tử clo trong

phân tử dioxin tăng lên.

Trong môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng, thì thông qua

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

chuỗi thức ăn lượng dioxin sẽ được khuyếch đại sinh học.

11

Trong môi trường đất dioxin được tìm thấy nhiều nhất trong một số loại đất,

cặn lắng. Các vùng tồn lưu dioxin ở nồng độ cao sau 30 năm thường là các vùng đất

ngập nước, đất có pH<3,5 (đất rất chua, phèn) vì vậy khó có thể tìm thấy loại vi

sinh vật nào tồn tại, thích nghi và phát triển hữu hiệu trong điều kiện này. Như vậy,

có thể nhận thấy tại các vùng đất này thì dioxin tồn lưu với hàm lượng rất cao và

trong thời gian dài. Quá trình tồn tại trong môi trường đất, vì tính tương thích cao

với các hợp chất hữu cơ cho nên dioxin có khả năng liên kết với các hợp chất hữu

cơ trong đất, đặc biệt là các hợp chất ô nhiễm hữu cơ và đối với các loại đất có

hàm lượng mùn cao. Ở Việt Nam, một số vùng dioxin đã và đang thấm sâu vào

các tầng đất phía dưới khiến cho việc phân tích, xác định gặp rất nhiều khó khăn.

Hàm lượng dioxin trong đất tại các vùng này rất cao do vậy làm gia tăng khả năng

phơi nhiễm. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho vấn đề ô nhiễm dioxin

trở nên phức tạp.

Đối với môi trường đất và dinh dưỡng cây trồng thì sự có mặt của dioxin sẽ

thúc đẩy nhanh quá trình phân hủy dinh dưỡng ở các lớp đất màu mỡ trên bề mặt,

làm thay đổi thành phần và tính chất thổ nhưỡng của đất. Chính điều này đã dẫn đến

hậu quả là sự phục hồi của thảm thực vật tại các khu vực bị ô nhiễm diễn ra một

cách chậm chạp và bị biến đổi mạnh mẽ, dẫn đến phá hủy cân bằng sinh thái của

môi trường đất [6]. Trong môi trường nước, do đặc tính vật lý ít tan trong môi trường

nước (<0,2µg/l) cho nên dioxin ít được tìm thấy ở dạng hòa tan trong nước. Các phần

tử dioxin chủ yếu tồn tại ở trạng thái lơ lửng, bám vào các loại rong rêu, tồn tại trong

các dạng trầm tích, bùn ở đáy của các thủy vực hoặc ngấm vào lòng đất, do vậy tồn

lưu lâu hơn trong môi trường.

Trong môi trường không khí, tương tự như các hợp chất POPs khác dioxin tồn tại

chủ yếu ở hai pha là pha khí (dạng hơi) và pha rắn (bám vào các hạt bụi) có trong môi

trường không khí. Một ví dụ cụ thể liên quan đến ô nhiễm dioxin trong môi trường

không khí là: Vào năm 1976, một tai nạn nghiêm trọng đã xảy ra tại nhà máy hóa chất

ở Seveso, Ý, tai nạn này đã làm cho một lượng lớn dioxin được phát tán vào môi

trường không khí, tạo nên đám mây hóa chất độc hại với thành phần chủ yếu là 2,3,7,8- Tetrachlorodibenzo-p-dioxin, gây ô nhiễm một diện tích khoảng 15 km2, ảnh hưởng

đến 37000 người [17]. Đây được xem là thảm họa môi trường nghiêm trọng nhất trong

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

lịch sử nước Ý.

12

* Ảnh hưởng của dioxin đến con người và động vật

Dioxin có khả năng di chuyển và tích lũy trong thực phẩm, quá trình đó còn

làm gia tăng các hiệu ứng sinh học của dioxin trong chuỗi thức ăn. Thông qua chuỗi

thức ăn, dioxin sẽ được tích lũy với khả năng khuyếch đại theo cấp số nhân ở các

bậc dinh dưỡng cao hơn trong chuỗi thức ăn. Đối với cơ thể động vật và con người,

dioxin có thể xâm nhập qua đường tiêu hóa, qua đường hô hấp, qua da, nhau thai và

sữa mẹ [24]. Tuy nhiên, đối với thực vật thì rất hiếm khi phát hiện thấy sự có mặt của

dioxin trong thực vật do đặc tính ít hòa tan trong nước và vì thế không thể hút lên bởi

hệ rễ ở thực vật.

Trong cơ thể động vật và con người, khi xâm nhập vào cơ thể do đặc tính

tương thích với các hợp chất hữu cơ cho nên dioxin chủ yếu tồn tại ở dạng tích lũy

tại các mô mỡ [37]. Tiếp xúc với dioxin ở nồng độ cao có thể gây tổn thương da và

thay đổi chức năng gan ở người. Tiếp xúc trong thời gian dài gây nên các thay đổi

đối với hệ thống miễn dịch, hệ thần kinh, các hệ thống của tuyến nội tiết và ảnh

hưởng tới hệ thống cũng như chức năng sinh sản. Do tính chất dễ tan trong các mô

mỡ cho nên khi xâm nhập vào cơ thể bằng con đường tiêu hóa, hô hấp dioxin dễ

dàng thấm qua màng ruột và phổi vào hệ tuần hoàn; tuy nhiên thời gian tồn lưu của

dioxin trong máu tương đối ngắn do máu sẽ trực tiếp đưa dioxin đến các mô mỡ của

các cơ quan trong cơ thể. Quá trình chuyển hóa dioxin trong cơ thể diễn ra dưới tác

động oxi hóa của men gan, cơ chế oxi hóa này sẽ cắt vòng của phân tử dioxin tại vị

trí nhóm thế clo 1,6 để tạo nên các sản phẩm dễ tan hơn và đào thải chúng ra khỏi

cơ thể qua nước tiểu.

Bên cạnh đó, khi tồn tại trong tế bào động vật dioxin còn có khả năng tạo phức

với các AhR (Aryl nuclear Translocator) để tạo nên phức dioxin - AhR - tARN (ARN

thông tin) [13], [25]. Phức này càng bền thì độ độc của đồng phân dioxin đó càng cao,

phức hợp này có khả năng kết hợp với các protein vận chuyển để xâm nhập vào nhân tế

bào tại đây dioxin sẽ tự động can thiệp vào quá trình đóng mở một số gen giải độc quan

trọng của tế bào. Khi tồn tại trong nhân tế bào, dioxin sẽ tác động lên các gen quy định

cấu trúc của phân tử protein trên phân tử ADN. Sự tác động đó sẽ làm rối loạn quá

trình sinh tổng hợp và thay đổi cấu trúc của một số protein quan trọng như: Protein sửa

chữa lỗi sai trong quá trình tự sao tổng hợp nên các phân tử ADN mới, các protein

đóng vai trò điều chỉnh quá trình sinh trưởng và phát triển của tế bào, emzim tham gia

chuyển hóa các độc tố dẫn đến khả năng gây đột biến gen và ung thư của các độc tố

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

khác có trong môi trường [22].

13

Bảng 1.1. Hàm lượng TCDD và độ độc tương tương (ppt) trong máu người Việt

Nam (1991 - 1992)

Vùng lấy mẫu n TCDD TEQ

Miền Bắc Việt Nam 168 1,2 - 2,9 12,0 - 18,0

Miền Trung Việt Nam 490 2,9 - 19 23 - 118

Miền Nam Việt Nam 2062 1,0 - 33 8,7 - 105

(Nguồn: Văn phòng 33, 2010) Đối với hệ thống di truyền ở cơ thể động vật nói chung thì một thí nghiệm trên chuột cho thấy: dioxin làm tăng nồng độ các gốc ion tự do trong tế bào, đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự hủy hoại cấu trúc tế bào, hủy hoại các protein quan trọng và có thể gây nên đột biến gen trên phân tử ADN. Đối với hoocmon sinh dục nữ thì dioxin liên kết với các thụ thể ER là thụ thể hoocmon sinh dục nữ làm rối lọan chức năng sinh sản, tăng khả năng ung thư buồng trứng, ung thư tử cung, ung thư vú và gây biến đổi giới tính đối với các thế hệ tiếp theo [25].

Hình 1.3. Cấu trúc của phức hợp dioxin receptor

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hình 1.4. Cơ chế gây độc của TCDD trong tế bào

14

Năm 1996, tổng thống Mĩ đương nhiệm lúc đó là Bill Clinton đã chính thức

thừa nhận chất độc da cam gần như là nguyên nhân của 13 chứng bệnh nan y ở

người là: Ung thư tuyến tiền liệt, ung thư máu, ung thư thận, ung thư não, ung thư

đường tiêu hóa...tiểu đường loại 2 và bệnh thần kinh ngoại biên.

Bảng 1.2. Danh mục các bệnh ở người liên quan đến phơi nhiễm dioxin

TT

Tên tiếng việt

Tên tiếng anh

Ung thư phần mềm

Soft tissue sarcoma

1

U lympho không Hodgkin

Non – Hodgkin’s lymphoma

2

U lympho Hodgkin

Hodgkin’s disease

3

Ung thư phế quản - phổi

Lung and Bronchus cancer

4

Ung thư khí quản

Trachea cancer

5

Ung thư thanh quản

Larynx cancer

6

Ung thư tiền liệt tuyến

Prostate cancer

7

Ung thư gan nguyên phát

Primary liver cancers

8

Bệnh đa u tủy xương ác tính

Kahler’s disease

9

Acute and subacute peripheral neuropathy

10

Bệnh thần kinh ngoại biên cấp tính và bán cấp tính Tật gai sống chẻ đôi

Spina Bifida

11

Bệnh trứng cá do clo

Chloracne

12

Bệnh đái tháo đường type 2

Type 2 Diabetes

13

Bệnh Porphyrin xuất hiện chậm

Porphyria cutanea tarda

14

Các bất thường sinh sản

Unusual births

15

Các dị dạng, dị tật bẩm sinh (đối với con của người bị nhiễm chất độc hóa

16

học/dioxin)

Rối loạn tâm thần

Mental disorders

17

(Nguồn: Bộ Y tế, 2008)

Các báo cáo của EPA đã công nhận dioxin là một chất gây ung thư cho con

người. Năm 1997, Tổ chức quốc tế về nghiên cứu ung thư (IARC) thuộc WHO đã

công bố 2,3,7,8-TCDD là chất gây ung thư nhóm 1 (nghĩa là nhóm đã được công

nhận là gây ung thư) [38]. Đồng thời, tháng 1 năm 2001, chương trình Độc học

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Quốc gia Hoa Kỳ đã chuyển dioxin vào nhóm "các chất gây ung thư cho người".

15

Bảng 1.3. Các giá trị TEF của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trong đánh giá rủi ro

đối với con người

Giá trị

Giá trị

Chất đồng dạng

Chất đồng dạng

TEF

TEF

Dibenzo-p-dioxins

"dioxin-like" PCBs Non-ortho

(PCDDs)

PCBs + Mono-ortho PCBs

1

2,3,7,8-TCDD

0,5

1,2,3,7,8-PeCDD

Non-ortho PCBs

0,1

1,2,3,4,7,8-HxCDD

PCB 77

0,0001

0,1

1,2,3,6,7,8-HxCDD

PCB 81

0,0001

1,2,3,7,8,9-HxCDD

0,1

PCB 126

0,1

1,2,3,4,6,7,8-HpCDD

0,01

OCDD

0,0001

PCB 169

0,01

Dibenzofurans (PCDFs)

Mono-ortho PCBs

0,1

2,3,7,8-TCDF

PCB 105

0,0001

0,05

1,2,3,7,8-PeCDF

PCB 114

0,0005

0,5

2,3,4,7,8-PeCDF

PCB 118

0,0001

0,1

1,2,3,4,7,8-HxCDF

0,1

1,2,3,6,7,8-HxCDF

PCB 123

0,0001

0,1

1,2,3,7,8,9-HxCDF

PCB 156

0,0005

0,1

2,3,4,6,7,8-HxCDF

PCB 157

0,0005

1,2,3,4,6,7,8-HpCDF

0,01

PCB 167

0,00001

1,2,3,4,7,8,9-HpCDF

0,01

PCB 189

OCDF

0,0001

0,0001

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16

Trong một nghiên cứu kiểm định năm 2003, các nhà khoa học cũng khẳng

định không có một liều lượng nào là an toàn hoặc ngưỡng dioxin mà dưới nó thì

không gây ung thư. Điều này có thể hiểu là nếu một người phơi nhiễm dioxin dù

lượng nhỏ nhất thì đã mang trong mình hiểm họa ung thư. Ở Việt Nam, Bộ Y tế đã

ban hành danh mục các bệnh có liên quan đến dioxin nhằm phục vụ công tác giải

quyết hậu quả do chiến tranh hóa chất tại mà quân đội Mĩ tiến hành tại Việt Nam

(1961 -1971). Ngoài ung thư, dioxin còn có thể liên quan đến một số bệnh nguy

hiểm khác như bệnh rám da, bệnh đái tháo đường, bệnh ung thư trực tràng không

Hodgkin, thiểu năng sinh dục cho cả nam và nữ, sinh con quái thai hoặc thiểu năng

trí tuệ, chửa trứng (ở nữ)... Cơ chế phân tử của dioxin tác động lên các tế bào và cơ

thể người, động vật vẫn đang còn nhiều tranh cãi về chi tiết. Thời gian bán phân huỷ

của dioxin trong cơ thể động vật là 7 năm hoặc có thể lâu hơn. Thông thường,

dioxin gây độc tế bào thông qua một thụ thể chuyên biệt cho các hydratcarbon thơm

có tên là AhR (Aryl hydrocarbon Receptor). Phức hợp dioxin - thụ thể sẽ kế hợp với

protein vận chuyển ArnT (AhR nuclear Translocator) để xâm nhập vào trong nhân

tế bào [13]. Tại đây dioxin sẽ gây đóng mở một số gene giải độc quan trọng của tế

bào như Cyp1A, Cyp1B,... Đồng thời, một số thí nghiệm trên chuột cho thấy dioxin

làm tăng nồng độ các gốc ion tự do trong tế bào. Điều này, có thể là làm phá huỷ

các cấu trúc tế bào, các protein quan trọng và, quan trọng hơn cả, nó có thể gây đột

biến trên phân tử AND [25]. Trong một đánh giá về rủi ro và nghiên cứu các vấn đề

chính sách được đưa ra trong Hội nghị Quốc tế về dioxin tổ chức tại Berlin, 2004,

nhóm tác giả đến từ Cục Môi trường Liên bang Đức đã đưa ra kiến nghị không có

mức phơi nhiễm dioxin tối thiểu nào có độ an toàn cho phép. Theo WHO thì mức

phơi nhiễm dioxin cho phép qua thức ăn của mỗi người là 1-10 pg đương lượng độc

(TEQ)/ngày [38].

1.4. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài

1.4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Các nghiên cứu về dioxin đã được tiến hành rất nhiều trong thế giới về đặc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tính, mức độ phơi nhiễm, ảnh hưởng phơi nhiễm, đánh giá rủi ro môi trường... Do

17

tính chất vô cùng nguy hại của dioxin mà nó được đưa vào chương trình quản lý

hóa chất độc hại ưu tiên của hầu hết các nước trên thế giới.

Nhận thức được những rủi ro lớn mà dioxin gây ra, hầu hết các nước trên thế

giới đều xây dựng kế hoạch quốc gia về dioxin. Chính phủ Úc công bố Kế hoạch

quốc gia về dioxin vào năm 2001 [18], để giảm dioxin và các chất giống dioxin

trong môi trường. Một trong những chương trình ưu tiên là nâng cao kiến thức

cộng đồng về dioxin. Chính phủ Úc đã tiến hành một loạt các nghiên cứu (2001 -

2004), để đo lượng khí thải từ các nguồn như cháy rừng, mức độ dioxin trong thực

phẩm, môi trường và khu dân cư. Những phát hiện của các nghiên cứu này đã

được sử dụng để xác định nguy cơ rủi ro dioxin gây ra cho sức khỏe của con người

và môi trường.

Những báo cáo đánh giá rủi ro đã được thực hiện: dioxin phát thải từ các vụ

cháy rừng, dioxin phát thải từ phương tiện cơ giới; Kiểm kê phát thải dioxin tại Úc,

2004, dioxin trong không khí xung quanh, dioxin trong đất, dioxin trong các môi

trường thủy sản, dioxin ở động vật, dioxin trong hàng hóa nông nghiệp, dioxin trong

con người: mức độ dioxin trong máu, trong sữa người, đánh giá rủi ro sinh thái của

dioxin, đánh giá rủi ro sức khỏe của dioxin [18].

Trong những năm gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện việc giám

sát nồng độ dioxin có trong thực phẩm. Các giám sát này đã phát huy được hiệu quả

khi phát hiện được nhiều sự cố ô nhiễm dioxin trong thực phẩm.

Tại Hà Lan năm 2004, phát hiện được nồng độ dioxin gia tăng trong sữa bò,

nguyên nhân được xác định là do đất sét bị nhiễm dioxin được sử dụng trong quá

trình sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc. Vụ việc tương tự cũng đã xảy ra và được

phát hiện năm 2006, nguyên nhân là do sử dụng mỡ động vật nhiễm dioxin trong

sản xuất thức ăn chăn nuôi. Năm 2008 tại Ireland, chương trình kiểm soát ô nhiễm

trong thực phẩm của quốc gia này đã phát hiện hàng trăm tấn thịt lợn bị nhiễm

dioxin với nồng độ cao gấp 200 lần so với ngưỡng an toàn cho phép theo tiêu chuẩn

của WHO. Các nghiên cứu sau đó cho thấy, nguyên nhân ô nhiễm có nguồn gốc từ

thức ăn chăn nuôi bị nhiễm dioxin [24]. Đây chính là những minh chứng quan trọng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

về sự phơi nhiễm dioxin thông qua chuỗi thức ăn.

