Nhn din s thi Xơ Đăng
Nguyn Xuân Kính - Vũ Hoàng Hiếu
(Vin Nghiên cu văn hoá)
I. Lch s sưu tm, nghiên cu hơ m’uan Xơ Đăng
Nếu như trên mnh đất Tây Nguyên, s thi Ê Đê được thế gii biết đến t năm 1927 qua bn
dch tiếng Pháp ca L. Sabatier, s thi Mơ Nông đưc gii nghiên cu Vit Nam biết đến
mun hơn vào cui nhng năm 80 ca thế k XX thì hơ muan Xơ Đăng mà PGS. TS. Võ
Quang Trng là người đầu tiên xác định là s thi mi ch được phát hin và sưu tm vào thi
gian t cui năm 2001 đến gia năm 2002.
Người Xơ Đăng đã sinh sng lâu đời vùng bc Tây Nguyên. Năm 1998, GS. Đặng
Nghiêm Vn cho biết: h có gn 100.000 người, “bao gm năm nhóm địa phương chính:
Xơ Teng, Tơ Đrá, Mơ Nâm, Ca Dong và Ha Lăng. H cư trú min bc tnh Kon Tum,
trong sáu huyn: Đắc Tô, Sa Thy, Đắc Glây, Kon Plông, Ngc Hi và Đắc Hà. Ngoài ra,
h còn sinh sng huyn Trà My thuc tnh Qung Nam và huyn Sơn Hà thuc tnh
Qung Ngãi (15.000 người)”(1). Hin nay huyn Kon Plông được tách thành hai huyn Kon
Plông và Kon Ry; huyn Đăc Tô được tách thành hai huyn Đắc Tô và Tu Mơ Rông.
“Tên gi Xơ Đăng là tên do người Ba Na gi chch t tên t gi ca nhóm địa phương
đông đảo và ch yếu nht ca dân tc Xơ Đăng là Xơ Teng hay Xơ Đang, v sau dn dn
được mc nhiên chp nhn”(2).
Như mi người đã biết, năm 2001, Chính ph phê duyt và giao cho Trung tâm Khoa hc
xã hi và nhân văn quc gia (nay là Vin Khoa hc xã hi Vit Nam) ch trì, phi hp
cùng các tnh Tây Nguyên thc hin D án Điu tra, sưu tm, bo qun, biên dch và xut
bn kho tàng s thi Tây Nguyên.
Trung tun tháng 12 năm 2001, PGS. TS. Võ Quang Trng, vi cương v là Phó Vin
trưởng Vin Nghiên cu văn hoá dân gian (nay là Vin Nghiên cu văn hoá), là Trưởng
nhóm điu tra, sưu tm ti tnh Kon Tum đã phát hin s thi ca người Xơ Đăng. Địa đim
phát hin là “làng Kon Gu 1, gi theo tên mi là thôn 5 thuc xã Ngc Vang, huyn Đắc
Hà, tnh Kon Tum. Xã Ngc Vang cách thành ph Kon Tum khong 35 km. Ngc Vang có
tám thôn người dân tc Xơ Đăng thuc nhóm Tơ Đrá cư trú và mt làng cũ là Kon Chon,
Kon Ré, Kon Ri, Kon Stiêu, Kon Gu 1, Kon Gu 2, Kon Prăm, Đắk KDem”(3).
Theo s kho sát ca PGS. Võ Quang Trng, ti xã Ngc Vang vào thi đim năm 2001
ch có mt mình ngh nhân A Ar hát k s thi hay nht, mt vài người khác ch biết k vn
tt.
Ti tnh Kon Tum, trên địa bàn các huyn Đắc Hà, Đắc Tô, khi kết thúc D án s thi, nhóm
điu tra, sưu tm đã sưu tm được 106 bn k, trong đó ngh nhân A Ar hát k 82 bn, còn
li là bn k ca các ngh nhân: A Bih, A Hy Ai, A Ling, A Loan, A Lung, A Nglêuh, A
Ri, A T, A Vanh, A Yin, Đinh Viên, Plui Kong Ur, Rơ Ma Jouh, Ubrăng, Y Phi Em.
Trong b sách Kho tàng s thi Tây Nguyên (2004 - 2007) đã có bn tác phm được xut
bn. Đó là:
- Dăm Duông b bt làm tôi t
- Dăm Duông cu nàng Bar Mă
- Dăm Duông hoá cp
- Dăm Duông trong lt ông già.
