intTypePromotion=1

Nhiễm siêu vi hệ thần kinh trung ương

Chia sẻ: Hạnh Lệ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

0
17
lượt xem
0
download

Nhiễm siêu vi hệ thần kinh trung ương

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết có nội dung trình bày về: Nhiễm siêu vi hệ thần kinh trung ương, dịch tễ học, bệnh sinh, lâm sàng viêm màng não siêu vi, và cách điều trị vi hệ thần kinh trung ương... Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nhiễm siêu vi hệ thần kinh trung ương

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013<br /> <br /> Tổng Quan<br /> <br /> NHIỄM SIÊU VI HỆ THẦN KINH TRUNG ƯƠNG<br /> Trần Quang Bính*.<br /> <br /> ĐẠI CƯƠNG<br /> Nhiễm siêu vi hệ thần kinh trung ương thể<br /> hiện trên lâm sàng có thể là viêm màng não,<br /> viêm não (viêm của nhu mô não) và viêm tủy<br /> (viêm của tủy sống). Tỉ lệ bệnh mới thực sự của<br /> loại nhiễm trùng này khó xác định vì chẩn đoán<br /> chưa được quan tâm đúng mức, nhiều trường<br /> hợp không được báo cáo, mặt khác do căn<br /> nguyên gây bệnh là các virus đặc hiệu chưa được<br /> xác định(6). Nhiễm siêu vi hệ thần kinh trung<br /> ương ít gặp và kết quả tương đối lành tính vì<br /> bệnh có thể tự giới hạn. Tuy vậy, nhiễm siêu vi<br /> hệ thần kinh trung ương vẫn có khả năng gây tử<br /> vong và tổn thương hệ thần kinh do mô não rất<br /> nhạy cảm với tình trạng rối loạn chuyển hóa và<br /> tổn thương thường hồi phục rất chậm và không<br /> hoàn toàn.<br /> Viêm màng não vô trùng (Aseptic<br /> meningitis) là một sự gọi tên nhầm lẫn thường<br /> gặp của viêm màng não siêu vi phản ánh tình<br /> trạng nhiễm virus gây ra viêm của các màng não<br /> thường lành tính tự giới hạn(3). Viêm não phản<br /> ánh tình trạng viêm của nhu mô não thường đi<br /> kèm với tình trạng giảm ý thức hoặc thay đổi về<br /> nhận thức và thường có những dấu hiệu thần<br /> kinh khu trú. Bệnh nhân thường được chẩn đoán<br /> viêm màng não hoặc viêm não trên cơ sở những<br /> đặc điểm nào chiếm ưu thế mặc dù viêm não<br /> màng não thường được dùng chung cho những<br /> trường hợp có triệu chứng trùng lắp. Những<br /> bệnh nhân viêm màng não có thể có cảm giác<br /> không thoải mái, li bì, nhức đầu dữ dội, nhưng<br /> chức năng não bộ bình thường. Trong viêm não,<br /> bất thường của chức năng não bộ thường gặp,<br /> gồm cả thay đổi tình trạng tâm thần, khiếm<br /> khuyết về chức năng vận động, cảm giác, rối<br /> loạn giọng nói và cử động. Động kinh và tình<br /> trạng sau cơn co giật có thể gặp trong viêm<br /> * Khoa Bệnh nhiệt đới – BV Chợ Rẫy<br /> Tác giả liên lạc: PGS.TS. Trần Quang Bính<br /> <br /> màng não đơn thuần, vì vậy không nên xem đây<br /> là chứng cứ xác định viêm não(6).<br /> Viêm não siêu vi có thể là viêm não tiên phát<br /> hoặc viêm não hậu nhiễm. Viêm não tiên phát có<br /> đặc trưng bằng sự xâm nhập của virus vào hệ<br /> thần kinh trung ương. Tổn thương của tế bào<br /> thần kinh có thể được xác định bằng xét nghiệm<br /> mô học, cho thấy gồm những thể dưới kính hiển<br /> vi quang học hoặc những tiểu thể virus dưới<br /> kính hiển vi điện tử. Virus thường được cấy từ<br /> mô não. Ngược lại, trong viêm não hậu nhiễm,<br /> virus có thể không được phát hiện và các tế bào<br /> thần kinh được nguyên vẹn. Tuy nhiên viêm<br /> quanh mạch và thoái hóa myelin là đặc điểm nổi<br /> bật trong bệnh cảnh này(3,6). Việc không có khả<br /> năng tìm lại virus và những bất thường về mô<br /> học quan sát được gợi ý viêm não hậu nhiễm là<br /> một bệnh qua trung gian miễn dịch. Mặc dù có<br /> sự khác biệt trong bệnh sinh và trên mô học, cả<br /> hai rối loạn này điển hình khó phân biệt trên lâm<br /> sàng. Một số lớn loại virus, ví dụ sởi, cũng có thể<br /> tạo ra những bệnh cảnh này. Diễn tiến bệnh và<br /> những triệu chứng phối hợp cung cấp những<br /> điểm mấu chốt chính về lâm sàng. Viêm não hậu<br /> nhiễm, ngược lại với viêm não siêu vi tiên phát,<br /> điển hình có thể xảy ra ngay khi nhiễm trùng<br /> ban đầu thuyên giảm hoặc có thể xuất hiện theo<br /> sau tình trạng dưới ngưỡng lâm sàng không thể<br /> đánh giá được trên bệnh nhân trước đó.<br /> <br /> DỊCH TỄ HỌC<br /> Viêm màng não siêu vi và viêm não màng<br /> não cấp đại diện cho hầu hết các nhiễm siêu vi<br /> hệ thần kinh trung ương và thường xảy ra ở<br /> những vùng dịch tễ và phân bố theo mùa. Căn<br /> nguyên và tần xuất xảy ra khác nhau theo phân<br /> bố địa lý và việc thực hành tiêm phòng(3).<br /> Các virus gây viêm màng não có thể là:<br /> <br /> ĐT: 0903841479<br /> <br /> <br /> <br /> Enteroviruses<br /> <br /> –<br /> <br /> coxsackie<br /> <br /> virus,<br /> <br /> Email: binhtq@hcm.vnn.vn<br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012<br /> <br /> 1<br /> <br /> Tổng Quan<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013<br /> <br /> echovirus, poliovirus<br /> <br /> <br /> Herpes simplex virus (HSV) types 1<br /> và 2 (HSV-1, HSV-2)<br /> <br /> <br /> <br /> Varicella-zoster virus<br /> <br /> <br /> <br /> Arboviruses<br /> <br /> <br /> <br /> Epstein-Barr virus<br /> <br /> <br /> <br /> HIV<br /> <br /> <br /> <br /> Influenza virus types A và B<br /> <br /> <br /> <br /> Virus quai bị (Mumps virus)<br /> <br /> <br /> <br /> Colorado tick fever virus<br /> <br /> <br /> <br /> Lymphocytic choriomeningitis virus<br /> (LCMV)<br /> <br /> <br /> <br /> Virus dại<br /> <br /> Tại Mỹ vào thập niên 1980, xuất độ hàng<br /> năm của viêm màng não siêu vi khoảng<br /> 10,9/100.000 dân(3). Do sự hạn chế về kỹ thuật<br /> chẩn đoán và tỉ lệ phân lập virus thấp, nên tỉ lệ<br /> này ước lượng ít nhất gấp 4 lần báo cáo thụ động<br /> của Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Hoa Kỳ<br /> (CDC) trong giai đoạn này. Kết quả của việc tiêm<br /> chủng mở rộng kháng lại virus quai bị và virus<br /> bại liệt đã làm giảm xuất độ nhiễm virus hệ thần<br /> kinh trung ương là kết quả của việc tiêm chủng<br /> mở rộng. Với sự tiến bộ rất nhanh của những kỹ<br /> thuật chẩn đoán sinh học phân tử, tỉ lệ phân lập<br /> hiện nay khoảng 50-86% và cung cấp những số<br /> liệu về dịch tễ học tin cậy hơn. Tương tự như<br /> viêm màng não siêu vi, số liệu báo cáo thụ động<br /> của viêm não siêu vi cũng dưới ngưỡng ước<br /> lượng. Ví dụ, ước lượng khoảng 20.000 trường<br /> hợp viêm não xảy ra mỗi năm tại Mỹ; nhưng<br /> CDC chỉ nhận từ 740 – 1340 (0,3/100.000 0,54/100.000) các trường hợp theo báo cáo hàng<br /> năm từ năm 1990 – 1994. Một nghiên cứu tiền<br /> cứu đa trung tâm ở Phần Lan, một vùng có tần<br /> xuất thấp của viêm não do Arbovirus, đã cho<br /> thấy xuất độ bệnh mới của viêm não khoảng<br /> 10,5/100.000(3).<br /> Ở Việt Nam, viêm não siêu vi gia tăng mạnh<br /> nhất trong mùa hè ở cả miền Bắc lẫn miền Nam<br /> khoảng từ tháng 5 đến 8. Thống kê năm 2008 cho<br /> thấy các tỉnh phía Bắc có tỉ lệ mắc viêm não virus<br /> <br /> 2<br /> <br /> cao nhất cả nước là 2,21/100.000 dân, và ở miền<br /> Nam là 1,25/100.000 dân. Tại miền Nam viêm<br /> não siêu vi xảy ra rải rác quanh năm, số mắc cao<br /> nhất vào năm 1980 với tỷ lệ 4,95/100.000 dân và<br /> tỷ lệ tử vong 27,46%, thưòng tập trung nhiều ở<br /> đồng bằng sông Cửu Long.