18

Những nghiên cứu trên thế giới về dioxin trong thời gian gần đây chủ yếu tập

trung vào vấn đề giảm nhiễm độc hay phơi nhiễm dioxin ở người. Tổ chức Y tế thế

giới (WHO) đã xác định giảm nhiễm độc dioxin là một trong những mục tiêu quan

trọng trong các mục tiêu của y tế cộng đồng. Từ năm 1976, WHO đã chủ trì và chịu

trách nhiệm đối với Hệ thống chương trình giám sát và đánh giá ô nhiễm thực phẩm

toàn cầu (GEMS) [24], trong hệ thống này thì dioxin là một phần quan trọng của

chương trình giám sát và đánh giá. Thông qua hệ thống mạng lưới các phòng thí

nghiệm tham gia chương trình của hơn 70 quốc gia, chương trình đã thu thập, tổng

hợp, phân tích, đánh giá và cung cấp những thông tin quan trong về mức độ và xu

hướng diễn biến của các chất ô nhiễm có trong thực phẩm, trong đó có dioxin.

Năm 1987, WHO cũng đã bắt đầu triển khai chương trình nghiên cứu định kỳ

về mức độ ô nhiễm dioxin, các nghiên cứu này tập trung chủ yếu ở các nước châu

Âu. Thông qua việc đánh giá định kỳ về hàm lượng dioxin có trong mẫu sữa người,

những nghiên cứu này đã cung cấp những đánh giá quan trọng cho vấn đề phơi

nhiễm dioxin ở người từ tất cả các nguồn tiếp xúc. Trong đó, các biện pháp kiểm

soát tiếp xúc với dioxin và tránh phơi nhiễm được áp dụng tại một số quốc gia được

đánh giá là phát huy hiệu quả đáng kể. Trong những hoạt động gần đây nhất, Ủy

ban chuyên gia về phụ gia thực phẩm của FAO/WHO đã thực hiện việc đánh giá rủi

ro toàn diện đối với PCDDs, PCDFs và các chất giống dioxin [38]. Mục đích của

hoạt động này là nhằm xác định một ngưỡng nồng độ dioxin an toàn khi bị phơi

nhiễm mà không phát hiện được những ảnh hưởng đối với sức khỏe con người.

Về ô nhiễm tồn lưu, điểm ô nhiễm tồn lưu có thể được coi là một khái niệm

không còn mới mẻ đối với cả các nước phát triển. Ví dụ như tại Đức, đã có hơn

50.000 điểm ô nhiễm do công nghiệp được xác định. Tại Mỹ, có khoảng hơn

100.000 điểm nghi ngờ ô nhiễm với khoảng 10.000 điểm được xếp hạng ưu tiên

xem xét. Vì vậy, nếu như những năm 80, phục hồi môi trường và giải quyết hậu quả

môi trường là ưu tiên được đặt lên hàng đầu, thì đến nay, mặc dù việc bảo vệ ô

nhiễm đất và nước ngầm đã được quy định thành luật, nhưng chiến lược quản lý các

điểm ô nhiễm tồn lưu đã chuyển dần sang hướng tìm kiếm phương cách sử dụng

phù hợp hơn là tập trung mọi phương tiện kỹ thuật và kinh tế để phục hồi điểm ô

nhiễm tồn lưu đến nồng độ thông thường, hoặc ở mức có thể chấp nhận được với

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

mọi hình thức sử dụng đất.

19

Cho đến nay, điểm ô nhiễm tồn lưu vẫn là một trọng tâm của các chiến lược

môi trường quốc gia hoặc các chương trình môi trường ở châu Âu và Bắc Mỹ. Toàn

bộ các vấn đề về điểm ô nhiễm tồn lưu, hoặc các chương trình quốc gia về quản lý

điểm ô nhiễm tồn lưu mới chỉ được luật hóa trong những năm cuối thế kỷ 20 và

những năm đầu của thế kỷ 21, cho thấy chúng không phải là những vấn đề có thể

được giải quyết dễ dàng. Trong công tác quản lý hóa chất độc hại và quản lý các

điểm ô nhiễm tồn lưu, đánh giá rủi ro và quản lý rủi ro đã trở thành công cụ quản lý

ngày càng quan trọng, việc sử dụng các đánh giá rủi ro môi trường đóng vai trò

quan trọng trong việc ra các quyết định chính sách và quy định trong quản lý môi

trường: Thiết kế các quy định, ví dụ xác định mức độ rủi ro được xã hội chấp

nhận, nó có thể là cơ sở để xây dựng tiêu chuẩn môi trường; Cung cấp cơ sở cho

việc ra quyết định về địa điểm dự án, ví dụ quy hoạch sử dụng đất hoặc lựa chọn

địa điểm lắp đặt nhà máy xử lý chất thải nguy hại; Xác định các rủi ro môi

trường ưu tiên; So sánh các rủi ro, ví dụ so sánh giữa các nguồn tài nguyên, giữa

các loại rủi ro hoặc giữa các quyết định về rủi ro. Hiện nay, WHO đang phối hợp

với Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc trong vấn đề thực hiện các cam kết

của Công ước Stockholm về kiểm soát các hợp chất ô nhiễm hữu cơ bền vững

POPs, trong đó có dioxin.

1.4.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong chiến tranh hóa chất ở Việt Nam, quân đội Mĩ đã sử dụng một số loại

hóa chất diệt cỏ với tên gọi như sau [2], [3]:

- Chất da cam: là một hỗn hợp có tỉ lệ 1/1 của các chất 2,4-D (2,4-

diclorophenoxyaxeticaxit) và 2,4,5-T (2,4,5- Triclorophenoaxeticaxit). Trong suốt

cuộc chiến tranh, quân đội Mĩ đã sử dụng tới 44,338 triệu lít (64%) tổng lượng chất

độc đã được sử dụng, tương đương với 170 kg dioxin chất cực độc phát sinh trong

quá trình sản xuất 2,4,5-T.

- Chất trắng: là một hỗn hợp gồm 2,4-D và picloran được sử dụng tới 12,835

triệu lít.

- Chất xanh lam: là một hỗn hợp của natrietylmetyl arsenat (Na.cacodylate) và

dimetylarsenataxit (acodylic) được sử dụng tới 8,182 triệu lít.

- Các thuốc diệt cỏ loại clorophenoxy có: 2,4,5-triclophenoxyaxeticaxit (2,4,5-

T) và 2,4- diclophenylaxeticaxit (2,4-D) đã được sản xuất và sử dụng trên phạm vi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

rộng để diệt cỏ dại, một số loại thực vật và chất làm rụng lá sử dụng trong quân sự.

20

- TCDD (2,3,7,8) – Tetraclodibenzo-p-dioxin được tạo ra trong quá trình sản

xuất một số hợp chất thơm và các hợp chất hữu cơ halogen có chứa oxy như các

chất diệt cỏ clorophenoxy và hexaclophen mà cho đến những năm 1960 người ta

vẫn còn sử dụng quá trình sản xuất này.

- Các hợp chất dioxin có thể có tới 75 dẫn xuất khi thay thế từ 1- 8 nguyên tử

clo vào vị trí của các nguyên tử hydro trong cấu trúc phân tử .... trong đó đáng chú ý

nhất là TCDD (2,3,7,8 - TCDD), là một trong những chất độc nguy hiểm nhất trong

tất cả các chất tổng hợp đối với một số động vật kể cả con người.

Các nhà khoa học thế giới và Việt Nam đã hợp tác nghiên cứu về dioxin từ

những năm 1970 đến nay. Có thể tổng hợp các kết quả nghiên cứu theo từng giai

đoạn như sau [2]:

* Giai đoạn 1962-1971

Trong giai đoạn 1962 - 1971, quân đội Mỹ và quân đội Nam Việt Nam đã

phun rải chất diệt cỏ trong đó có dioxin làm ô nhiễm một số khu vực miền Nam

Việt Nam với mục đích làm rụng lá để phá huỷ những khu rừng có thể làm nơi ẩn

nấp và cung cấp lương thực cho kẻ thù.

Khoảng 85% chất da cam được coi là có nguồn gốc từ những vụ phun rải bằng

máy bay trong chiến dịch Ranch Hand. Lượng còn lại là từ các vụ phun rải bằng

tay, bằng trực thăng hay bằng tàu chiến của hải quân.

Bảng 1.4. Hàm lượng 2,3,7,8 - TCDD trong cá, giáp xác và thực phẩm Mỹ đã

nhập khẩu ở Việt Nam

Loại thực phẩm Năm Nơi lấy mẫu

Tôm 1970 Cần Giờ Nồng độ TCDD ppt/kg 14

Cá trê 1970 Sông Đồng Nai 1020

Mẫu tai siêu thị 1990 Dallas, Texas < 0,1

Mẫu tai siêu thị 1990 California < 0,1

(Nguồn: Văn phòng 33, 2010)

Hàm lượng TCDD trung bình cho phép có trong chất da cam là khoảng 3 ppm.

Năm 1970, các nhà khoa học đã tiến hành lấy mẫu sữa và cá tại các khu vực bị phun

rải. Kết quả phân tích đã tìm thấy hàm lượng TCDD có nguồn gốc từ chất da cam cao

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nhất là 1.850 ppt/g mỡ trong sữa, trong mẫu đất lấy ở khu vực Biên Hoà lên tới

21

1.000.000 ppt [2]. Theo kết quả nghiên cứu của một nhóm các nhà khoa học Việt

Nam, Mĩ, Đức về kết quả nghiên cứu về dioxin từ năm 1970 đến nay [2], hàm lượng

TCDD có trong mẫu sữa người lấy tại Việt Nam và Mĩ được biểu thị cụ thể như sau:

Bảng 1.5. Hàm lượng 2,3,7,8 - TCDD trong sữa lấy tại Việt Nam và Mỹ

n Nơi lấy mẫu Năm Hàm lƣợng (ppt, lipid)

1 Khu vực sông Đồng Nai 1970 1832

1 Khu vực sông Đồng Nai 1970 1465

1 Huyện Cần Giờ 1970 732

1 Khu vực sông Sài Gòn 1970 257

1 Boston, MA, Mỹ 1970 ND (LD=29)

Binghamton, NY, USA và 3,3 42 (Trung bình) 1980 Los Angeles, CA, USA

2,2 Hà Nội 28 (Trung bình) 1980

7,1 Tp. Hồ Chí Minh 38 (Trung bình) 1980

(Nguồn: Văn phòng 33, 2010)

* Giai đoạn 1982 - 1998

Rất nhiều nghiên cứu đánh giá phơi nhiễm dioxin và dịch tễ học trong giai

đoạn 1982 - 2008 được thực hiện bởi các nhà khoa học Việt Nam như: Lê Cao Đài,

Hoàng Đình Cầu, Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Hoàng Trọng Quỳnh cùng các cộng

sự trong nhiều bệnh viện; Uỷ ban 10-80 chuyên nghiên cứu về hậu quả chất diệt cỏ

sử dụng trong thời gian chiến tranh; cùng toàn thể các nhà khoa học từ nhiều quốc

gia Mỹ, Đức, Canada, Pháp, Nhật, Nga [2].

Mẫu phân tích dioxin trong tế bào người được thực hiện bởi Tiến sĩ John Jake

Ryan cho thấy sự tăng hàm lượng dioxin trong tế bào người và các mẫu sinh học

khác. Kết quả cũng tương tự như phân tích của Olaf Paepke tại phòng thí nghiệm

ERGO Humburg, Đức. Đã có nhiều cuộc hội thảo quốc tế về vấn đề này được tổ

chức tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh dưới sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

các chuyên gia về môi trường và Chính phủ Việt Nam.

22

Nhóm chuyên gia về môi trường Hatfield của Canada đã thực hiện nghiên cứu

đánh giá ô nhiễm dioxin TCDD trong đất, trầm tích, thực phẩm và con người tại

một số vùng ở Việt Nam.

* Giai đoạn 1998 – 2000

Giáo sư Hoàng Trọng Quỳnh đã thực hiện tiếp nghiên cứu cùng với Arnold

Schecter, John Constable và Olaf Paepke [2]. Nghiên cứu này đã chỉ ra hàm lượng

TCDD trong mẫu máu và mỡ của người dân quanh khu căn cứ và khu chứa lên tới

400 ppt. Trong mẫu cá, vịt và nhiều động vật khác được sử dụng làm thực phẩm đều

có hàm lượng TCDD khá cao. Nghiên cứu này cho thấy việc sử dụng những thực

phẩm bị ô nhiễm có nguồn gốc từ động vật càng làm tăng ô nhiễm TCDD có nguồn

gốc từ chất da cam trong cơ thể người. Trầm tích và nước là hai nguồn ô nhiễm đầu

tiên, tiếp theo là các loài động vật khiến cho những sinh vật này bị nhiễm độc.

Tương tự dioxin sẽ vào trong cơ thể người qua chuỗi thức ăn. Nhóm chuyên gia của

Hatfield Canada đã tìm thấy sự tăng hàm lượng TCDD trong cơ thể người, trong

thực phẩm, trong môi trường xung quanh sân bay gần các điểm ô nhiễm.

* Giai đoạn 2000 - 2008

Trọng tâm của hướng nghiên cứu trong giai đoạn này là giảm thiểu ô nhiễm

dioxin tại các điểm nóng và những khu vực có hàm lượng dioxin cao tại các sân

bay. Quỹ Ford, dưới sự chỉ đạo của ngài Charles Bailes và các cộng sự đầu tư cho

hướng nghiên cứu này. Trong giai đoạn hiện nay , Tổ ng cụ c Môi trườ ng đã có nhiề u

hoạt động hợp tác quốc tế về quản lý các điểm ô nhiễm môi trường mà điển hình là

dự á n hợ p tá c vớ i Cụ c Bả o vệ môi trườ ng Đứ c về quả n lý cá c điể m ô nhiễ m tồ n lưu

ở Việt Nam. Tuy nhiên, tồn lưu ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam là vấn đề

có tính phức tạp bậc nhất trong số các vấn đề liên quan đến hiện trạng môi trường

Việt Nam hiện nay. Do vậy, để giải quyết triệt để được vấn đề này, đòi hỏi phải có

sự chung tay góp sức và phối hợp giữa Chính phủ, các cơ quan trực thuộc Chính

phủ, các cơ quan tổ chức có liên quan và của toàn xã hội.

Dự án "Xử lý ô nhiễm dioxin tại các vùng nóng ở Việt Nam" đã được Bộ Tài

nguyên và Môi trường mà cụ thể là Văn phòng Ban chỉ đạo 33 phối hợp với Quỹ

Môi trường Toàn cầu và UNDP. Dự án được thực hiện từ năm 2010 đến 2014 nhằm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

giải quyết hậu quả của hóa chất độc hại trong chiến tranh Việt Nam, giảm thiểu sự

23

tàn phá của chất độc đối với hệ sinh thái và sức khỏe con người tại ba vùng nóng:

sân bay Đà Nẵng, sân bay Biên Hòa (Đồng Nai), sân bay Phù Cát (Bình Định).

Trong thực tế, rất nhiều các nhà khoa học Mỹ, Việt Nam cũng như các nhà khoa

học khác trên thế giới đã nghiên cứu về chất độc da cam – dioxin sử dụng trong chiến

tranh ở Việt Nam, mức độ tồn dư của dioxin trong môi trường và ảnh hưởng của nó

đến sức khỏe người dân Việt Nam sống ở nhưng khu vực có khả năng bị phơi nhiễm

cũng như các thế hệ con cháu của họ sau này. Cũng như có nhiều nghiên cứu đã được

tiến hành ở nhóm đối tượng là các cựu binh Mỹ và các nước đã từng tham chiến ở

Việt Nam. Hầu hết các nghiên cứu đó đều khẳng định về những tác hại lâu dài và vô

cùng nghiêm trong của dioxin có trong chất độc da cam đối với môi trường và con

người. Tuy nhiên, vấn đề hiện nay là trong quá trình nghiên cứu các tác giả đã sử

dụng các quy trình nghiên cứu khác nhau nên hầu hết mối liên hệ trực tiếp giữa chất

độc da cam và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe của người dân Việt Nam đều chưa

được công nhận một cách rõ ràng. Điển hình là theo Viện Y tế Hoa Kỳ (IOM) [2] ước

tính thì lượng dioxin - TCDD có trong 19,5 triệu thùng chất da cam mà quân đội Mĩ

đã sử dụng để phun rải trong chiến tranh Việt Nam chỉ tương đương 170 kg dioxin –

TCDD; trong khhi đó theo cách tính của Stellman và cộng sự (2003) thì khối lượng

đó ước tính khoảng 700 kg [34]. Các kết quả nghiên cứu khoa học có liên quan đến

dioxin ở Việt Nam vẫn tiếp tục là những minh chứng cho hậu quả nặng nề của dioxin

mà quân đội Mĩ sử dụng trong chiến tranh đối với môi trường và con người Việt

Nam. L.Wayen Dwernychuk cùng các cộng sự Canada và Việt Nam 2002 [29], đã

công bố những kết quả nghiên cứu về sự tồn dư của dioxin trong các mẫu đất, mẫu

sinh phẩm tại các vùng trước đây là căn cứ quân đội Mĩ dùng làm kho chứa chất độc

da cam. Nghiên cứu đã khẳng định chất độc dioxin tồn dư trong đất đã làm ô nhiễm

nguồn nước thông qua đó xâm nhập vào chuỗi thức ăn để có mặt trong cơ thể con

người. Từ các kết quả nghiên cứu của mình L.Wayen Dwernychuk [29] cũng đã từng

khẳng định cần phải tôn trọng các thông tin mới về ảnh hưởng của dioxin đến sức

khỏe của cựu binh Mĩ và người dân Việt Nam, những người đã, đang và sẽ tiếp tục

phải đối mặt với những hậu quả vô cùng nghiêm trọng do dioxin sử dụng trong chiến

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tranh gây ra.