Hai tác phm trên được in thành mt tp, Nhà xut bn Khoa hc xã hi công b năm
2006. Hai tác phm dưới được in thành mt tp, Nhà xut bn Khoa hc xã hi n hành
năm 2007(4).
Trên phương din nghiên cu gii thiu, trên Tp chí Văn hoá dân gian s 3 năm 2002,
PGS. TS. Võ Quang Trng công b bài “Đăm Giông, phát hin mi v s thi ca người Xê
Đăng Kon Tum”. Tác gi cho biết, t trung tun tháng 12 năm 2001, ln đầu tiên đã phát
hin ra s thi ca ngưi Xơ Đăng ti xã Ngc Vang, huyn Đắc Hà, tnh Kon Tum. Ông
gii thiu v ngh nhân A Ar, v ni dung mt tác phm s thi và nêu vài nhn xét bước
đầu. Trong bài viết, tác gi không dùng t (người) Xơ Đăng mà viết Xê Đăng, gi tên tác
phm là Đăm Giông. Trên Tp chí Văn hoá dân gian s 4 năm 2002, tác gi công b tiếp
bài “Đăm Duông - b s thi liên hoàn ca người Xê Đăng”. Trong bài viết, tác gi gii
thiu sơ lược v người Xơ Đăng Kon Tum, thông báo kết qu điu tra, sưu tm t cui
năm 2001 đến gia năm 2002 đã thng kê, lp danh sách được trên 30 tác phm. Tác gi
cũng phác ho vài nét v Duông. Ông viết: “Nhân vt chính xut hin, tn ti và hành động
xuyên sut các tác phm s thi đó là Đăm Duông. Hu hết các tác phm s thi k trên đều
liên quan đến nhân vt Duông, nhân vt có uy tín ln trong h thng các tác phm s thi Xê
Đăng. Đăm Duông là cháu ca ông Gleh, con ca Sét và Bia Jit. Chàng tiêu biu cho chàng
trai Xê Đăng: thông minh, gan d, dũng cm, siêng năng và giàu lòng nhân ái”(5).
bài này, khi ch tc người, tác gi dùng tĐăng, còn tên nhân vt chính được viết là
Duông. Qua các tác phm đã công b, chúng ta thy rng tên tác phm mà lúc đầu Võ
Quang Trng gi là Đăm Giông (trong bài viết trên Tp chí Văn hoá dân gian, s 3 năm
2002) chính là Dăm Duông cu nàng Bar Mă trong tp sách được Nhà xut bn Khoa hc
xã hi công b năm 2006.
Nhng thông tin nêu trên phn ánh vic công b kp thi mt phát hin ln ca công cuc
điu tra, sưu tm s thi Tây Nguyên. Nhng s chnh sa v sau là d hiu. Nhng phân
tích kĩ hơn v ni dung và ngh thut ca bn tác phm s thi Xơ Đăng được PGS. TS. Võ
Quang Trng và ThS. Bùi Ngc Quang th hin trong bn bài gii thiu in trong hai tp
sách v s thi Xơ Đăng (công b năm 2006 - 2007) mà chúng tôi đã nhc đến trên.
Như vy, so vi các s thi Ê Đê, Mơ Nông, Ba Na, vic sưu tm, xut bn s thi Xơ Đăng
được tiến hành mun hơn, s tác phm công b ít hơn; còn vic nghiên cu, gii thiu nó
cũng chưa được tiến hành đầy đủ và kĩ lưỡng.
II. Nhn din hơ m’uan Xơ Đăng qua by bn dch
Như trên đã nói, 106 bn k s thi Xơ Đăng hin đang được lưu tr ti Vin Nghiên cu
văn hoá. Trong s bn k đó, ch bn tác phm được biên dch và công b trong các năm
2006 - 2007:
1. Dăm Duông b bt làm tôi t
2. Dăm Duông cu nàng Bar Mă
3. Dăm Duông hoá cp
4. Dăm Duông trong lt ông già.
Hin nay, Vin Nghiên cu văn hoá va mi t chc biên dch và biên tp văn hc được ba
tác phm na:
1. Duông đi theo thn Tung Gur
2. Duông làm th lĩnh
3. Duông làm nhà rông(6).
Bi vy, nhng nhn xét ca chúng tôi v s thi Xơ Đăng ch là kết qu ca vic quan sát,
phân tích by bn dch va nêu.