<br /> Enterovirus gây ra khoảng 90% các trường<br /> hợp nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương (tại<br /> Mỹ và các nước có tiêm phòng quai bị), trong khi<br /> nhóm Arbovirus chiếm đa số các trường hợp còn<br /> lại. Enterovirus thuộc họ picornavirus, là các<br /> virus RNA không có vỏ bọc, nhỏ, với nhiều type<br /> huyết thanh khác nhau. Hơn 50 phân nhóm có<br /> liên quan đến viêm màng não. Coxsackie virus<br /> và echovirus là các virus thuộc nhóm<br /> enteroviruses, gây ra khoảng một nửa số trường<br /> hợp viêm màng não siêu vi. Một vài enterovirus<br /> (ví dụ: coxsackie virus B5, echovirus 6, 9, và 30)<br /> là các virus có thể gây bùng phát dịch viêm<br /> màng não, trong khi các virus khác (coxsackie<br /> A9, B3, và B4) phần lớn thường gây dịch. Ở một<br /> số nước trong vùng Tây Thái Bình Dương như<br /> Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia, Việt<br /> Nam, Enterovirus type 71 (EV71) gây bệnh tay<br /> chân miệng (hand-food-mouth disease) có thể<br /> gây biến chứng thần kinh nghiêm trọng như<br /> viêm não - màng não, viêm tủy giống bại liệt,<br /> viêm não có khả năng gây tử vong và di chứng<br /> nặng cho trẻ em (4). Tần xuất nhiễm enterovirus<br /> tăng vào mùa hè và đầu mùa thu. Sự lây truyền<br /> xảy ra do tiếp xúc tay- miệng, và ít hơn lây qua<br /> đường hô hấp và phân.<br /> Nhiễm virus Herpes simplex hệ thần kinh<br /> trung ương xảy ra không theo mùa, ảnh hưởng<br /> đến mọi tuổi và gây ra phần lớn các trường hợp<br /> tử vong do viêm não ở Mỹ. Cả hai loại virus<br /> Herpes, herpes môi (HSV-1) và herpes sinh dục<br /> (HSV-2), có thể gây ra viêm màng não ở trẻ em,<br /> đặc biệt là trẻ nhỏ. Những người trẻ hoạt động<br /> tình dục thường có nguy cơ nhiễm virus Herpes<br /> simplex type 2 hoặc nhiễm HIV, gây viêm màng<br /> não siêu vi(6). Virus Varicella-zoster, một loại<br /> virus Herpes khác có thể gây ra viêm não nhưng<br /> thường chỉ ở những người suy giảm miễn dịch.<br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013<br /> Virus quai bị là một nguyên nhân quan trọng<br /> gây bệnh ở hệ thần kinh trung ương ở những<br /> nước không được tiêm phòng kháng lại bệnh<br /> này(3). Hiện nay ở nhiều nước virus quai bị vẫn<br /> còn là một nguyên nhân thường gặp gây viêm<br /> màng não siêu vi. Virus lây lan qua dịch tiết<br /> đường hô hấp và xuất độ tăng vào mùa xuân.<br /> Trong một nghiên cứu gần đây tại Nhật Bản,<br /> nhiễm virus quai bị là nguyên nhân đứng hàng<br /> thứ hai gây ra viêm màng não siêu vi, chiếm<br /> khoảng 30% các trường hợp.<br /> Nhóm Arbovirus, là một nhóm hơn 500 RNA<br /> virus, là nguyên nhân gây viêm não hàng đầu<br /> trên thế giới. Viêm não xảy ra trên một số ít<br /> người nhiễm Arbovirus, nhưng tỉ lệ tử vong thay<br /> đổi cực lớn từ 5 – 70%, phụ thuộc vào căn<br /> nguyên virus và tuổi của bệnh nhân. Tỉ lệ bệnh<br /> mới của những virus truyền bệnh qua loài chân<br /> đốt thay đổi có ý nghĩa theo vùng địa lý.<br /> Arbovirus truyền bệnh theo mùa, viêm não có<br /> thể phát triển trong mùa hè và mùa thu thường<br /> do Arbovirus (virus gây viêm não St Louis, viêm<br /> não do virus Eastern equine hoặc Western<br /> equine). West Nile virus hoặc West Nile like<br /> virus, một flavivirus trước kia không gây nhiễm<br /> ở Mỹ, đã được tìm thấy và là nguyên nhân gây ra<br /> bùng phát dịch hơn 50 trường hợp liên quan đến<br /> muỗi ở thành phố New York vào cuối mùa hè<br /> năm 1999. Phân tích di truyền của virus này cho<br /> thấy có liên quan đến dòng của West Nile virus<br /> gần với những chủng virus phân lập trước đó ở<br /> Trung Đông. Những trường hợp nhiễm West<br /> Nile virus ở người đã được báo cáo ở 28 bang và<br /> quận Columbia ở Mỹ, với 737 trường hợp xảy ra<br /> vào đầu tháng 9 năm 2002. Bùng phát nhiễm<br /> West Nile virus cũng được báo cáo ở Âu Châu.