24

Chƣơng 2

NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiện trạng tồn lưu ô nhiễm dioxin do quân

đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam ở một số khu vực lựa chọn (Sân bay Đà

Nẵng và Sân bay Biên Hòa).

- Phạm vi nghiên cứu: Sự tồn lưu của dioxin trong đất và trầm tích.

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

* Thời gian: Nghiên cứu từ tháng 11/2010 đến tháng 9 /2012

* Địa điểm: Một số điểm tồn lưu ô nhiễm dioxin do chiến tranh: Sân bay Đà

Nẵng, Sân bay Biên Hòa – Đồng Nai.

2.3. Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu về nguồn nhân ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam và các

địa điểm nghiên cứu;

- Đánh giá tồn lưu ô nhiễm dioxin trong môi trường đất, trầm tích tại các địa

điểm nghiên cứu;

- Đề xuất mô hình đánh giá rủi ro môi trường ban đầu do tồn lưu ô nhiễm

dioxin trong chiến tranh đến môi trường tại khu vực nghiên cứu;

- Đề xuất một số giải pháp quản lý, khắc phục và giảm thiểu ảnh hưởng do tồn

lưu ô nhiễm dioxin.

2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, thống kê: Thu thập thông tin, phân tích và tổng hợp

thông tin có liên quan. Sử dụng phần mềm EXCEL để xử lý số liệu và thông tin thu

thập được.

- Phương pháp kế thừa: Nghiên cứu kế thừa các tài liệu liên quan đến

dioxin chiến tranh. Tham khảo, kế thừa các tài liệu trong nước và quốc tế có

liên quan đến ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam cũng như tại các địa

điểm lựa chọn nghiên cứu. Tài liệu về nguồn ô nhiễm dioxin, mức độ ô nhiễm,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

phơi nhiễm dioxin ở Việt Nam.

25

- Phương pháp đánh giá rủi ro: Nhận dạng các mối nguy hại, đánh giá độc

tính, đánh giá phơi nhiễm, mô tả đặc tính rủi ro, biện pháp giảm thiểu rủi ro;

- Phương pháp lấy mẫu:

+ Loại mẫu thu thập: Mẫu đất và mẫu trầm tích tại các địa điểm nghiên cứu;

+ Số lượng mẫu: Đối với sân bay Đà Nẵng số lượng mẫu đất lấy 13 mẫu, mẫu

trầm tích lấy 9 mẫu; Đối với sân bay Biên Hòa lấy 11 mẫu đất và 12 mẫu trầm tích.

+ Vị trí lấy mẫu:

Bảng 2.1. Vị trí thu thập mẫu đất, trầm tích tại sân bay Đà Nẵng

Vị trí STT

Đất Ký hiệu Trầm tích Ký hiệu

1 Khu trộn nạp VN58 Hồ Sen A VN30

2 Khu trộn nạp VN59 Hồ Sen A VN31

3 Khu trộn nạp VN63 Hồ Sen A VN32

4 Khu trộn nạp VN68 Hồ Sen A VN32

5 Khu trộn nạp VN69 Hồ Sen A VN52

6 Khu chứa vỏ thùng VN75 Hồ Sen A VN53

7 Khu chứa vỏ thùng VN78 Hồ Sen A VN55

8 Khu chứa vỏ thùng VN83 Hồ Sen C VN21

9 Khu chứa vỏ thùng VN70 Hồ Sen C VN23

10 Khu chứa vỏ thùng VN74

11 Khu lan truyền VN43

12 Khu lan truyền VN47

13 Khu lan truyền VN48

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

(Nguồn: Bộ TN&MT, 2010)

26

Bảng 2.2. Vị trí thu thập mẫu đất, trầm tích tại sân bay Biên Hòa

Vị trí TT Đất Ký hiệu Trầm tích Ký hiệu

Khu để bồn chứa Trầm tích hồ Biên Hùng và ruộng

1 Phía Nam sân bê tông BH-S1 SR1 Bùn bề mặt thuộc khu

vực ruộng giữa sân bay 2 Phía Bắc sân bê tông BH-S2 SR2

3 Phía Nam hố chôn lấp BH-S3 SSM1

4 Giữa hố (-3,3m) BH-S4 SSM2

5 Bùn ở bể nước thải BH-S5 SSM3

6 Đáy bồn chứa (0-30cm) BH-S6 SSM4

7 Đáy bồn chứa (2,5m) BH-S7 SSM5 Trầm tích bề mặt khu

vực hồ Biên Hùng 8 Đáy bồn chứa (3,0m) BH-S8 SSM6

9 Đất bề mặt BH-S9 SSM7

10 Đất bề mặt BH-S10 SSM8

11 Đất bề mặt BH-S11 SSM9

12 SSM10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

(Nguồn: Bộ TN&MT, 2010)

27

Chƣơng 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Nguồn gây ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam và các địa điểm nghiên cứu

3.1.1. Nguồn gây ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam

Trong thực tế, có hai nguồn chính gây ô nhiễm dioxin ở Việt Nam. Thứ nhất,

nguồn ô nhiễm dioxin do chiến tranh tập trung ở các khu vực thuộc miền Nam. Thứ

hai, nguồn ô nhiễm dioxin phát sinh từ các nguồn phát thải công nghiệp, phân bố

trên địa bàn cả nước. Bên cạnh các nguồn ô nhiễm dioxin nói trên còn có các nguồn

phát thải khác từ các hoạt động dân sinh và nguồn ô nhiễm dioxin từ các nguyên

nhân tự nhiên như cháy rừng tự nhiên, các hoạt động của núi lửa... Những nguồn

này không phải là nguồn đóng vai trò chủ yếu gây ô nhiễm dioxin ở Việt Nam.

Trong phạm vi nghiên cứu này chúng tôi tập trung làm rõ hai nguồn chính

gây ô nhiễm dioxin là nguồn ô nhiễm do chiến tranh và nguồn ô nhiễm do phát

thải công nghiệp.

Trong chiến tranh Việt Nam, từ năm 1961 - 1971 quân đội Mỹ đã sử dụng một

lượng lớn các chất phát quang để phun rải trên một diện tích rộng lớn thuộc chiến

trường miền Nam Việt Nam. Mục đích chính là làm rụng lá cây ở những khu vực do

quân giải phóng kiểm soát nhằm đạt được những ưu thế về mặt chiến lược quân sự

trên chiến trường; phá hoại mùa màng, làm suy giảm năng suất lương thực, hạn chế

nguồn cung cấp thực phẩm tại chỗ cho quân giải phóng; tạo ra các vành đai nhằm

bảo vệ các căn cứ quân sự của quân đội Mỹ và đồng minh ở miền Nam Việt Nam.

* Về loại chất phát quang có chứa dioxin

Nghiên cứu của tác giả Vũ Chiến Thắng cho thấy [15]: Từ năm 1961 - 1966,

quân đội Mỹ sử dụng chủ yếu phương tiện vận chuyển và phun rải là máy bay với

tần suất 4 lần/ngày. Đến năm 1969, mức độ phun rải tăng lên 36 lần/ngày và lượng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

máy bay sử dụng được thống kê là 24 máy bay lên thẳng.

28

(Nguồn: Chicago Tribune, 2009)

Hình 3.1. Hoá chất làm rụng lá được rải trong chiến tranh Việt Nam

Tài liệu thống kê về chiến dịch Ranch Hand còn cho thấy cụ thể hơn, từ tháng

8/1965 - tháng 2/1971, quân đội Mỹ đã thực hiện 6.542 chuyến bay rải chất phát

quang xuống 32/46 tỉnh thuộc miền Nam Việt Nam. Ước tính tổng lượng dioxin

được sử dụng trong chiến tranh ít nhất là 366 kg.

Bảng 3.1. Lượng chất phát quang phun rải ở miền Nam Việt Nam

Nguồn

Westing

Lindsey

UB 10-80

Stellman

Young

Tên chất

(1976)

(1999)

(2000)

(2003)

(2005)

Xanh mạ (Green)

-

31.026

-

31.026

31.200

Hồng (Pink)

-

464.154

-

50.312

347.360

Tím (Purple)

-

548.100

-

1.892.773

1.580.800

Xanh (Blue)

8.182.000

8.189.960

4.672.171

4.741.381

4.372.160

Trắng (White)

19.835.000

19.806.644

20.636.766

20.556.525

21.320.000

Da cam (Orange)

44.373.000

44.274.611

44.723.096

45.677.937

43.891.120

Tổng (lít)

72.390.000

73.314.495

72.450.734

72.949.954

71.542.640

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

(Nguồn: Vũ Chiến Thắng, 2004)

29

Cho đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau để làm rõ

lượng chất phát quang có chứa dioxin được được quân đội Mỹ sử dụng trong chiến

tranh Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn chưa có một kết quả nghiên cứu thống nhất được

công nhận về lượng chất phát quang có chứa dioxin được sử dụng trong chiến tranh

Việt Nam (1961-1971). Các số liệu thống kê hầu hết đều xác định lượng chất phát

quang mà quân đội Mỹ đã sử dụng vào khoảng hơn 70 triệu lít bao gồm nhiều loại

chất khác nhau như: chất xanh, chất hồng, chất tím, chất trắng, chất da cam. Các số

liệu thống kê cụ thể về lượng chất phát quang phun rải ở chiến tranh Việt Nam của

một số tác giả nghiên cứu có được tổng hợp qua bảng 4.1. Qua bảng này chúng ta

nhận thấy: số liệu thống kê được công bố đầu tiên về dioxin sử dụng trong chiến

tranh Việt Nam là của tác giả Westing năm 1976 trong đó ghi nhận sự có mặt của

chất xanh, chất trắng và chất da cam với số lượng 73.390.000 lít - đây cũng là con số

thống kê lớn nhất từng được ghi nhận; Còn theo tác giả Lindsey công bố năm 1999

thì có sự ghi nhận thêm các chất xanh mạ, hồng và tím với tổng thể tích là 73.

314.495. Tuy nhiên, đến năm 2005 tác giả Young đã công bố số liệu được thu thập từ

Bộ Quốc phòng Mỹ và con số thống kê ghi nhận sự có mặt của 6 loại chất màu khác

nhau, với tổng thể tích là 71.542.640 lít trong đó chất da cam chiếm tỉ lệ 61,35 %

tổng thể tích chất hóa học được sử dụng.

* Về nồng độ và khối lƣợng dioxin

Cho đến nay, vấn đề ước tính tổng lượng dioxin có trong chất phát quang được

quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam vẫn còn gây ra nhiều tranh cãi. Để

xác định chính xác khối lượng chất dioxin có trong hóa chất diện cỏ mà quân đội

Mỹ đã sưe dụng trong chiến tranh Việt Nam thì cần phải xác định chính xác thể tích

sử dụng và nồng độ dioxin/đơn vị thể tích có trong từng loại chất hoặc nồng độ

dioxin trung bình/đơn vị thể tích. Nồng độ dioxin có trong các chất phát quang theo

nghiên cứu của Không quân Mỹ ước tính là 1,77 ppm; theo ước tính của Viện Y

khoa Mỹ là 13,25 ppm; còn theo ước tính của Lindsey, 1999 là 1,77 - 40 ppm [39].

Do vấn đề ước tính về nồng độ dioxin khác nhau trong các chất phát quang cho nên

việc tính toán và đưa ra số liệu về khối lượng dioxin được phun rải cũng không có

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

sự thống nhất.Theo Stellman, 2003 [34]: lượng chất dioxin được phun rải cùng với

30

các chất phát quang là 336 kg; Viện Y khoa Mỹ là 167 kg. Tuy nhiên, theo nghiên

cứu của các nhà khoa học Việt Nam thì con số này là 1000 kg [14].

* Về diện tích và khu vực bị phun rải

Trong các nghiên cứu được tiến hành thời gian trước đây, theo ước tính của

các nhà nghiên cứu thuộc Viện Y khoa Mỹ, tổng diện tích không quân Mỹ và Nam

Việt Nam rải là 1,5 triệu ha. Nhưng qua sử dụng hệ thống kiểm tra dân số thôn ấp

do quân đội Mỹ phát triển trong thời chiến, các nhà nghiên cứu đại học Columbia -

Mỹ cho thấy tổng diện tích bị ảnh hưởng bởi hóa chất khai quang là 2.631.297 ha.

Trong số này, có đến 86% bị rải hai lần trở lên. Khoảng 11% bị rải hơn 10 lần.

Trong số diện tích ảnh hưởng, có đến 1.679.734 ha bị ảnh hưởng bởi chất diệt cỏ,

và trong số đó, có đến 80% bị rải hai lần trở lên [2], [39].

Bảng 3.2. Diện tích bị ảnh hưởng của chất khai quang

Diện tích (ha) bị ảnh Diện tích (ha) bị ảnh Số lần rải hƣởng của chất diệt cỏ hƣởng dioxin

368.556 1 lần 343.426

369.844 2 lần 332.249

361.862 3 lần 275.770

341.037 4 lần 236.232

272.709 5 lần 153.192

216.724 6 lần 119.127

153.391 7 lần 75.062

138.610 8 lần 51.371

115.103 9 lần 32.988

293.461 >=10 lần 60.316

Tổng 2.631.297 1.679.734

(Nguồn: Nguyễn Văn Tuấn, 2006 và Young AL, 2007)

Tuy nhiên, nghiên cứu tổng hợp của tác giả Vũ Chiến Thắng cho thấy diện

tịch bị phun rải chất phát quang có chứa dioxin được thống kê cụ thể theo các tác

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

giả qua biểu đồ số liệu sau:

31

(Nguồn: Vũ Chiến Thắng, 2004)

Hình 3.2. Diện tích bị phun rải chất phát quang có chứa dioxin theo các tác giả

Qua bảng số liệu thống kê ước tính diện tích bị phun rải chất phát quang có

chứa dioxin theo các tác giả khác nhau nhận thấy: diện tích ước tích giữa các tác giả

nước ngoài và nghiên cứu của Việt Nam có sự chênh lệch khá lớn.

Theo Bộ Quốc phòng Mỹ là 2.233.600 ha; theo Westing là 2.574.000 ha; theo

Lindsey là 2.611.900 ha ; còn theo Ủy ban tố cáo tội ác chiến tranh của Mỹ -

UBTCTACT thì con số này là 5.802.000 ha. Bên cạnh những nghiên cứu nói trên,

còn có một số các kết quả nghiên cứu khác nhau đã được công bố như: năm 2003

trong nghiên cứu của Stellman và cộng sự thì diện tích phun rải ước tính là

2.631.297 ha, còn số liệu gần đây nhất của Văn phòng chỉ đạo 33 - Bộ Tài nguyên

và Môi trường là 3.893500 ha. Có một số nguyên nhân gây nên sự chênh lệch số

liệu thống kê về diện tích bị phun rải như sau:

- Do sử dụng nhiều loại phương tiện phun rải khác nhau chẳng hạn như sử

dụng máy bay, xe ô tô, phun rải bằng tay, rò rỉ...;

- Theo bảng thống kê tần suất bị phun rải, có nhiều khu vực bị phun rải nhiều

lần do vậy gây nên sự sai khác về số liệu thống kê;

- Quá trình phun rải (đặc biệt là sử dụng máy bay) chịu ảnh hưởng của nhiều

yếu tố khác nhau như: tốc độ gió, áp lực dòng phun, tốc độ di chuyển của thiết bị

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

vận chuyển trong quá trình phun, tốc độ gió,...

32

Từ những kết quả phân tích nêu trên, việc đưa ra một số liệu thống kê chính

xác nhất về diện tích bị phun rải chất phát quang có chứa dioxin trong thực tế rất

khó thực hiện do có nhiều nguồn số liệu sơ cấp khác nhau và phương pháp tính toán

có sự khác biệt. Do vậy, về diện tích phun rải có thể ước lượng trong khoảng 2,5 -

3,0 triệu ha.

Theo nguồn số liệu của UB 10 - 80 và căn cứ vào tính toán của tác giả, tỉ lệ

diện tích bị ảnh hưởng nặng nề bởi chất phát quang có chứa dioxin đối với tài

nguyên rừng được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 3.3. Diện tích đất bị rải ảnh hưởng nặng nề bởi chất phát quang có chứa

dioxin theo địa phương

Tỉnh Tổng diện tích tự nhiên (ha) Tỉ lệ % Diện tích bị phun rải (ha)

An Giang, Vũng Tàu, Kiên

Giang, Đồng Tháp, Tiền 1.773.010 <10% <177.301

Giang

Đắk Lắk, Lâm Đồng, Hậu

Giang, Long An, Gia Lai,

Quảng Nam - Đà Nẵng, 7.517.900 10-20% 751.790 - 1.503.580

Khánh Hòa, Thuận Hải, Minh

Hải, Cửu Long

Quảng Ngãi, Bến Tre, Phú 2.336.010 20-30% 467.202 - 700.803 Yên, Quảng Trị, Bình Định

Thừa Thiên - Huế, Tây Ninh 911.180 40-50% 364.472 - 455.590

Sông Bé, Tp.Hồ Chí Minh, 1.651.830 >50% >751.790 Đồng Nai

Qua bảng số liệu 3.3 có thể tính được tổng diện tích bị phun rải các chất phát

quang có chứa dioxin mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam dao

động từ 2.586.680 ha đến 2.659.973 ha. Như vậy, so sánh số liệu tính toán trong

phạm vi nghiên cứu này với số liệu thống kê của các tác giả khác thể hiện trong

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

hình 3.2 chúng tôi thấy có những điểm tương đồng nhất định.