1. Hơ m’uan cho thy người Xơ Đăng chăm ch làm lng, thích sng hoà thun, thanh
bình trong buôn làng
a. Dăm Duông là chàng trai Xơ Đăng rt chăm ch làm vic. Mc dù không được ăn ung
đầy đủ, nhưng ch trong vài ngày Duông đã làm sch c c đám ry rng ln ca nhà ông
Dur Teh. Khi nhà ông Tung Brung, Duông đi cht na, cht l ô, ri ch ri vót, đan
nhng chiếc r rt đẹp. Vi nhng chiếc r đó, hai cô gái Măng Yang và Rang Hu không
nhng ch có dng c xúc cá tt mà còn đem đổi đưc gà, được nhng tm chăn để đắp(7).
Ngay c sau khi b k xu hãm hi phi đội lt cp, Dăm Duông vn giúp đỡ người khác.
Đợi khi màn đêm buông xung, hai cha con nàng Bar Mă đã ra v, chàng đã gom các khúc
cây cháy d li thành đống ri dn sch ry cho h(8). Không ch có thế, chàng còn làm mt
ngôi nhà mi cho gia đình Bar Mă(9). Ngoài ra Duông còn rt gii bt cá dưới sông
sui(10).
Trong Duông đi theo thn Tung Gur, khi chàng lang thang đến làng ông Nhâk Kân, được
ông và Bar Mă - con gái ông mi li sng cùng gia đình, chàng đã mt mc t chi vi lí
do chàng không mun làm phin ti h vì t nhn mình là k lười làm, nhác vic. Nhưng
trên thc tế, trong sut thi gian đây, Dăm Duông đã cho thy chàng là mt người siêng
năng, chu thương chu khó. Chàng t ra thông tho mi vic; khi biết ông Nhâk Kân mun
làm mt vic gì, chàng đều ch động giành làm trước. Ông Nhâk Kân rt hài lòng khi sng
cùng vi Dăm Duông, thm chí ông còn vui mng tht lên: “Con ơi! Ta không biết phi
làm gì na. Vic gì con cũng làm hết c. Ta ch đứng nhìn con làm thôi. Ta tr thành mt
ông ch trông coi con làm vic”. Nh có Duông mà vic nương ry nhà ông Nhâk Kân tr
nên suôn s. Ch trong mt đêm, Duông và nhng người bn ca chàng đã phát đưc mt
đám ry rng mênh mông chiếm trn mười ngn đồi, khiến dân làng ai ny đều ngc nhiên,
khâm phc. Phát ry xong, Duông li chăm ch cùng Bar Mă tra lúa. “Vài ngày sau, c ry
nhum mt màu xanh ngt. Lúa đã lên cao, che kín lưng chim cu đất”. Đến khi nhng gia
đình khác, nhng ngôi làng khác bt đầu rm rch đốt ry thì Duông đã chun b thu hoch.
Nh Duông, năm đó gia đình ông Nhâk Kân đã có mt v mùa bi thu.
Không ch gii vic nương ry, Duông còn thành tho vic săn bn. Mt ln, Duông đem
ná vào rng săn thú. Ch trong mt bui chiu mà chàng đã bn đưc không biết bao nhiêu
là thú: nào cheo, nào mang, nào trĩ, nào sóc, nào ln lòi... Con ln Duông bn được to đến
ni chàng phi gi tt c anh em đến để khiêng. Khi mi người đến, ai ny đều trm tr
kinh ngc, tán tng Duông tài gii vì đã bn được con thú rng to ln đến như vy. Anh em
Duông rt mun chàng li làng vì nh có chàng mà ngày nào h cũng có tht thú rng để
ăn. Ngoài vic săn bn và làm ry, Duông còn biết dng chòi ry rt nhanh, đan gùi rt
gii, nói chung là làm vic gì cũng khéo(11).
Người làm vic gii không ch t mình làm, mà còn biết hướng dn, trông coi nhng người
cùng làm. Có c mt s thi k chuyn “Duông làm nhà rông”. Ông Gleh cùng vi các già
làng quyết định làm nhà rông mi thay cho nhà rông cũ đang dn đổ nát. Duông được các
già làng giao cho trông coi vic làm nhà này. Duông nói vi mi người rng, phi làm ngôi
nhà rông mi cao to, b thế nht vùng. Duông điu động c làng tham gia: con trai kho
hơn thì vào rng cht cây to, loi tt nht để làm ct, làm kèo; con gái thì cht cây nh làm
rui, ct c tranh để có cái lp mái, mt s khác thì vào rng nu ăn cho đám trai tráng;
người già thì vót mây, ch tre đan phên; hai anh em Duông, Diă thì đi bt dây song mây
trong rng. Dân làng đều nhit tình. Do s n lc ca mi người, dưới s hướng dn ca
Duông, li được Nhn thn giúp đỡ, cui cùng chiếc nhà rông mi, to đẹp nht vùng đã
hoàn thành.
b. Trong by tác phm đã dch, không có nhng tình tiết con cái chng li cha, anh em rut
tht xâu xé nhau, người tr hn hào vi người già, dân làng chng li th lĩnh. Bn thân
Duông luôn làm tt vai trò, trách nhim ca người con, người chng, người anh em trong
gia đình. Chàng nói: “Phn con cháu phi vâng li người ln. Người ln bo chúng ta làm
thế nào thì phi làm thế ny. Ông, bà, cha, m sinh ra chúng ta, nuôi nng chúng ta t
biết bao kh cc, l nào chúng ta li không nghe li?
Vâng! Con xin vâng li cha. Con s c gng sng làm sao cho va lòng mi người, vui
lòng cha m. Điu gì cha không mong đợi, con cũng không làm”(12). Trong cuc rượu, Dăm
Duông t ra là người biết nhìn trước ngó sau, biết tôn ti trên dưới: “Nàng phi mi cha, mi
m trước, vì cha m là ch nhà. Cha m phi được mi ung trước. Đằng này li mi con
cái ung trước, như thế là không đúng”(13).
Trong tác phm Duông làm th lĩnh, sau khi nghe cha và anh bàn v chuyn hôn nhân ca
mình, Duông đã nói vi cha: “Cha ơi! Cha là người ch ca con, con ch nh cy cha. Nếu
cha không bo, mc dù Bar Mă luôn vi con, con cũng không biết làm thế nào. Cha có
bng lòng cho con ly v thì con mi dám ly. Cha không bng lòng cho con ly v thì con
s không ly”(14); Duông đã nói vi các anh ca mình: “Các anh hãy ngi suy nghĩ nhng
điu em đã nói t nãy đến gi. Có nhng câu gì chưa đúng, nhng li nào sai; đúng thì anh
nh, còn sai thì hãy sa giùm em”(15). Khi đến nhà nàng Bar Mă ( làng khác), được d
đám cưới ca con gái ông Nur Lao ly con trai ông Tur Ri Mu, “Duông đứng lên nói:
- Thưa tt c mi người, bây gi tôi xin nói thế này. Trước hết, xin thưa cùng mi người.
Tôi là Duông, con trai ông Gleh, nơi thượng ngun dòng sông bên x Hơ Dang Wang
Mơ Nâm, tôi không phi là người làng này, tôi cũng là khách mi. Đáng l tôi không có
mt đây, tôi phi đi ti my làng dưới kia. Nhưng khi đi ngang qua làng này, gp bác Tur
Ri Mu bo phi nán li đây nên tôi mi có mt bui hôm nay, trong đám cưới này. Tôi
cũng ging như bao người khách khác, không phi là người ca làng này. Ch nhà bo tôi
nói chuyn vi mi người. Tôi biết nói gì, tui đời tôi còn nh. Tôi chưa phi là người ln,
nói năng còn thiếu suy nghĩ, không rành rt, không trôi chy. Li nói ra còn nhiu sai sót.
(...).
Bây gi tôi xin nói thế này. Trước hết tôi xin t ơn thn linh, thn thánh. T ơn thn núi
cao, thn sông dài. T ơn thn sm sét ng trên tri cao đã cho chúng ta sc kho và gp
nhau hôm nay. Th hai, tôi coi làng này cũng như chính làng ca tôi vy, nên tôi mun nói
đôi li dn dò: khi chúng ta ung rượu... các cô gái và các chàng trai làng cũng như ngay c
người già c, chúng ta phi biết thương yêu nhau. Chúng ta phi làm thế nào cho ngày vui
hôm nay tht là vui, ăn ung đàng hoàng t tế, không để có s rc ri xy ra. Không được
mt ai gây s, chi bi nhau hoc đánh ln nhau. Đó là điu cm k, không để xy ra trong
ngày vui này. Cháu nói như thế, các bác, các ông thy có phi không? Có đúng không?”(16).
c. Qua các bn dch, ngưi đọc thy mt nét đặc sc người Xơ Đăng là h chăm ch làm
vic, nhưng không làm đến mc căng thng, kit lc. Trong quá trình dng nhà rông, khi
hp bàn, lúc vào rng đốn g, ct tranh, khi xung sông bt cá, lúc làm lúc ngh, lúc ăn, lúc
trò chuyn,... Đó là sinh hot thường ngày ca h, mt cuc sng n định và thanh bình.