33

Nghiên cứu của tác giả Vũ Chiến Thắng còn cho thấy đối với diện tích rừng ở

miền Nam Việt Nam bị ảnh hưởng bởi chất phát quang có chứa dioxin thì có đến

124.000 ha (chiếm tỉ lệ 41%) diện tích rừng ngập mặn và 27.000 ha (chiếm tỉ lệ

13%) diện tích rừng tràm bị phun rải; Đối với đất nông nghiệp ước tính có khoảng

260.000 ha đất nông nghiệp thuộc miền Nam Việt Nam bị ảnh hưởng [15]...

3.1.2. Nguồn gây ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng và sân bay Biên Hòa

Các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay đều khẳng định ô nhiễm dioxin tại

sân bay Đà Nẵng và sân bay Biên Hòa có nguồn gốc từ chất phát quang có chứa

dioxin mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam (1961 - 1971). Tuy

nhiên, vấn đề đặt ra là cần xác định chính xác hoạt động cụ thể nào đã gây ô

nhiễm, lượng chất phát quang có chứa dioxin được phát tán ở thời điểm nào, thể

tích là bao nhiêu.

Trong chiến tranh Việt Nam, từ năm 1961 - 1971 quân đội Mỹ đã sử dụng

khoảng 76 triệu lít chất phát quang các loại để phun rải trên chiến trường miền Nam

Việt Nam. Phương tiện mà quân đội Mỹ sử dụng để phun rải chủ yếu là máy bay.

Do vậy, sân bay chính là địa điểm tập kết, trung chuyển, nạp lên máy bay, tẩy rửa

máy bay sau khi phun rải...các chất phát quang có chứa dioxin [8].

Theo số liệu Bộ Quốc phòng Mỹ mới công khai về chiến tranh Việt Nam, do

tác giả Young (2005), trình bày tại hội thảo Việt - Mỹ do Bộ Quốc phòng Việt Nam

tổ chức tại Hà Nội tháng 8/2005, các sân bay Đà Nẵng và sân bay Biên Hòa là địa

điểm tàng trữ chính các chất phát quang [15]. Hoạt động nạp chất phát quang có

chứa dioxin lên máy bay chủ yếu được thực hiện tại các sân bay này.

Như vậy, nguồn gây ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng và sân bay Biên Hòa

được xác định là: phát sinh từ các kho chứa chất phát quang có chứa dioxin; phát

sinh từ quá trình rò rỉ chất phát quang trong quá trình nạp các chất phát quang lên

máy bay, rò rỉ trong quá trình lưu giữ, bảo quản tại các kho chứa, bể chứa; phát sinh

từ quá trình tẩy rửa máy bay, tẩy rửa dụng cụ phun rải sau mỗi chuyến bay; phát

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

sinh từ các sự cố xảy ra trong quá trình vận chuyển, lưu giữ các chất phát quang.

34

Bảng 3.4. Các điểm lưu giữ chính các chất phát quang/dioxin/chất da cam trong

thời gian chiến tranh Việt Nam, từ 1961 - 1971

Địa điểm Thời gian Thể tích (lít)

Sân bay Tân Sơn Nhất 1961 - 1966 Số phuy chứa (thùng) 67.745 14.090.960

Sân bay Đà Nẵng 1965 - 1971 105.460 23.935.680

Sân bay Biên Hòa 1966 - 1971 195.855 40.737.840

Sân bay Phù Cát 1968 - 1971 - -

Sân bay Nha Trang 1968 - 1971 - -

Tổng 369.060 76.764.480

Ghi chú: Thể tích của 1 phuy chứa = 208 lít; - Không có số liệu thống kê

(Nguồn: Bộ TN&MT, 2010)

Qua bảng 3.6 trình bày những số liệu thống kê về lượng lưu giữ chất phát

quang có chứa dioxin nhận thấy: Lượng chất phát quang được lưu giữ chủ yếu tại

các sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Đà Nẵng, sân bay Biên Hòa; các sân bay còn lại

không có sự ghi nhận số liệu thống kê về hoạt động này. Trong đó, lượng lưu giữ tại

sân bay Biên Hòa lớn nhất, thống kê cho thấy có 40.737.840 lít chất phát quang

được lưu giữ và trung chuyển qua sân bay này. Sân bay Đà Nẵng lưu giữ và trung

chuyển 23.935.680 lít xếp sau sân bay Biên Hòa về thể tích lưu giữ và trung

chuyển. Trong đó, tỉ lệ lưu giữ lần lượt tại các địa điểm lưu giữ và trung chuyển

chính chất phát quang trong chiến tranh Việt Nam lần lượt là: sân bay Biên Hòa -

53%, sân bay Đà Nẵng 30% và sân bay Tân Sơn Nhất là 17% (hình 3.3).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hình 3.3. Biểu đồ mô tả tỉ lệ lưu giữ chất phát quang tại các sân bay lưu giữ và trung chuyển mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam 1961 -1971

35

3.1.2.1. Sân bay Đà Nẵng

* Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Thuộc quận Hải Châu ở vị trí trung tâm thành phố Đà Nẵng, sân bay quốc tế

Đà Nẵng là một trong 3 sân bay lớn nhất cả nước, sau sân bay Tân Sơn Nhất và sân

bay Nội Bài, được xây dựng từ năm 1940. Tổng diện tích sân bay khoảng 892,5 ha.

Khu vực sân bay Đà Nẵng tiếp giáp với nhiều khu dân cư có mật độ dân số khá cao,

xung quanh khu vực sân bay tiếp giáp với một số thủy vực là các hồ nước nằm rải

rác xen kẽ các khu dân cư của thành phố Đà Nẵng. Đây chính là một trong những

yếu tố tác động tới mức độ lan truyền và tồn lưu ô nhiễm dioxin, làm gia tăng mức

độ rủi ro do tiếp xúc với môi trường có nồng độ dioxin cao của người dân. Đà Nẵng

nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, lượng mưa trung bình hàng

năm khá cao khoảng 2.504,57 mm/năm. Điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa lượng

mưa cao là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng lan truyền của dioxin trong môi

trường. Đặc biệt là nồng độ tồn lưu ô nhiễm dioxin trong các thủy vực được xác

định là khu vực tiếp nhận ô nhiễm thứ cấp.

* Đặc điểm nguồn gây ô nhiễm dioxin

Như đã phân tích ở bảng số liệu 3.6, lượng chất phát quang chứa dioxin được

quân đội Mỹ lưu giữ, nạp lên máy bay tại sân bay Đà Nẵng là 23.935.680 lít, tập

trung chủ yếu từ năm 1965 - 1971.

(Nguồn: Young AL, 2007)

Hình 3.4. Biểu đồ mô tả tỉ lệ các loại chất có trong tổng lượng các chất phát

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

quang tại sân bay Đà Nẵng

36

Sân bay Đà Nẵng chính là điểm nạp chất phát quang và cất cánh của máy bay

quân đội Mỹ thuộc chiến dịch khai quang Ranch Hand phun rải chất phát quang trên

địa bàn các tỉnh miền Trung [7]. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê của Bộ Quốc

phòng Mỹ [39], trong chiến dịch thu gom và đóng lại các chất phát quang có tên là

Pacer Ivy được tiến hành từ tháng 12/1971 - 3/1972 tại sân bay Đà Nẵng, quân đội

Mỹ đã thu gom được 8.220 thùng chất phát quang tương đương 1.709.760 lít. Như

vậy, thực tế từ điểm lưu giữ này đã có 22.225.920 lít chất phát quang chứa dioxin

đã được phun rải và bị rò rỉ ra môi trường.

Về tỉ lệ loại chất phát quang: Trong tổng số 105.460 thùng chất phát quang tại

địa điểm này, có 50% là chất da cam, 27% chất xanh, 5% chất trắng và còn lại 18%

là các chất phát quang khác. Diện tích đất bị ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng ước tính khoảng 141.900 m2, lượng đất bị nhiễm dioxin ước tính khoảng 72.900 m3.

Đây là diện tích tiếp nhận nguồn dioxin từ các hoạt động tẩy rửa dụng cụ, máy bay

sau phun rải, rò rỉ trong quá trình lưu giữ và nạp lên máy bay các chất phát quang.

Trong thực tế, để quản lý, ngăn ngừa sự phát tán ô nhiễm dioxin đối với một diện

tích lớn, cũng như là thực hiện công tác xử lý dioxin với khối lượng đất lớn như trên

gặp rất nhiều khó khăn. Đây cũng là một yếu tố làm gia tăng tính rủi ro môi trường

do ô nhiễm dioxin.

3.1.2.2. Sân bay Biên Hòa

* Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Sân bay Biên Hòa là sân bay quân sự dược quân đội Mỹ xây dựng và sử dụng

trong chiến tranh Việt Nam, thuộc phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Sân bay có tọa độ địa lý: 10o58'33'' vĩ độ Bắc, 106o49'6' độ kinh Đông,

nằm ở phía Tây Bắc của thành phố. Về điều kiện khí hậu Biên Hòa là khu vực có

lượng mưa lớn, tổng lượng nuớc dồi dào 16,82 x 109 m³/năm, trong đó mùa mưa

chiếm 80%, mùa khô 20%. Về điều kiện địa hình, sân bay Biên Hòa thuộc khu vực

có địa hình bằng phẳng, đọ cao so với mặt nước biển là 24m. Trong khu vực sân

bay và vùng lân cận có khoảng 5ha diện tích mặt nước là các hồ nước tự nhiên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

như hồ Biên Hùng... Các hồ này là nơi lắng đọng trầm tích dioxin bị phát tán và rò

37

rỉ từ các diện tích ô nhiễm dioxin trong sân bay. Trong đó, hồ Biên Hùng được

đánh giá là nơi tiếp nhận ô nhiễm dioxin (thứ cấp) chủ yếu tại sân bay Biên Hòa.

* Đặc điểm nguồn gây ô nhiễm dioxin

Theo số liệu thống kê trong báo cáo tại Hội thảo Việt - Mỹ của Bộ Quốc

phòng Mỹ [39], lượng chất phát quang được lưu giữ và trung chuyển qua sân bay

Biên Hòa là 195.855 thùng tương đương 40.737.840 lít (bảng 4.4). Trong đó có:

98.000 thùng chất da cam, tương đương 20.384.000 lít, chiếm tỉ lệ 50,04%; 45.000

thùng chất trắng, tương đương 9.360.000 lít, chiếm tỉ lệ 22,97%; 16.000 thùng

chất xanh, tương đương 3.390.000 lít, chiếm tỉ lệ 8,17%; còn lại là 36.855 chất

khác, chiếm tỉ lệ 18,82% (bảng 3.7).

Bảng 3.5. Lượng các loại chất phát quang được quân đội Mỹ lưu giữ và trung

chuyển tại sân bay Biên Hòa

Loại chất Số thùng Thể tích (lít) Tỉ lệ (%)

Chất da cam 98.000 20.384.000 50,04

Chất trắng 45.000 9.360.000 22,97

Chất xanh 16.000 3.390.000 8,17

Chất khác 36.855 7.407.840 18,82

Tổng 195.855 40.737.840 100

(Nguồn: Young AL, 2007)

Lượng chất phát quang tại sân bay Biên Hòa trong chiến tranh rất lớn. Tuy

nhiên, trong chiến dịch thu hồi Pacer Ivy tiến hành tại đây từ tháng 4/1970 -

03/1972, quân đội Mỹ đã thu gom và đóng lại được 11.000 thùng chất phát quang

các loại, tương đương 2.288.000 lít. Vậy đã có khoảng 184.855 thùng chất phát

quang đã được sử dụng để phun rải trên chiến trường hoặc bị rò rỉ ra môi trường tại

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

khu vực sân bay Biên Hòa.

38

(Nguồn: Young AL, 2007)

Hình 3.5. Tỉ lệ % các loại chất phát quang được lưu giữ, trung chuyển qua sân

bay Biên Hòa trong chiến tranh Việt Nam

Ô nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa theo chúng tôi có nguyên nhân chủ yếu

là do sự rò rỉ và phát tán ở mức độ lớn dioxin vào môi trường. Vì theo báo cáo của

Bộ Quốc phòng Mỹ, đã có sự ghi nhận về sự rò rỉ chất phát quang tại đây do một số

tai nạn và lỗi kỹ thuật. Cuối năm 1969 và đầu năm 1970, một số tai nạn đã xảy ra,

làm rò rỉ khoảng 38.000 lít chất phát quang vào môi trường. Trong đó có: 28.000 lít

chất da cam và 10.000 lít chất trắng. Đây thực sự là sự cố có tác động quan trọng

đến nồng độ ô nhiễm dioxin và làm cho sân bay Biên Hòa trở thành nơi bị ô nhiễm

dioxin đặc biệt nghiêm trọng.

3.2. Đánh giá tồn lƣu ô nhiễm dioxin trong môi trƣờng

3.2.1. Tồn lưu ô nhiễm dioxin trong môi trường

3.2.1.1. Đánh giá mức độ tồn lưu tại sân bay Đà Nẵng

Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến xác định khu vực, diện

tích, mức độ và lượng ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng. Theo các nghiên cứu đó

có thể phân chia các khu vực ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng thành 2 vùng cơ

bản: Vùng ô nhiễm nằm ở phía Bắc của sân bay và vùng ô nhiễm thuộc khu vực

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

phía Nam sân bay [10].

39

- Đối với vùng ô nhiễm ở phía Nam sân bay: Đây là khu vực chỉ mới được

quan tâm và có sự điều tra khảo sát trong những năm gần đây. Khu vực này là nơi

tập kết, thu gom và đóng thùng các chất phát quang trong chiến dịch thu gom chất

này đưa về Mỹ tiêu hủy. Do vậy, bước đầu có thể đánh giá khu vực này chỉ lưu giữ

chất phát quang trong thời gian ngắn cho nên có thể nồng độ dioxin tại các vị trí bị

ô nhiễm ở đây ở mức độ thấp và trung bình.

- Đối với vùng ô nhiễm phía Bắc sân bay: Đây là khu vực trong chiến dịch

Rach Hand diễn ra các hoạt động nạp, rửa dioxin; hoạt động lưu giữ dioxin; do vậy

bước đầu có thể đánh giá đây là khu vực cần tập trung nghiên cứu vì nồng độ ô

nhiễm dioxin có thể tập trung hơn và ở mức độ cao hơn so với các khu vực khác.

Tại khu vực này, có thể chia khu ô nhiễm thành các phân khu như sau: Phân khu

nạp rửa nằm cạnh đường dẫn vào của sân bay hiện nay, nhiều nghiên cứu cho thấy

đây là phân khu ô nhiễm nghiêm trọng nhất. Phân khu bãi chứa - phân khu này cách

phân khu nạp rửa 200m về phía Bắc. Hiện trạng cho thấy không có thực vật trên lớp

đất mặt ở đây. Khu vực hồ Sen (7,3 ha) là nơi tiếp nhận nước từ các phân khu ô

nhiễm nói trên, đánh giá sơ bộ đây là khu vực trầm tích bị ô nhiễm dioxin nặng.

Đối với ô nhiễm dioxin ở sân bay Đà Nẵng kết quả phân tích mẫu đã đánh giá

tương đối đầy đủ và chính xác nồng độ ô nhiễm cũng như thành phần đồng loại của

dioxin trong đất và trầm tích.

- Kết quả phân tích hàm lượng tồn lưu dioxin trong mẫu đất

Để đánh giá chính xác nồng độ dioxin tồn lưu trong môi trường đất tại địa điểm

sân bay Đà Nẵng, chúng tôi đã tiến hành lấy mẫu đất tại các khu vực khác nhau của

sân bay. Trong đó, tập trung chủ yếu vào các khu vực trước đây là nền kho chứa, khu

vực nạp rửa, khu vực thu gom trong chiến dịch Pacer Ivy (vị trí và ký hiệu mẫu thể

hiện qua bảng 3.8). Kết quả phân tích nồng độ dioxin (PCDD - PCDF) được trình bày

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

qua bảng 3.9.

40

Bảng 3.6. Nồng độ dioxin trong mẫu đất quan trắc được tại sân bay Đà Nẵng

∑ Nồng độ dioxin tuyệt đối ng/kg KH TCDD PeCDD HxCDD HpCDD OCDD TCDF PeCDF HxCDF HpCDF OCDF TEQ

VN58 361000 2000 972 246 2,5 88 20 9,1 0,13 362165.1 202

VN59 330000 1670 761 219 2,4 83 17 9,5 0,14 330969.8 146

VN63 1190 3,6 0,49 0,02 0,02 1191.8

VN68 36800 120 37 11 0,79 0,35 0,34 0,68 0,01 36866.0 20

VN69 165000 1130 322 107 2,8 33 4,8 4,2 0,07 165620.3 53

VN75 5100 72 0,97 1,1 0,20 0,20 0,29 0,01 5138.7 26

VN78 106000 251 19 4,1 0,31 17 0,86 0,01 106140.6 46

VN83 61500 406 39 9,1 1,1 1,6 4,5 0,83 0,01 61728.5 207

VN70 3540 81 72 20 2,4 4,1 0,91 0,74 0,01 3590.8 8,0

VN74 63200 896 276 73 1,5 62 9,3 4,2 0,04 63720.2 127

VN43 136 28 2,1 1,0 0,66 0,02 150.3 0,62

VN47 6080 333 60 16 0,34 6,9 2,2 0,78 0,01 6258.1 20

VN48 3840 210 55 15 0,35 4,7 1,1 0,61 0,01 3955.0 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

(Nguồn: Bộ TN&MT, 2010)

41

Phân tích bảng 3.6 có thể thấy một số đặc điểm cơ bản về ô nhiễm dioxin ở sân

bay Đà Nẵng như sau:

Thứ nhất, nồng độ dioxin dao động trong khoảng rất rộng (0,01 - 361000 ng/kg).

Trong đó, nồng độ TCDD ghi nhận được ở mẫu đất thuộc khu trộn nạp (VN58) đạt giá

trị tối cao là 361.000 ng/kg, điều này chứng minh cho sự phức tạp về phân bố ô nhiễm

cũng như mức độ ô nhiễm tại các vị trí khác nhau thuộc sân bay Đà Nẵng.

Phân tích còn cho thấy, tần suất xuất hiện các cấu tử khác nhau của dioxin xuất

hiện tương đối đồng đều ở các mẫu VN58, VN59 ,VN68, VN69, VN83, VN74, VN47,

VN48 (8/13 mẫu).

Thứ hai: Đa số các mẫu đất được phân tích đều có hàm lượng TCDD là cấu tử

có độc tính mạnh nhất (hệ số TEF = 1), đều xuất hiện với nồng độ rất cao ( 136 -

3610000 ng/kg).

Hình 3.6. Biểu đồ thể hiện nồng độ ng TEQ (Min, Mean, Max) của PCDD, PCDF,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

WHO - TEQ

42

Thứ ba: Sau khi tính toán nồng độ ng TEQ tương đương để xác định mức độ độc

hại chúng tôi nhận thấy tổng nồng độ ng TEQ tương đương của PCDD lớn nhất - nhỏ

nhất - trung bình lần lượt là 362.099,9 - 150.2 - 88.250,5; đối với PCDF lần lượt là

65,20 - 0,0004 -18,40; đối với tổng nồng độ lần lượt là 362.165,1 - 150,3 - 88.268,9.

(hình 3.6).

Thứ tư: Trong 13 mẫu đất được lấy tại các vị trí khác nhau thuộc các điểm nóng

tại sân bay Đà Nẵng thì có 12/13 (chiếm tỉ lệ 92,31 %) mẫu có tổng nồng độ TEQ lớn

hơn tiêu chuẩn tối đa cho phép trên thế giới. Trong đó, mẫu VN68 là mẫu lấy tại khu

vực đáy bồn chứa trước đây vượt tiêu chuẩn tối đa nói trên khoảng 368 lần và nhỏ nhất

là mẫu VN63 khoảng 1,2 lần, duy nhất mẫu VN43 nhỏ hơn tiêu chuẩn tối đa cho phép.

Hình 3.7. Biểu đồ thể hiện so sánh sự thay đổi nồng độ TCDD và sự thay đổi nồng

độ TEQ trong các mẫu đất lấy tại sân bay Đà Nẵng

- Kết quả phân tích hàm lượng tồn lưu ô nhiễm dioxin trong mẫu trầm tích thuộc

các khu vực lan truyền trong sân bay Đà Nẵng:

Để đánh giá mức độ lan truyền và tồn lưu ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng,

nghiên cứu đã tiến hành lấy các mẫu trầm tích bề mặt của một số khu vực hồ thuộc sân

bay. Kết quả phân tích nồng độ tồn lưu ô nhiễm dioxin trong trầm tích được thể hiện cụ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

thể qua bảng 3.7.

43

Bảng 3.7 cho thấy các đặc điểm cơ bản về tồn lưu ô nhiễm và lan truyền ô nhiễm

dioxin tai sân bay Đà Nẵng như sau:

Thứ nhất: Các mẫu trầm tích bề mặt được lấy tại các hồ thuộc sân bay Đà Nẵng

thì 100% các mẫu phân tích đều xuất hiện ô nhiễm dioxin. Do vậy, chắc chắn đã có sự

lan truyền dioxin và tồn lưu dioxin trong trầm tích tại các hồ này. Có thể nhận thấy

nguy cơ xâm nhập dioxin thông qua trầm tích, các loài thủy sinh vật để xâm nhập, tích

lũy theo chuỗi thức ăn.

Thứ hai: Nồng độ tồn lưu dioxin trong trầm tích dao động trong khoảng 0,10

ng/kg (OCDF/ VN53) - 6240 ng/kg (TCDD/VN53) tùy thuộc vào mẫu và từng cấu tử.

giá trị TEQ tương đương (Min - Mean - Max) lần lượt của PCDD: 4,9 - 2044,2 -

6335,5; PCDF là: 0,0012 - 11,4 - 34,8. Như vậy, qua những số liệu được xử lý và phân

tích này có thể nhận thấy đối với các mẫu trầm tích thuộc các khu vực tích lũy ô nhiễm

do lan truyền thì PCDD vẫn đóng vai trò chủ yếu.

Thứ ba: Nồng độ TCDD (có hệ số độc hại TEF = 1) xuất hiện ở tất cả các mẫu

phân tích và dao động từ 4,5 ng/kg (VN23) - 6240 ng/kg (VN53).

Thứ tư: Trong 9 mẫu trầm tích được lấy tại các vị trí khác nhau của Hồ Sen, là hồ

chứa nước chảy tràn từ bề mặt sân bay cũng như từ hệ thống thoát nước của sân bay Đà

Nẵng thì thống kê cho thấy: có 4/9 mẫu (chiếm tỉ lệ khoảng 44,44%) số mẫu phân tích

có tổng giá trị TEQ vượt tiêu chuẩn giới hạn tối đa cho phép trên thế giới. Trong các

mẫu đó (VN32, VN52, VN53, VN55) thì mẫu lớn nhất là VN53 đạt 6370,3 (gấp 6,3

lần), mẫu nhỏ nhất là 2799,6 (VN32), gấp 2.9 lần. Các mẫu còn lại bao gồm: VN30,

VN31, VN32, VN21, VN23 đều có tổng giá trị TEQ nhỏ hơn giá trị giới hạn tối đa cho

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

phép của quốc tế.

44

Bảng 3.7. Nồng độ dioxin trong mẫu trầm tích quan trắc được tại sân bay Đà Nẵng

∑ Nồng độ dioxin tuyệt đối ng/kg KH TCDD PeCDD HxCDD HpCDD OCDD TCDF PeCDF HxCDF HpCDF OCDF TEQ

2,2 4,2 4,8 0,02 VN30 253 17 2,6 2,3 253,3

VN31 191 1,3 0,17 0,13 191,0

VN32 2750 63 31 70 13 11 4,3 0,09 2799,6 31 3,19

61,0 1,1 0,11 VN32 61 0,12

61 72 7,2 VN52 5440 125 25 20 9,4 0,19 5542,1 182

65 50 4,3 VN53 6240 177 18 15 5,9 0,10 6370,3 242

42 35 3,7 VN55 3190 101 14 11 4,8 0,09 3264,4 112

13,3 VN21 12 1,5 1,5 1,9 0,75 0,24 0,66 0,60 0,12

5,1 VN23 4,5 0,64 0,63 0,77 0,27 0,10 0,29 0,26 0,06

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

(Nguồn: Bộ TN&MT, 2010)

45

3.2.1.2. Đánh giá mức độ tồn lưu tại sân bay Biên Hòa

Các kết quả nghiên cứu và số liệu thống kê từ các nguồn khác nhau đều cho thấy

sân bay Biên Hòa là điểm lưu giữ và trung chuyển lượng chất phát quang lớn nhất

trong chiến tranh hóa học mà quân đội Mỹ đã tiến hành ở Việt Nam (1961 - 1971). Các

kết quả nghiên cứu cũng ghi nhận những vụ rò rỉ chất phát quang với số lượng hàng

chục nghìn lít tại địa điểm này. Do vậy, bước đầu có thể nhận định đây là điểm nóng về

tồn lưu ô nhiễm dioxin với nồng độ ô nhiễm đặc biệt cao. Từ các dữ liệu trong chiến

tranh và kết quả khảo sát của một số nghiên cứu trước đây, có thể chia khu vực ô

nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa thành 3 phân khu, bao gồm: phân khu trước đây tiến

hành các hoạt đông nạp rửa, phân khu bồn chứa chất phát quang, phân khu phía Nam

và Tây Nam của sân bay được sử dụng trong chiến dịch thu gom Pacer Ivy.

- Phân khu nạp, rửa chất phát quang: Đây là khu vực tiến hành toàn bộ các hoạt

động nạp chất phát quang lên máy bay và tẩy rửa máy bay sau khi phun rải. Kêt quả

tính toán sơ bộ cho thấy, đã có khoảng 184.855 thùng chất phát quang được nạp lên

máy bay và hàng nghìn lượt máy bay được tẩy rửa tại vị trí này.

- Phân khu trước đây là bồn chứa chất phát quang: đây chính là địa điểm lần lượt

lưu giữ khoảng 190.855 thùng chất phát quang. Bênh cạnh đó, số liệu ghi nhận được

còn cho thấy đã từng xảy ra sự cố rò rỉ khoảng 38.000 lít chất phát quang có chứa

dioxin tại vị trí này.

- Khu vực ô nhiễm do lan tỏa: bao gồm nhiều vị trí khác nhau tiếp giáp hoặc tiếp

nhận dòng chảy từ các khu vực được đánh giá ô nhiễm nghiêm trọng. Bao gồm: các

khu vực mương nước chảy, các khu vực ruộng, các hồ trong và lân cận sân bay. Các

khu vực này có thể bị ô nhiễm ở mức độ nhẹ hơn. Tuy nhiên, đây là các khu vực có

khả năng tạo nên tích lũy sinh học dioxin thông qua chuỗi thức ăn do dioxin bám vào

thực vật và tồn lưu trong thủy sinh vật bị nhiễm dioxin.

Kết quả khảo sát của một số nghiên cứu cơ bản cho thấy, đối với các khu vực ô

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nhiễm nghiêm trọng nồng độ dioxin nằm trong khoảng vài chục nghìn đến hàng triệu ppm.

46

Bảng 3.8. Nồng độ dioxin trong mẫu đất quan trắc được tại sân bay Biên Hòa

∑ Nồng độ dioxin tuyệt đối ng/kg

KH H`xCD TCDD PeCDD HpCDD OCDD TCDF PeCDF HxCDF HpCDF OCDF TEQ D

BH-S1 39 13 168 2,0 2,3 39,3

BH-S2 159 45 501 8,4 10 160,0

BH-S3 181 9,1 6,3 34 186,2 5,3

BH-S4 281 7,1 46 281,1

5 7

BH-S5 5072992 32529 64177 187334 302225 127712 4373 4834 13255 17509 5.113.440,9

70 153 135 76617,5 BH-S6 75768 1211 477 1181 2996 1377 71

BH-S7 2252 23 25 68 154 1,8 4,9 2,8 2272,8 42

BH-S8 873 13 46 32 94 899,7 20

BH-S9 1852 7,8 6,6 27 12 2,5 1865,3 31

BH-S10 24074 75 94 34 182 50 27 46 44 24199,5 423

BH-S11 1513 100 12 100 945 2,4 4,7 11 12 1570,2 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

(Nguồn: Bộ TN&MT, 2010)

47

- Kết quả phân tích hàm lượng tồn lưu dioxin trong mẫu bùn, đất

Để đánh giá chính xác nồng độ dioxin tồn lưu trong môi trường đất tại địa điểm

sân bay Biên Hòa và khu vực lân cận chịu ảnh hưởng của quá trình lan truyền ô nhiễm,

chúng tôi đã tiến hành lấy mẫu đất tại các khu vực khác nhau của sân bay.

Trong đó, tập trung chủ yếu vào các khu vực trước đây là nền kho chứa, khu vực

nạp rửa, khu vực thu gom trong chiến dịch Pacer Ivy. Kết quả phân tích nồng độ dioxin

(PCDD - PCDF) được trình bày qua bảng 3.8. Kết quả phân tích mẫu đất lấy tại các vị

trí trước đây là các khu vực để thùng chứa chất phát quang thuộc sân bay Biên Hòa

được thể hiện qua bảng 3.8. Qua bảng này, chúng tôi nhận thấy có một số đặc điểm

liên quan đến nồng độ tồn lưu ô nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa như sau:

Thứ nhất: Bảng 3.8. trình bày kết quả phân tích mẫu đất và mẫu trầm tích tại các

vị trí được xác định là nguồn gây ô nhiễm chính của sân bay Biên Hòa. Trong đó, nồng

độ dioxin dao động trong khoảng rất lớn (từ 39,3 đến 5.113.440,9). 6/11 mẫu đất được

phân tích có nồng độ dioxin vượt tiêu chuẩn cho phép của WHO.

Thứ hai: Nồng độ dioxin tính theo đạt giá trị cao nhất tại mẫu BH-S5 là

5.113.440,9 ng/kg và tại mẫu này nồng độ TCDD cũng tương ứng đạt được giá trị cao

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nhất là 5072992 ng/kg.

48

Bảng 3.9. Nồng độ dioxin trong mẫu trầm tích quan trắc được tại các khu vực lân cận

∑ Nồng độ dioxin tuyệt đối ng/kg

KH WHO- TCDD PeCDD HxCDD HpCDD OCDD TCDF PeCDF HxCDF HpCDF OCDF TEQ

SR1 43 1,7 6,0 35 0,20 0,20 2,5 44 7,4 2,8

SR2 146 0,70 1,5 8,9 48 0,60 0,50 1,6 149 5,3 11

SSM1 99 52 1,0 2,6 102 22

SSM2 82 19 6,4 209 223 4,6 12 2,2 109 22 24

SSM3 29 2,6 8,0 110 689 0,80 11 1,9 35 82

SSM4 87 5,7 12 133 1997 2,8 10 23 100 101 22

SSM5 57 3,1 9,1 62 959 0,60 4,9 0,60 64 32 21

SSM6 84 4,7 11 163 2825 2,4 9,0 1,5 96 105 26

SSM7 19 0,60 8,3 38 415 1,2 2,7 7,4 22 7,6 5,0

SSM8 28 509 30 147 1513 8,1 51 176 548 61 1,1

SSM9 110 12 404 4783 9,1 11 201 121 203 6,2

SSM10 6,5 6,5 654 8,0 34 116 19 503 5,9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

(Nguồn: Bộ TN&MT, 2010)

49

Mức độ lan truyền ô nhiễm dioxin từ các điểm ô nhiễm chính tại sân bay Biên

Hòa sang các khu vực lân cận được đánh giá thông qua kết quả phân tích hàm lượng

dioxin trong các mẫu đất, trầm tích tại một số địa điểm lân cận của sân bay Biên Hòa.

Kết quả phân tích được thể hiện qua bảng 3.9, qua bảng này có thể nhận thấy:

Thứ nhất: Các mẫu được lấy và phân tích là các mẫu ô nhiễm thứ cấp bao gồm

các khu vực bùn ruộng trong sân bay và trầm tích của hồ nước ở khu vực lân cận sân

bay. Hai khu vực này là nơi tiếp nhận nguồn nước chảy tràn trong khu vực sân bay. Do

vậy, sự ô nhiễm dioxin ở đây(ô nhiễm thứ cấp) là do quá trình lan truyền dioxin từ các

vị trí ô nhiễm chính. Kết quả phân tích cho thấy nồng độ dioxin tính theo TEQ dao

động trong khoảng 19 - 548. Nồng độ PCDF nhỏ nhất là 0,43 ng/kg, lớn nhất là 55

ng/kg và trung bình là 8,58 ng/kg; đối với PCDD lần lượt là: 13,70 ng/kg - 1052,2

ng/kg và trung bình là 161,88 ng/kg. Trong đó giá trị TEQ lớn nhất là 548.

Thứ hai: Kết quả phân tích cho chúng ta thấy có sự lan truyền và tích lũy ô nhiễm

dioxin với hàm lượng tương đối lớn tại các khu vực ô nhiễm thứ cấp. Điều này liên

quan trực tiếp tới những ảnh hưởng mà ô nhiễm dioxin gây ra cho con người và sinh

vật thông qua sự tích lũy dioxin theo chuỗi thức ăn. Trong đó, nhận thấy rõ nồng độ

dioxin trong mẫu trầm tích ở hồ có sự cao hơn so với khu vực ruộng, làm tăng nguy cơ

tích lũy ô nhiễm dioxin trong các loài thủy sinh vật.

3.2.2. So sánh nồng độ ô nhiễm dioxin trong mẫu đất và mẫu trầm tích

Mức độ lan truyền ô nhiễm dioxin trong các mẫu đất lấy tại các địa điểm được

xác định là ô nhiễm chính đến các địa điểm được xác định là ô nhiễm thứ cấp được

đánh giá thông qua sự so sánh về nồng độ ô nhiễm dioxin trong mẫu đất và các mẫu

trầm tích. Đây cũng là cách so sánh đơn giản nhất về mức độ lan truyền để có được

những nhận định ban đầu về sự lan truyền ô nhiễm dioxin.