Đon văn sau k v làng ca ông Gleh (cha ca Duông) giúp ta hình dung c th hơn s
thanh bình, thnh thơi y: “Sau khi trng tra xong, h cùng các cô gái trong làng lên rng
để cht cây mây và hái đọt mây làm thc ăn. Còn các nàng Bia Môn, Bia Bar, Bia Pêng,
Bia Puôn, Rang Tôl, Yăng Chau, Plôi Goi, tt c có by ch em, ai cũng xinh xn, vi dáng
hình thon th, bước đi uyn chuyn, k trước, người sau, trên lưng mang gùi cùng nhau đi
hái rau diu, đi hái hoa rng bên b sông, b sui. Mùa này đang rnh rang, mùa để cho
các cô gái lên rng, xung b sông, b sui tìm hoa, hái rau. H va đi, va hát cười đùa
vui v; tui tr thường vui nhiu, bun ít. Các nàng mang theo nhng chiếc ô che nng. H
đi ven theo con đường vng đến ven sông. Khi các nàng bước đi, nhng bước chân nhp
nhàng như ánh chp lp loè ca nhng cp đùi trng nõn nà, lúc n lúc hin trong nhng b
váy đẹp.
Nhng người đàn ông, đàn bà trong làng lúc này cũng rnh rang, thnh thơi, h không còn
vướng bn công vic ngoài ry. Do vy, người ta dành thi gian cho vic dt khăn, đan gùi
và làm mi th khác”(17).
2. Hơ m’uan phn ánh nhng sinh hot thường ngày, phong tc tp quán và cách ng
x bè bn, thân thin vi môi trường t nhiên, thiên nhiên
T nhng sinh hot thường ngày như làm ry, đan lát, đánh bt cá, s trao đổi sn phm, ăn
ung, tiếp khách, cách xưng hô gia các thành viên trong gia đình, nơi công cng cho đến
tình yêu, hôn nhân đều được phn ánh trong by tác phm s thi.
Nếu như người Ê Đê, người Mơ Nông đã biết thun dưỡng voi thì người Xơ Đăng chưa
làm vic đó. Vì vy các nhân vt trong s thi ch cưỡi nga, phi nga mi khi cn đi nhanh,
đi xa; hình nh con voi vng bóng.
Trong các tác phm s thi, đặc bit là trong tác phm Dăm Duông trong lt ông già, nhiu
chim, thú có mt. Trong chuyến chu du ca mình, Dăm Duông gp rt nhiu loài muông
thú. Đầu tiên, chàng gp các loài chim như chim cu, chim tre wet, chim b chao, chim tar
yang... Chàng đi theo và hc đưc tiếng hót véo von, thánh thót ca chúng. Sau đó, Dăm
Duông còn gp nhiu loài thú như kh, vượn, trăn, cp, cá su, rng, thung lung... Lang
thang trong rng sâu, Dăm Duông đã tr thành người bn thân thiết ca các loài muông thú
t lúc nào không hay. Chàng hoà mình vào cuc sng ca nhng người bn thú và hc
được rt nhiu điu hay. Đi đến đâu chàng cũng đưc đón chào yêu mến. Chàng được
nhng người bn chim thú tng nhng chiếc áo da ca chúng để khi chàng khoác vào s
biến thành đồng loi vi tt c sc mnh và s khéo léo ca chúng. Nh chiếc áo da ca
chim tre wet, Duông hóa thành mt chú chim có cp chân màu vàng óng và b lông tuyt
đẹp. “Chim” được nàng Bar Mă bt đem v nuôi, chăm sóc chu đáo, yêu quý đến ni t lúc
“chim” bay đi, sut ngày nàng rũ khóc thương, không thiết làm bt c vic gì. Chúng tôi
chia s vi nhn xét rng, s thi Dăm Duông trong lt ông già “mang mt thông đip mang
tính thi đại. Đó là vn đề thiên nhiên và môi trường, mi quan h tương tác gia con
người và thiên nhiên. Con người là bn, con người hoà vào thiên nhiên, được thiên nhiên