Phương pháp so sánh: do có sự hạn chế về số lượng mẫu có thể phân tích cho nên

để so sánh được nồng độ tồn lưu ô nhiễm dioxin trong mẫu đất và mẫu trầm tích chúng

tôi tiến hành tính nồng độ trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất của từng cấu tử dioxin đối với

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tất cả các mẫu của mỗi nhóm. Kết quả so sánh này chỉ mới là những nhận định bước

50

đầu, cách đánh giá đơn giản nhất về sự tương quan nồng độ tồn lưu ô nhiễm dioxin ở

khu vực được xác định là ô nhiễm chính và khu vực ô nhiễm thứ cấp.

3.2.2.1. Điểm ô nhiễm sân bay Đà Nẵng

* So sánh nồng độ ô nhiễm dioxin trong mẫu đất và mẫu trầm tích:

Để so sánh hàm lượng dioxin trong mẫu đất và mẫu trầm tích tại điểm ô nhiễm sân

bay Đà Nẵng, do lượng mẫu phân tích được có sự giới hạn cho nên ở đây sử dụng phương

pháp so sánh theo giá trị trung bình, lớn nhất, và nhỏ nhất của hàm lượng dioxin theo loại

chất có trong mẫu phân tích. Kết quả so sánh được thể hiện cụ thể qua bảng 3.14.

Bảng 3.10. Bảng so sánh giá trị lớn nhất, trung bình, nhỏ nhất nồng độ ô nhiễm

trong mẫu đất và mẫu trầm tích theo loại chất dioxin sân bay Đà Nẵng

Nồng độ dioxin ng/kg

Mẫu đất Mẫu trầm tích Loại chất

Lớn nhất Trung bình Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình Nhỏ nhất

361000 87952.77 6240 2015.72 TCDD 136 4.5

PeCDD 2000 553.89 3.6 177 78.02 0.64

HxCDD 972 201.27 0.49 65 33.52 0.63

HpCDD 246 60.19 1.00 72 23.34 0.77

OCDD 2.8 1.18 0.02 7.2 2.48 0.11

TCDF 207 72.96 0.62 242 86.93 0.1

PeCDF 88 30.06 0.35 25 10.73 0.29

HxCDF 20 6.03 0.2 20 8.95 0.26

HpCDF 9.5 2.43 0.02 9.4 3.01 0.06

OCDF 0.14 0.04 0.01 0.19 0.09 0.02

Qua bảng 3.10 nhận thấy có sự tương đồng lớn đối với các giá trị lớn nhất -

trung bình - nhỏ nhất ở các chất như: TCDD (361000 - 6240; 87952,77 - 2015,72;

136 - 4,5); PeCDD (2000-177; 553,89 - 78,02; 3.6 - 0,64); PeCDDF (88 - 25; 30.06

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- 10.73; 0.35 - 0.29).

51

3.2.2.2. Điểm ô nhiễm sân bay Biên Hòa

* So sánh nồng độ ô nhiễm dioxin trong mẫu đất và mẫu trầm tích:

Tương tự như đối với điểm tồn lưu ô nhiễm tại sân bay Đà Nẵng, do lượng mẫu phân

tích được có sự giới hạn cho nên ở đây sử dụng phương pháp so sánh theo giá trị trung

bình, lớn nhất, và nhỏ nhất của hàm lượng dioxin theo loại chất có trong mẫu phân tích.

Kết quả so sánh được thể hiện cụ thể qua bảng 3.11.

Bảng 3.11. Bảng so sánh giá trị lớn nhất, trung bình, nhỏ nhất nồng độ ô nhiễm

trong mẫu đất và mẫu trầm tích theo loại chất dioxin sân bay Biên Hòa

Nồng độ dioxin ng/kg

Mẫu đất Mẫu trầm tích Loại chất

Lớn nhất Trung bình Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình Nhỏ nhất

TCDD 5072992 470907.64 39 146 61.86 6.5

PeCDD 32529 4252.74 7.8 509 72.88 0.6

HxCDD 64177 10796.17 12 30 9.68 1.5

HpCDD 187334 17166.09 6.3 654 165.58 6

OCDD 302225 27942.91 4783 1348.70 27 35

TCDF 127712 16204.16 5.3 26 13.36 1.1

PeCDF 4373 751.53 1.8 9.1 3.28 0.2

HxCDF 4834 987.84 2.5 51 12.41 0.2

HpCDF 13255 1925.76 2 201 48.52 0.6

OCDF 17509 2530.73 2.3 503 102.66 5.3

Qua sự phân tích theo bảng này có thể thấy một số căn cứ bước đầu để tiến hành

đánh giá tương quan nồng độ dioxin giữa mẫu đất và mẫu trầm tích để xác định được

mức độ quan hệ do quá trình lan truyền. Các giá trị trung bình đối với các loại chất có

trong mẫu đất hoàn toàn cao hơn so với trung bình trong mẫu trầm tích, điều này khẳng

định đã có sự di chuyển nhất định của dioxin ra các khu vực lân cận tuy nhiên ở

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

phương diện trung bình lượng dioxin di chuyển được đánh giá ở mức độ vừa phải. Để

52

tăng tính chính xác cho vấn đề này cần nghiên cứu và phân tích, đánh giá với số lượng

mẫu lớn hơn.

3.3. Đề xuất mô hình đánh giá rủi ro môi trường ban đầu

3.3.1. Khái quát về mô hình đánh giá rủi ro đối với ô nhiễm môi trường

* Khái lược về đánh giá rủi ro

Đánh giá rủi ro môi trường là một công cụ hỗ trợ các nhà quản lý môi trường

trong công tác quản lý môi trường. Đánh giá rủi ro môi trường là một tiến trình phân

tích được áp dụng cho các vấn đề môi trường, là công cụ pháp lý để giúp nhà quản lý

ra quyết định đối với công tác quản lý nhằm mục tiêu giảm thiểu, loại bỏ các tác động

của rủi ro đối với môi trường, hệ sinh thái xung quanh và đối với sức khỏe con người.

Các kết quả của hoạt động đánh giá rủi ro có thể chấp nhận phải được đề xuất và

hướng tới giải quyết các vấn đề về rủi ro môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Đánh giá rủi ro là tiến trình thông qua đó, các kết quả của phân tích rủi ro được sử

dụng cho việc ra quyết định hoặc thông qua xếp hạng tương đối của các chiến lược

giảm thiểu rủi ro hay thông qua so sánh với các mục tiêu rủi ro.

Trong thực tế, hoạt động đánh giá rủi ro môi trường là một hoạt động có tính chất

phức tạp, cần phải thu thập, phân tích, đánh giá nhiều loại thông tin và dữ liệu khác

nhau có liên quan đến các yếu tố được xác định là rủi ro có trong môi trường. Tiến

hành đánh giá rủi ro môi trường thường phải được tiến hành thông qua hai giai đoạn:

- Thứ nhất, đánh giá hồi cố rủi ro để xác định các bằng chứng về các mối nguy

hại đối với các đối tượng có khả năng chịu tác động của các yếu tố rủi ro;

- Thứ hai, đánh giá dự báo rủi ro để xác định các vấn đề có khả năng và khả năng

xảy ra các vấn đề đó trong tương lai.

Như vậy, có thể nhận thấy rằng hoạt động đánh giá rủi ro môi trường ban đầu là

bước đầu, là giai đoạn chuẩn bị cho hoạt động đánh giá rủi ro môi trường hoàn thiện

trong tương lai. Mục tiêu là khái quát sơ bộ về điều kiện môi trường và các yếu tố có

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

khả năng tác động, cũng như con đường tác động của các yếu tố đó.

53

Nhận diện mối nguy hại

Đánh giá phơi nhiễm

Đánh giá độc tính

Mô tả đặc tính của rủi ro

Quản lý rủi ro Hình 3.8. Mô phỏng các hoạt động của quá trình đánh giá rủi ro môi trường

Hoạt động đánh giá rủi ro môi trường dựa trên ba tiêu chí cơ bản: Hiện trạng tồn

lưu ô nhiễm, con đường lan truyền và nguồn tiếp nhận.

* Một số phương pháp đánh giá rủi ro môi trường phổ biến:

Đánh giá rủi ro sức khoẻ: là tiến trình sử dụng các thông tin thực tế để xác định

sự phơi nhiễm của cá thể hay quần thể đối với vật liệu nguy hại hay hoàn cảnh nguy

hại. Đánh giá rủi ro sức khoẻ có 3 nhóm chính:

- Rủi ro do các nguồn vật lý (được quan tâm nhiều nhất là những rủi ro về bức xạ

từ các nhà máy hạt nhân hoặc các trung tâm nghiên cứu hạt nhân).

- Rủi ro do các hoá chất

- Rủi ro sinh học (Đánh giá rủi ro đối với lĩnh vực an toàn thực phẩm, hoặc đánh

giá rủi ro đối với những sinh vật biến đổi gen).

Đánh giá rủi ro sinh thái: Về cơ bản, đánh giá rủi ro sinh thái được phát triển từ

đánh giá rủi ro sức khoẻ. Đánh giá rủi ro sức khỏe quan tâm đến những cá nhân, cùng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

với tình trạng bệnh tật và số người tử vong. Trong khi đó, đánh giá rủi ro sinh thái lại

54

chú trọng đến quần thể, quần xã và những ảnh hưởng của các chất lên tỷ lệ tử vong và

khả năng sinh sản. Đánh giá rủi ro sinh thái cần phải tiến hành đánh giá trên diện rộng,

trên rất nhiều sinh vật. Đánh giá rủi ro sinh thái có 3 nhóm:

- Đánh giá rủi ro sinh thái do hoá chất

- Đánh giá rủi ro sinh thái đối với các hóa chất bảo vệ thực vật

- Đánh giá rủi ro sinh thái đối với sinh vật biến đổi gen

Đánh giá rủi ro công nghiệp: Đánh giá rủi ro công nghiệp bao gồm các nội dung

như đánh giá rủi ro đối với các địa điểm đặc biệt có sự phát thải không theo quy trình;

Đánh giá rủi ro đối với các địa điểm đặc biệt có sự phát thải theo quy trình; Đánh giá

rủi ro trong giao thông; Đánh giá rủi ro trong việc lập kế hoạch tài chính; Đánh giá rủi

ro sản phẩm và đánh giá chu trình sản phẩm; Đưa ra các số liệu về giảm thiểu rủi ro.

3.3.2. Đề xuất mô hình đánh giá rủi ro môi trường ban đầu do tồn lưu ô nhiễm dioxin

Hoạt động đánh giá rủi ro môi trường do tồn lưu ô nhiễm dioxin được tiến hành dựa

trên ba tiêu chí cơ bản: Hiện trạng tồn lưu, con đường lan truyền trong môi trường và

nguồn tiếp nhận ô nhiễm. Đối với vấn đề ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam, tiến

hành các hoạt động đánh giá rủi ro môi trường do ô nhiễm dioxin từ nguồn chiến tranh là

hoạt động quan trọng và cấp thiết. Hiện nay, các nhà khoa học trên thế giới và ở Việt

Nam đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của dioxin đến môi trường, hệ sinh thái, con

người. Nhưng ở góc độ quản lý do thiếu những nghiên cứu tổng thể và đồng bộ cho nên

các cơ sở, căn cứ khoa học chưa có đủ sự vững chắc để thiết lập các chính sách, pháp chế

phục vụ cho công tác quản lý rủi ro và giải quyết các vấn đề có liên quan đến ô nhiễm

dioxin do chiến tranh ở Việt Nam. Có thể xây dựng mô hình đánh giá rủi ro môi trường

ban đầu cho ô nhiễm dioxin do chiến tranh tại các điểm nóng ở Việt Nam như sau:

* Nhận diện mối nguy hại

- Tác nhân gây nguy hại: dioxin do chiến tranh, tồn lưu trong môi trường đất và

trầm tích với nồng độ ô nhiễm đặc biệt cao. Tổng lượng ô nhiễm lớn, trên một diện tích bị ô nhiễm hàng chục ha và lượng đất, trầm tích bị ô nhiễm dioxin hàng trăm nghìn m3.

- Tác nhân dioxin: về độc tính là chất đốc hại nhóm một đối với con người và

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

sinh vật, đã xác định được 13 chứng bệnh nan y có liên quan trực tiếp đến dioxin; ít

55

hòa tan trong nước nhưng tan tốt trong các dung môi hữu cơ và tương thích cao với các

hợp chất hữu cơ (mỡ động vật, trầm tích, đất có hàm lượng mùn cao...).

- Nguồn phát tán ô nhiễm: đất tại các điểm là sân bay bị ô nhiễm; trầm tích tại các

thủy vực (hồ, kênh mương...nơi tiếp nhận nước chảy tràn từ khu vực ô nhiễm chính);

các hoạt động xây dựng trong sân bay, nạo vét hồ kênh mương, đào đất làm đường; các

loài thủy sinh vật, gia cầm được nuôi, khai thác tại các khu vực ô nhiễm thứ cấp dioxin.

- Con đường lan truyền và xâm nhập vào cơ thể động vật, con người: chủ yếu

thông qua chuỗi thức ăn. Trong đó, qua các mắt xích của chuỗi thì nồng độ ô nhiễm

dioxin được khuyếch đại theo cấp số nhân.

* Đánh giá độc tính

Đối với ô nhiễm dioxin việc đánh giá độc tính, rủi ro cần phải xét đến ước lượng

mối nguy hại, trong bước này nhiều mô hình thường sử dụng để ước lượng cùng với

phương pháp đánh giá độc tính để xác định các chất ô nhiễm. Ước tính mối nguy hại

với mục đích: Xác định tần suất xuất hiện và mức độ nguy hiểm của các hậu quả; Xác

định ranh giới của những vấn đề thực tiễn tương ứng về mặt quản lý.

Liệt kê những vấn đề đáng lo ngại và chỉ rõ những liên hệ giữa các hoạt động để

làm giảm bớt rủi ro. Một số mục tiêu có thể chọn lựa như sau:

- Ranh giới địa lý của vùng ô nhiễm dioxin tại các sân bay, mật độ dân số và diện

tích tiếp giáp với các khu dân cư lân cận;

- Tỷ lệ thời gian tác động của ô nhiễm dioxin tại các khu vực giáp ranh với các

sân bay và tại các khu vực được xác định là vùng ô nhiễm do lan truyền;

Để đánh giá được độc tính cần phải sử dụng các phương pháp nghiên xác định

độc tính, quan hệ giữa liều lượng và đáp ứng trong đánh giá rủi ro là phương pháp thí

nghiệm độc tố, phương pháp bệnh học, triệu chứng lâm sàng và nghiên cứu dịch tễ học.

* Đánh giá phơi nhiễm

Để đánh giá mức độ phơi nhiễm dioxin cần tiến hành lấy mẫu và phân tích nồng

độ dioxin trong một khoảng thời gian nhất định. Các loại mẫu được lấy và đánh giá

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

phơi nhiễm bao gồm:

56

- Mẫu sinh vật: trong đó bao gồm các mẫu thủy sinh vật, mẫu gia cầm được lấy

tại các khu vực hồ chứa nước trong và lân cận các sân bay (đối với các mẫu này thông

thường tiến hành lấy mẫu máu và mẫu mỡ để xác định hàm lượng dioxin);

- Đối với sự phơi nhiễm dioxin ở người: tiến hành lấy mẫu máu để xác định nồng

độ phơi nhiễm dioxin trong máu người;

- Tiến hành theo dõi sự lan truyền phơi nhiễm dioxin từ mẹ sang con qua nhau

thai và qua sữa.

* Đặc tính của rủi ro do ô nhiễm dioxin tại các sân bay

Đặc tính rủi ro hay mô tả rủi ro là bước cuối cùng trong mô hình và ước lượng

phạm vi các tác động bất lợi đến nguồn tiếp nhận tiềm năng dưới điều kiện phơi nhiễm.

Nói chung, các đặc tính rủi ro được tóm tắt và tổng hợp phơi nhiễm và đánh giá độc

tính dể định tính và dịnh lượng các mức độ rủi ro và xem xét thêm các vấn đề không

chắc chắn trong đánh giá rủi ro do ô nhiễm dioxin tại các sân bay này.

Các hoạt động cần tiến hành bao gồm:

- Ước lượng rủi ro do dioxin (tính toán lượng rủi ro từ chất ung thư và không gây

ung thư trên cả ba tuyến phơi nhiễm);

- Phân tích kết quả để đưa ra những quyết định phù hợp;

- Tính toán rủi ro đối với mức phơi nhiễm dioxin trung bình, lớn nhất và nhỏ nhất;

- Phơi nhiễm lâu dài: sử dụng nồng độ trung bình để tính rủi ro đại diện cho việc

ước lượng từ nhiều điểm phơi nhiễm);

- Phơi nhiễm tức thòi: sử dụng nồng độ phơi nhiễm dioxin lớn nhất để tính toán

sẽ mang lại độ chính xác cao hơn.

Áp dụng công thức tính toán rủi ro như sau:

Risk = Lượng nhiễm trung bình ngày (I) * Hệ số tiềm năng gây ung thư (CPF)

I - Là lượng nhiễm trung bình ngày của những người sống trong khu vực ô nhiễm

khi tiếp xúc với đất bị ô nhiễm dioxin (bỏ qua ô nhiễm không khí), có thể xác định qua

công thức sau: I = C*(CR*EF*ED)/(BW*AT) Trong đó: C: nồng độ chất ô nhiễm

(dioxin) tại điểm tiếp xúc; CR mức tiếp xúc (L/ngày, m3/ngày hoặc mg/ngày) và CR =

A*DA*ABS*SM; EF: tần số (ngày/năm); ED: độ dài thời gian tiếp xúc (năm); BW:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

trọng lượng cơ thể (kg); AT: khoảng thời gian nghiên cứu nguy cơ (ngày).

57

- Sau khi đã có bảng tính toán rủi ro do ô nhiễm dioxin tại các sân bay này, tiến

hành mô tả các rủi ro xác định các nguyên nhân gây rủi ro trên cơ sở các tác động đã

xảy ra, qua đó xác định các tác nhân và mối liên hệ giữa chúng với các tác động có hại,

thể hiện qua các chuỗi số liệu và bằng chứng liên quan thu thập được. Đánh giá mối

quan hệ nhân quả giữa các tác động sinh thái quan sát đựơc và các trạng thái tồn tại của

dioxin có trong môi trường, để đưa ra được mô tả chính xác cần phải có sự so sánh các

chuỗi số liệu theo thời gian và không gian.

3.4. Một số giải pháp quản lý, khắc phục và giảm thiểu

3.4.1. Những hạn chế liên quan đến quản lý ô nhiễm dioxin do chiến tranh

* Về cơ chế, chính sách: Hạn chế trong quản lý ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở

Việt Nam nói chung và đối với các địa điểm nghiên cứu nói riêng là do chưa có cơ chế

chính sách phù hợp, cũng như các thể chế, các quy định/hướng dẫn hợp lý, rõ ràng cho

các hoạt động quản lý. Các cơ chế, chính sách hiện nay mới chỉ tập trung vào giải

quyết các vấn đề xã hội liên quan đến hậu quả mà dioxin trong chiến tranh gây ra cho

con người Việt Nam. Chưa có sự tập trung cho công tác phòng ngừa phát tán ô nhiễm,

kiểm soát ô nhiễm, cơ chế cho hoạt động khắc phục, xử lý ô nhiễm và quản lý rủi ro

môi trường do tồn lưu ô nhiễm dioxin.

* Về khoa - học công nghệ: Hiện nay, trên phạm vi cả nước có khoảng 28 điểm

nóng về ô nhiễm dioxin do chiến tranh, tuy nhiên trong thực tế các nghiên cứu khoa

học mới chỉ tập trung vào đánh giá đối với một số điểm như Đà Nẵng, Biên Hòa, Phù

Cát, Tân Sơn Nhất, Thừa Thiên - Huế, do vậy những điểm nóng về ô nhiễm dioxin còn

lại chưa được đánh giá cụ thể và đầy đủ, dẫn đến tình trạng thiếu thông tin khái quát về

thực trạng ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở phạm vi quốc gia. Các nghiên cứu chỉ mới

tập trung vào đánh giá hiện trạng ô nhiễm và phơi nhiễm mà chưa có các nghiên cứu

chuyên sâu về rủi ro môi trường do vậy thiếu căn cứ để triển khai các hoạt động phòng

ngừa phơi nhiễm dioxin từ thực phẩm.

Đối với công nghệ xử lý, khắc phục ô nhiễm dioxin: do trình độ khoa học công

nghệ còn nhiều hạn chế do vậy hiện nay một số dự án tiến hành xử lý thí điểm ô nhiễm

dioxin tại các điểm ô nhiễm do chiến tranh chủ yếu sử dụng công nghệ của nước ngoài,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

do vậy làm gia tăng chi phí và giảm hiệu quả của việc sử dụng nguồn tài chính phục vụ

58

công tác xử lý. Bên cạnh đó, việc đánh giá hiệu quả của các công nghệ này khi áp dụng

vào điều kiện môi trường Việt Nam vẫn còn nhiều điểm chưa triệt để về mặt khoa học.

Các phòng thí nghiệm nghiên cứu dioxin ở Việt Nam vẫn còn thiếu về số lượng, chưa

đáp ứng được mức độ chuyên sâu.

* Về nguồn vốn: Hoạt động nghiên cứu khoa học, xử lý ô nhiễm và khắc phục

hậu quả do ô nhiễm dioxin từ chiến tranh ở nước ta đòi hỏi phải có một nguồn kinh phí

lớn, trong thực tế máy móc, thiết bị, hóa chất…phục vụ cho nghiên cứu hầu hết đều

phải nhập từ nước ngoài do chúng ta chưa chủ động được về khoa học, công nghệ.

Hiện nay, nguồn vốn cho các hoạt động này chủ yếu được tài trợ bởi các tổ chức quốc

tế, do vậy chưa đảm bảo được sự chủ động về vốn, chưa khuyến khích được sự tham

gia của các nhà khoa học, các tổ chức xã hội.

* Về nhận thức: Đa phần khi nói đến dioxin người dân vẫn chỉ hiểu chung là độc

hại và nguy hiểm mà thiếu đi các kiến thức cơ bản về độc tính về các biện pháp giảm

thiểu và phòng tránh, đặc biệt là đối với các cộng đồng dân cư sống gần các điểm nóng

hoặc ngay tại các diện tích bị ô nhiễm do phun rải trước đây.

* Về nguồn thông tin: Trong thực tế, đối với vấn đề ô nhiễm dioxin tại các địa

điểm nghiên cứu nói riêng và trên lãnh thổ Việt Nam, do nhiều lý do khác nhau về

chính trị, an ninh, quốc phòng về quan hệ ngoại giao mà những thông tin chính xác và

đầy đủ nhất về lượng, diện tích, thành phần phun rải mà quân đội Mỹ đã sử dụng trong

chiến tranh Việt Nam vẫn còn có những điểm chưa rõ ràng. Các nghiên cứu khoa học

mới chỉ dừng lại ở cấp độ cục bộ mà chưa có tính hệ thống và tổng thể do thiếu cơ chế

trao đổi và chia sẻ thông tin.

3.4.2. Một số giải pháp để quản lý, khắc phục và giảm thiểu ô nhiễm dioxin

Từ những kết quả đạt được trong nghiên cứu này và việc phân tích làm rõ một số

nguyên nhân, hạn chế cơ bản đối với vấn đề quản lý, khắc phục ô nhiễm dioxin tại các

điểm nóng nói riêng và ở nước ta nói chung. Chúng tôi đề xuất một số phương hướng

để khắc phục các vấn đề trên như sau:

Thứ nhất: Xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách để nâng

cao vai trò quản lý, năng lực và nguồn lực của các cơ quan quản lý từ trung ương đến

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

địa phương. Trong đó, tập trung vào các chính sách, cơ chế tạo điều kiện thuận lợi,

59

khuyến khích đầu tư trang thiết bị, nghiên cứu các biện pháp kiểm soát ô nhiễm và

giảm thiểu rủi ro do phơi nhiễm dioxin.

Thứ hai: Tiến hành bổ sung các nghiên cứu đối với các địa điểm nghiên cứu và

đối với các điểm nóng về tồn lưu ô nhiễm dioxin (28 điểm nóng). Tập trung theo

hướng đánh giá mức độ lan truyền, mức độ độc hại và mức độ phơi nhiễm dioxin đối

với sinh vật và con người. Đầu tư nghiên cứu công nghệ xử lý, khắc phục ô nhiễm

dioxin, trao đổi thông tin khoa học, công nghệ xử lý dioxin với các quốc gia có nền

khoa học công nghệ phát triển. Tiến hành các hoạt động xử lý, cô lập ô nhiễm đối với

các điểm nóng đã được xác định.

Thứ ba: Chính phủ cần xây dựng Quỹ hỗ trợ cho các nghiên cứu về dioxin trong

danh mục kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường. Huy động nguồn vốn hỗ trợ từ các tổ

chức Phi Chính phủ, các tổ chức bảo vệ môi trường Quốc tế để đầu tư cho các hoạt

động nghiên cứu, xử lý ô nhiễm dioxin. Thông qua các phương tiện thông tin đại

chúng, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức cơ bản về ảnh hưởng, tác

hại của dioxin cũng như khả năng phơi nhiễm đối với con người.

Thứ tư: Tiến hành các nghiên cứu có tính chất bao quát đối với tất cả các khu vực

ô nhiễm dioxin do chiến tranh. Trên cơ sở đó, xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu quốc

gia về ô nhiễm dioxin do chiến tranh tại Việt Nam. Tập trung vào các nghiên cứu liên

quan đến độc học và phơi nhiễm dioxin nhằm giảm thiểu rủi ro do tác hại của Dioxin

gây ra đối với con người, hệ sinh thái và môi trường; góp phần kêu gọi sự giúp đỡ của

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

cộng đồng Quốc tế trong việc khắc phục hậu quả của chất độc da cam.

60

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết luận

* Về nguyên nhân: Về tổng lượng phun rải chất phát quang xác định được là hơn

70 triệu lít bao gồm 5 loại chất khác nhau (khoảng 51% là chất da cam), nồng độ

dioxin xác định được từ 1,77 - 40 ppm. Diện tích bị phun rải có thể ước tính được

khoảng 2,5 - 2,7 triệu ha. Tại sân bay Đà Nẵng: lượng chất phát quang được lưu giữ và

trung chuyển là 23.935.680 lít trong đó có 50% là chất da cam, 27% chất xanh, 5% chất trắng và 18% chất khác; diện tích bị ô nhiễm là 141.900 m2, khối lượng đất ước tính 72.900 m3. Tại sân bay Biên Hòa: lượng chất được lưu giữ và trung chuyển qua là

40.737.840 lít trong đó có 50,04 % là chất da cam, 8,17% chất xanh, 22,97% chất trắng

và 18,2% chất khác và có tối thiểu 38.000 lít đã bị rò rỉ ra môi trường.

* Về thực trạng ô nhiễm: Tại sân bay Đà Nẵng nồng độ ô nhiễm 2,3,8,7 - TCDD

đóng vai trò quyết định trong đất với mức dao động từ 136 - 361.000 ng/kg; trong trầm

tích là 4,5 - 6240 ng/kg. Đều có xuất hiện của 10 cấu tử trong mẫu đất và trầm tích. Giá trị

TEQ tương đương dao động từ 5,1 đến 6370,3 và trung bình là 2055,6 . Có sự quan hệ

nồng độ giữa nồng độ trung bình các cấu tử trong mẫu trầm tích và mẫu đất. Tại sân bay

Biên Hòa, nồng độ ô nhiễm dioxin được quyết định bởi 2,3,8,7 - TCDD dao động từ 39 -

5.072.992 ng/kg trong đất và 6,5 -164 ng/kg trong trầm tích. Hàm lượng dioxin đạt mức

cao nhất tại mẫu lấy ở bể chứa nước thải cũ trong sân bay (5.113.440,9). Một lượng lớn

dioxin đã di chuyển xuống các lớp đất sâu hơn (tại độ sâu 2,5 m hàm lượng là 2.272,8).

Về xây dựng mô hình đánh giá rủi ro ban đầu: Đề tài cũng đã bước đầu đề xuất

mô hình đánh giá rủi ro môi trường cho các địa điểm nghiên cứu. Đây là cơ sở, định

hướng quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo và ở cấp độ cao hơn, tập trung vào quản

lý rủi ro và giảm thiểu những tác động do ô nhiễm dioxin trong chiến tranh tại các

điểm nghiên cứu đối với môi trường, hệ sinh thái và con người.

Về một số khó khăn và giải pháp: Qua quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi cũng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nhận thấy có một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến những hạn chế trong quản lý, khắc

61

phục, giảm thiểu tác động do ô nhiễm dioxin trong chiến tranh như cơ chế chính sách,

nguồn vốn, khoa học công nghệ, nhận thức. Trên cơ sở đó đề tài đã đề xuất một số giải

pháp mang tính định hướng cho công tác khắc phục các nguyên nhân, hạn chế nêu trên.

Kiến nghị

- Cần có các giải pháp tăng cường, bổ sung các nghiên cứu chuyên sâu về đánh

giá rủi ro môi trường do ô nhiễm dioxin tại các địa điểm nghiên cứu.

- Đối với địa phương có các địa điểm nghiên cứu, cần có các biện pháp tăng

cường nâng cao nhận thức cho người dân về độc tính, con đường lan truyền và mức độ

phơi nhiễm dioxin nhằm bảo vệ sức khỏe của cộng đồng dân cư ở các khu vực lân cận.

- Các cơ quan có liên quan ở các cấp cần nhanh chóng tiến hành các biện pháp cô

lập, khoanh vùng ô nhiễm giảm thiểu sự phát tán và lan truyền ô nhiễm dioxin tại các

điểm nghiên cứu. Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để tăng cường các hoạt động

quản lý, khắc phục và giảm thiểu ô nhiễm dioxin do chiến tranh tại các điểm trên. Tiến

hành các hoạt động thí điểm về xử lý, công nghệ xử lý để áp dụng rộng rãi nhằm giải

quyết triệt để vấn đề ô nhiễm dioxin tại các sân bay là các điểm nghiên cứu trên.

Cần có các nghiên cứu để bổ sung, phát triển đề tài nhằm nâng cao mục đích, ý

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nghĩa của việc nghiên cứu đề tài trong tương lai.

62

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. ADB - Ngân hàng Phát triển Châu Á (1990), Đánh giá rủi ro môi trường.

2. Arnold Schecter, Hoàng Trọng Quỳnh, Olaf Paepke, Justin A. Colacino và John

D.Constable (2010), Bổ sung những nghiên cứu về Dioxin nằm trong quan hệ hợp tác

giữa Việt Nam và Mỹ, http://www.office33.gov.vn/front-end/index.php?type=ART

ICLE&fuseaction=DISPLAY_SINGLE_ARTICLE&article_id=6665&website_id=1ca

nnel_id=318&parent_channel_id=316&hide_channel=0, ngày 27/10/2010.

3. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (2012), Dioxin, http://vi.wikipedia.org/wiki/

Dioxin, ngày 10/06/2012.

4. Bộ Y tế (2008), Quyết định số 09/2008/QĐ - BYT ban hành Danh mục bệnh, tật, dị

dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm chất độc hóa học/dioxin, ngày

20/05/2008.

5. Hoàng Đình Cầu (2003), Môi trường và sức khoẻ ở Việt Nam (30 năm sau chiến

dịch Ranch Hand), Nxb Nghệ An - Viện nghiên cứu và phổ biến kiến thức bách

khoa, Hà nội.

6. Đặng Kim Chi (2006), Hóa học môi trường, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội.

7. Lê Cao Đài (1999), Chất da cam trong chiến tranh Việt Nam – Tình hình và hậu

quả, Hà nội.

8. Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (2005). Chất độc màu da cam hủy

diệt môi trường ở Việt Nam.

9. Chế Đình Lý (2009), Phân tích hệ thống môi trường, Nxb Đại học Quốc gia T.p Hồ

Chí Minh.

10. Nguyễn Hùng Minh (2010), Báo cáo tổng kết xây dựng mô hình nhận dạng nguồn

ô nhiễm dioxin từ chất độc hóa học do Mỹ sử dụng và các nguồn phát thải tiềm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tàng khác ở Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2010.

63

11. Nxb Văn hóa lao động (2005), Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn

thực hiện.

12. Nguyễn Xuân Nết (2007), Nghiên cứu đánh giá thực trạng kết quả nghiên cứu về

ảnh hưởng của chất độc hóa học lên môi trường đất.

13. Nguyễn Văn Nguyên (2007), "Cơ chế sinh học phân tử của cơ quan thụ cảm AH-

AHR trong nhiễm độc dioxin", Tạp chí độc học, số 3, tr 18 - 24.

14. Nguyễn Đình Thái, Hoàng Đình Cầu, Trần Mạnh Hùng, Phùng Trí Dũng (2002),

"Tồn lưu dioxin khu vực thung lũng A Lưới – Thừa Thiên Huế", Kỷ yếu Hội

thảo khoa học Việt – Mỹ về dioxin, Hà Nội, 2002.

15. Vũ Chiến Thắng (2004), Tác động của chất độc hóa học quân đội Mĩ sử dụng

trong chiến tranh Việt Nam đối với môi trường và con người Việt Nam,

http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/bitstream/123456789/4733/1/04%20Tac%2

0dong%20cua%20chat%20doc%20hoa%20hoc%20%28VCTHANH%29.pdf.

16. Trần Xuân Thu (2002), "Báo cáo khoa học về mức độ ô nhiễm dioxin trong môi trường

thiên nhiên Việt Nam", Kỷ yếu Hội thảo khoa học Việt – Mỹ về dioxin, Hà Nội, 2002.

17. Nguyễn Văn Tuấn (2006), Dioxin và những kinh nghiệm từ Seveso, Ý,

http://vietsciences.free.fr/timhieu/khoahoc/chatdocdacam/dioxinvakinhnghiems

eveso.htm, ngày 24/08/2006.

18. Nguyễn Văn Tuấn (2006), Dioxin, Việt Nam, và Mĩ: Giữa tình cảm và khoa học,

http://vietsciences.free.fr/timhieu/khoahoc/chatdocdacam/dioxin-mi-vn.htm,

ngày 07/12/2006.

19. Ủy ban Châu Âu (số 1883/2006), Quy định về các phương pháp lấy mẫu và phân tích để

kiểm soát chính thức các hàm lượng điôxin và các chất PCB- dạng điôxin trong một số

q=cache:JrLdueK1ObYJ:tieuchuan.mard.gov.vn/Documents/Uploads/12.Qui%252

0dinh%25201883.2006.doc+&hl=vi&gl=vn&pid=bl&srcid=ADGEESjUn9AEyCh

N88Z_0JCLM64hF39RdOOj1TSKXI8cs__oaF9RIWZOudR0u0er76fvthNaTW2a

7vXnVci5RAAE1PoQjKzID4rt96_llxm6H_u0G1YxK7naTF2UL6Vqj25Mqrdriuj

&sig=AHIEtbTILeGgPWfaIbEx2K3MV4GCi7SeEg.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

loại thực phẩm, ngày 19/12/2006, https://docs.google.com/viewer?a=v&

64

20. Ủy ban Quốc gia Điều tra Hậu quả các Chất hóa học Dùng trong Chiến tranh Việt

Nam (2002), Chuyên khảo độc học về các Dibenzo-p-dioxin Clo hóa.

21. UBND thành phố Đà Nẵng, GFF, UNDP (2003), Báo cáo Đánh giá ban đầu rủi ro

môi trường thành phố Đà Nẵng.

22. Văn phòng Ban chỉ đạo 33 (2007), Tác hại của dioxin đối với con người

Việt Nam.

23. Văn phòng Ban chỉ đạo 33, Viện Môi trường Nông nghiệp và Viện Khoa học

Nông nghiệp Việt Nam (2009), Xây dựng hệ thống thông tin hỗ trợ lựa chọn

điểm lấy mẫu.

Tiếng Anh

24. A G Smith, MRC Toxicology Unit (1998), Human risk assessment of dioxins and

PCBs; uncertainties and mechanistic complexities, Leicester University.

25. Allan B. Okey, et al (2005), "Toxicological implications of polymorphisms in

receptors for xenobiotic chemicals: the case of the aryl hydrocarbon receptor",

Toxicology and applied Pharmacology 207, pg 43-51.

26. Buekens, L. Stieglitz, K. Hell, H. Huang (2001), "Dioxins from thermal method for

detecting TCDD: levels of TCDD in samples from Vietnam", Environ. Health

Perspect, 5, pg 27-35.

27. Dang Duc Nhu, Teruhiko Kido, Nguyen Ngoc Hung, Phung Tri Dung, Le Thi Hong

Thom, Rie Naganuma, Nobuhiro Sawano, Le Ke Son, Kenji Tawara, Hideaki

Nakagawa and Le Vu Quan, A Study on dioxin Contamination in Herbicide Sprayed

Area in Vietnam by GIS, http://www.intechopen.com/books/indexing/herbicides-and-

environment/a-study-on-dioxin-contamination-in-herbicide-sprayed-area-in-vietnam -

by-gis.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

28. GCI TECH NOTES (1995), A caution in the use of analytical data in calculating TEQ values for dioxin reporing, http://gcisolutions.com/1295tn.htm, December 15th 1995.

65

29. L. Wayne Dwernychuk, et al (2002), ―Dioxin reservoirs in southern Viet Nam –

Alegacy of Agent Orange‖ Chemosphere 47, pg 117-137.

30. Ngo A.D.et al. (2006), "Association between Agent Orrange and birth defects:

systematic review and meta-analysis", Intl Journal of Epidemiology, PMID:

16543362.

31. Royal Society (1992), Risk: Analysis, Perception and Management. London: The

Royal Society.

32. Scheter A., Dai LC., Paepke O., Prange J., Constable JD., Matsuda M., Thao VD.,

Piskac A (2001). Recent dioxin contamination from Agent Orange in residents

of Southern Vietnam City, JOEM, 43/5, pg 435 - 443.

33. Scheter A., Quynh HT., Pavuk M., Paeke O., Malisch R., Constable J. (2003),

Foods as source of dioxin exposure in the residents of Bien Hoa city, Vietnam.

JOEM, 45/8, pg 781 - 788.

34. Stellman JM, Stellman SD, Christian (2003), "The extent and patterns of

usageof Agent Orange and otherherbicides in Vietnam", Nature, vol 422, pg

681-687, 17 April 2003.

35. Thomas G. Boivin (2009), Regional Capacity Building Program for Health Risk

Management of Persistent Organic Pollutants (POPs) in South East Asia Program.

36. Tim Jones (2009), Agent Orange's lethal legacy: For Vietnam War

veteransinjustice follows injury, Chicago Tribune, December 6, 2009.

37. Tran Thi Tuyet Hanh, Le Vu Anh, Nguyen Ngoc Bich, Thomas Tenkate, (2010),

Environmental Health Risk Assessment of dioxin Exposure through Foods in a

dioxin Hot Spot—Bien Hoa City, Vietnam.

38. Van den Berg, et al, (1998), Toxic Equivalency Factors (TEFs) for PCBs, PCDDs,

PCDFs for Humans and for Wildlife.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

39. Young AL. (2007), Presentation in the Vietnam-US workshop in Hanoi, June 2007.

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Tiêu chuẩn quốc gia - TCVN 8183 : 2009

Ngƣỡng dioxin trong đất và trầm tích

(Dioxins threshold in the soil and sediment)

1. Phạm vi áp dụng

Tiêu chuẩn này áp dụng cho môi trường đất và trầm tích tại các điểm bị ô

nhiễm nặng dioxin.

Tiêu chuẩn này quy định ngưỡng dioxin trong đất và trầm tích để làm căn cứ

cho hoạt động khoanh vùng, xử lý dioxin tại các điểm bị ô nhiễm nặng dioxin.

Tiêu chuẩn này không áp dụng cho đất, trầm tích bị nhiễm bẩn chất thải nguy hại.

2. Tài liệu viện dẫn

Các tài liệu viện dẫn sau rất cần thiết cho việc áp dụng tiêu chuẩn này. Đối với

tài liệu viện dẫn ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản được nêu. Đối với các tài

liệu viện dẫn không ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản mới nhất, bao gồm cả

các sửa đổi, bổ sung (nếu có).

EPA Method 8280B Polychlorinated dibenzo-p-dioxins and polychlorinated

dibenzofurans by high-resolution gas chromatography/low resolution mass

spectrometry (HRGC/LRMS) (Phương pháp xác định Polychlorin dibenzo-p-dioxin

PCDD và polychlorin dibenzofurans PCDF bằng sắc ký khí phân giải cao/khối phổ

phân giải thấp);

EPA Method 8290A Polychlorinated dibenzo-p-dioxins (PCDDs) and

polychlorinated dibenzofurans (PCDFs) by high-resolution gas chromatography/high-

resolution mass spectrometry (HRGC/HRMS) (Phương pháp xác định Polychlorin

dibenzo-p-dioxin PCDD và polychlorin dibenzofurans PCDF bằng sắc ký khí phân giải

cao/khối phổ phân giải cao).

3. Thuật ngữ và giải thích

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trong tiêu chuẩn này, sử dụng các thuật ngữ và định nghĩa sau:

3.1. Dioxin (Dioxins)

Tổ hợp gồm 75 chất đồng loại của Polyclodibenzo-p-dioxin (PCDD) và 135

chất đồng loại của Polydiclodibenzofuran (PCDF), trong đó có 7 đồng loại độc nhất

của PCDD và 10 đồng loại độc của PCDF là đối tượng phân tích.

3.2. Ngưỡng dioxin (Dioxins threshold)

Giới hạn định lượng của dioxin trong đất và trầm tích được ẩn định để làm căn

cứ cho hoạt động khoanh vùng và xử lý dioxin một cách phù hợp nhằm giảm thiểu

tác hại của dioxin đối với sức khỏe con người và môi trường.

3.3. Xử lý dioxin (Dioxins treatment)

Quá trình sử dụng công nghệ hoặc các biện pháp kỹ thuật để làm giảm hàm

lượng, làm thay đổi tính chất và thành phần của dioxin (kể cả vận chuyển, lưu giữ,

làm sạch, tẩy độc, chôn lấp), hoặc cách ly, cô lập dioxin một cách an toàn nhằm làm

mất hoặc làm giảm mức độ gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người,

phù hợp với các yêu cầu quy định của cơ quan có thẩm quyền về môi trường.

3.4. Điểm bị ô nhiễm nặng dioxin (Dioxins heavily contaminated site)

a. Khu vực hoặc vùng địa lý có hàm lượng dioxin trong đất vượt quá 1.000

ng/kg TEQ, hoặc trong trầm tích vượt quá 150 ng/kg TEQ.

b. Lớp đất bị nhiễm bẩn dioxin ở hàm lượng vượt quá 1.000 ng/kg TEQ, hoặc

tầng trầm tích bị nhiễm bẩn dioxin ở hàm lượng vượt quá 150 ng/kg TEQ.

c. Khu vực hoặc vùng địa lý được cơ quan có thẩm quyền ấn định là điểm bị

nhiễm bẩn dioxin rất cao và phải được xử lý.

3.5. Trầm tích (Sediment)

Vật liệu được nước tải đi từ nơi xuất xứ đến nơi lắng đọng trong các thủy vực.

3.6. Khoanh vùng dioxin (Restriction of access area)

Hạn chế hoặc ngừng hoàn toàn sự tiếp xúc của con người, động vật và các

hoạt động canh tác nông nghiệp, thủy sản tại các điểm bị ô nhiễm nặng dioxin.

4. Ngưỡng dioxin trong đất và trầm tích tại các điểm bị ô nhiễm nặng dioxin

Ngưỡng dioxin trong môi trường đất và trầm tích tại các điểm bị ô nhiễm nặng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

dioxin được quy định trong Bảng 1.

Bảng 1 – Ngưỡng dioxin trong đất và trầm tích tại các điểm bị ô nhiễm nặng dioxin

Đơn vị tính: ng/kg – TEQ

Môi trƣờng Ngƣỡng Phƣơng pháp xác định

Đất 1.000 EPA Method 8280B hoặc

EPA Method 8290A Trầm tích 150

5. Phương pháp thử

Xác định hàm lượng dioxin trong đất và trầm tích áp dụng theo tiêu chuẩn

EPA Method 8280B hoặc EPA Method 8290A nêu trong Bảng 1 của tiêu chuẩn này

hoặc áp dụng theo phương pháp xác định tương đương. Phương pháp EPA Method

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8290A là phương pháp trọng tài.

Phụ lục 2

Quy chuẩn kỹ thuật môi trường Quốc gia về ngưỡng dioxin trong đất nông nghiệp và phi nông nghiệp National technique regulation on dioxin threshold in agricultural and non-agricultural land uses

1. QUY ĐỊNH CHUNG

1.1 Phạm vi điều chỉnh

1.1.1. Quy chuẩn này quy định hàm lượng tối đa cho phép của dioxin trong đất nông

nghiệp và phi nông nghiệp; làm căn cứ đánh giá sự phù hợp của chất lượng đất theo mục

đích sử dụng, để phòng ngừa và giám sát ô nhiễm dioxin trong môi trường đất;

1.1.2. Hàm lượng tối đa cho phép của dioxin trong đất nông nghiệp và phi

nông nghiệp quy định trong Quy chuẩn này cũng được sử dụng làm căn cứ trong

hoạt động khoanh vùng, xử lý dioxin và cải tạo, phục hồi môi trường đất tại các

điểm bị ô nhiễm dioxin nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

1.2. Đối tƣợng áp dụng

1.2.1. Quy chuẩn này áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước về môi

trường và mọi tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc sử dụng đất và gây ra ô

nhiễm trên lãnh thổ Việt Nam;

1.2.2. Quy chuẩn này áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân tiến

hành các hoạt động cải tạo, xử lý ô nhiễm đất, khắc phục hậu quả chất độc hóa học

gây ra trong chiến tranh.

1.3. Giải thích từ ngữ

Quy chuẩn này sử dụng các thuật ngữ và định nghĩa sau:

1.3.1. Dioxin (Dioxins)

Tổ hợp gồm 75 chất đồng loại của Polyclodibenzo-p-dioxin (PCDD) và 135

chất đồng loại của polydiclodibenzofuran (PCDF), trong đó có 7 đồng loại độc của

PCDD và 10 đồng loại độc của PCDF. Tổng cộng cả hai nhóm PCDD và PCDF

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

có 17 đồng loại độc là đối tượng phân tích.

1.3.2. Nồng độ TEQ (Concentration of Toxic Equivalent)

Là tổng nồng độ để tính độ độc chung cho các chất độc trong các nhóm

doxin và furan, độ độc của chất độc nhất TCDD được quy ước bằng 1, các chất độc

hơn được so sánh với TCDD, có độ độc bằng phần/mười; phần/trăm;

phần/nghìn so với TCDD. Khi lấy nồng độ độc nhân với các hệ số độc ta nhận được

nồng độ tương đương, hay độ độc tương đương, viết tắt theo tiếng Anh là EQ

(Toxic Equivalency).

1.3.3. Ngưỡng dioxin (Dioxins threshold)

Là giới hạn định lượng cho phép của dioxin trong đất nông nghiệp và phi

nông nghiệp được ấn định làm căn cứ cho hoạt động giám sát, khoanh vùng,

khắc phục, xử lý dioxin một cách phù hợp nhằm giảm thiểu tác hại của dioxin đối

với sức khỏe con người và môi trường.

1.3.4. Đất nông nghiệp (Agricultural land uses):

Bao gồm các loại đất thuộc nhóm đất nông nghiệp:

- Đất trồng cây lương thực, thực phẩm, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi,

đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm khác;

- Đất rừng sản xuất, vùng đất dùng cho phát triển và kinh doanh nghề lâm

nghiệp, được sử dụng chủ yếu để trồng rừng và trồng các lâm sản khác.

1.3.5. Đất dân sinh (Residential land uses)

Là vùng đất thuộc nhóm đất phi nông nghiệp, được sử dụng chủ yếu làm

nhà ở nông thôn và nhà ở đô thị, nơi vui chơi giải trí, các công viên.

1.3.6. Đất thương mại (Commercial land uses):

Là vùng đất thuộc nhóm đất phi nông nghiệp, được sử dụng chủ yếu cho

các hoạt động thương mại, dịch vụ

1.3.7. Đất công nghiệp (Industrial land uses):

Là vùng đất thuộc nhóm đất phi nông nghiệp, được sử dụng chủ yếu cho

hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các khu công nghiệp, khu liên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

hợp công nghệ cao.

1.3.8. Điểm bị ô nhiễm dioxin (Dioxin contaminated site)

Là khu vực hoặc vùng địa lý có hàm lượng dioxin trong đất, bao gồm cả đất

nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp vượt quá mức cho phép.

1.3.9. Khoanh vùng dioxin (Restriction of access area)

Hạn chế hoặc ngừng hoàn toàn sự tiếp xúc của con người, động vật và các

hoạt động canh tác nông nghiệp, lâm nghiệp, dân sinh, sản xuất công nghiệp và

thương mại tại các điểm bị ô nhiễm dioxin vượt quá mức cho phép.

1.3.10. Xử lý dioxin (Dioxins treatment)

Quá trình sử dụng công nghệ hoặc các biện pháp kỹ thuật để làm giảm hàm

lượng, làm thay đổi tính chất và thành phần của dioxin (kể cả vận chuyển, lưu giữ,

làm sạch, tẩy độc, chôn lấp), hoặc cách ly, cô lập dioxin một cách an toàn nhằm làm

mất hoặc làm giảm mức độ gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người,

phù hợp với các yêu cầu qui định của cơ quan có thẩm quyền về môi trường.

1.3.11. Phục hồi môi trường (Environmental rehabilitation)

Quá trình sử dụng công nghệ hoặc các biện pháp kỹ thuật để làm giảm hàm lượng,

làm thay đổi tính chất, thành phần của dioxin trong đất, phục hồi các thành phần

môi trường tự nhiên của đất để được tái sử dụng vào các mục đích khác của con người,

phù hợp với các yêu cầu qui định của cơ quan có thẩm quyền về môi trường.

2. QUY ĐỊNH KỸ THUẬT

Hàm lượng tối đa cho phép của dioxin trong đất nông nghiệp và phi nông

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nghiệp được thể hiện trong Bảng 1 dưới đây:

Bảng 1- Hàm lượng tối đa cho phép của dioxin trong đất nông nghiệp

và phi nông nghiệp

Đơn vị tính: ng/kg – TEQ

TT Phân loại đất theo mục đích sử dụng Phƣơng pháp xác định

Đất Nông nghiệp Hàm lƣợng tối đa 1 EPA Method

1.1 Đất trồng cây lương thực, thực phẩm 40 8280B

hoặc 1.2 Đất rừng, trồng cây lâu năm 100

EPA Method Đất phi nông nghiệp 2

2.1 Đất dân sinh (3 loại)

2.1.1 Đất ở nông thôn 130

2.1.2 Đất ở thành phố 350 8290A 2.1.3 Đất vui chơi, công viên 600

2.2 Đất thương mại 1200

2.3 Đất công nghiệp 1200

3. PHƢƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH

Xác định hàm lượng dioxin trong đất nông nghiệp và phi nông nghiệp áp

dụng theo tiêu chuẩn EPA Method 8280B hoăc EPA Method 8290A nêu trong

Bảng 1 của Quy chuẩn này hoặc áp dụng theo phương pháp xác định tương

đương. Phương pháp EPA Method 8290A là phương pháp trọng tài.

4. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

4.1. Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi

trường, Tổng cục Môi trường và các Sở tài nguyên và Môi trường địa phương) có

trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chuẩn này.

Mọi tổ chức, cá nhân liên quan đến sử dụng đất theo mục đích khác nhau tuân thủ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

các quy định tại Quy chuẩn này.