<br /> Viêm não xảy ra vào mùa đông hoặc mùa xuân<br /> thường gây ra do những tác nhân sởi, quai bị,<br /> VZV.<br /> Virus viêm não Nhật Bản, thuộc dòng<br /> Flavivirus, xảy ra ở Châu Á và gây ra những vụ<br /> dịch ở Trung Quốc dù đã được tiêm chủng<br /> thường xuyên. Bệnh điển hình xảy ra ở trẻ em,<br /> mặc dù người trưởng thành không có tiền sử<br /> <br /> Tổng Quan<br /> <br /> phơi nhiễm với virus cũng có thể mắc bệnh.<br /> Bệnh có tỉ lệ tử vong cao và một nửa số người<br /> còn sống để lại những tổn thương thần kinh có ý<br /> nghĩa. Ở Việt Nam, viêm não Nhật Bản là bệnh<br /> thường gặp nhất, bệnh thường rất nặng, chủ yếu<br /> gặp ở trẻ em dưới 15 tuổi, tỉ lệ tử vong có thể lên<br /> tới 30% nếu không được điều trị kịp thời. Di<br /> chứng của viêm não Nhật Bản rất nghiêm trọng:<br /> có thể gây liệt, rối loạn tâm thần, thiểu năng trí<br /> tuệ, động kinh, điếc, mù... Thống kê ghi nhận có<br /> tới 50% bệnh nhân sau khi mắc viêm não Nhật<br /> Bản có di chứng từ nhẹ đến nặng. Tại TP. HCM,<br /> từ 64% - 69% hội chứng não cấp nhập viện có tác<br /> nhân gây bệnh là virus viêm não Nhật Bản, với<br /> tỷ lệ tử vong vào khoảng 16%.<br /> Virus dại vẫn còn ở một số vùng dịch tễ trên<br /> thế giới. Người nhiễm virus dại giảm nhiều<br /> trong cuối thập niên vừa qua tại Mỹ, từ 1-3<br /> trường hợp mỗi năm do việc chủng ngừa cho các<br /> gia súc trong nhà. Phơi nhiễm với dơi được biết<br /> nhiều hơn như một nguồn lây nhiễm: trong một<br /> nghiên cứu ghi nhận 15% (685/4470) dơi được<br /> xét nghiệm có mang virus dại. Từ 1990, những<br /> biến chủng của virus liên quan đến dơi chiếm<br /> khoảng 24 -32 trường hợp được ghi nhận. Trong<br /> phần lớn các trường hợp (22/24) không có bằng<br /> chứng của vết cắn, tuy nhiên có khoảng một nửa<br /> số trường hợp có tiếp xúc với dơi. Ở những nơi<br /> khác trên thế giới, những trường hợp viêm não<br /> do virus dại ở người được ghi nhận đến hàng<br /> ngàn và gây ra do những vết cắn của gia súc<br /> (chó, mèo) không được tiêm chủng và người<br /> bệnh có tiếp xúc với súc vật bị nhiễm.<br /> <br /> BỆNH SINH<br /> Virus tiếp cận hệ thần kinh trung ương bằng<br /> 2 đường chính là đường máu và thần kinh (8;3).<br /> Phần lớn các trường hợp viêm màng não virus<br /> xảy ra theo sau hiệu giá của virus trong máu cao<br /> thứ phát. Sự kết hợp những yếu tố của vật chủ<br /> và virus với những liên quan về dịch tễ học, địa<br /> lý và mùa tác động đến khuynh hướng tiến triển<br /> của nhiễm virus hệ thần kinh trung ương. Viêm<br /> màng não do enterovirus thường xảy ra trong<br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012<br /> <br /> 3<br /> <br /> Tổng Quan<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013<br /> <br /> mùa hè và những tháng đầu mùa thu phản ánh<br /> tình trạng nhiễm enterovirus tăng theo mùa.<br /> Nhiễm virus như trên là một ví dụ cho thấy sự<br /> khác biệt tình trạng sinh lý của vật chủ có vai trò<br /> xác định trong việc lan rộng bệnh do virus. Ở trẻ<br /> con < 2 tuần tuổi, nhiễm enterovirus có thể gây<br /> ra nhiễm trùng toàn thân nghiêm trọng, gồm<br /> viêm màng não, viêm não màng não, khoảng<br /> 10% trẻ sơ sinh nhiễm enterovirus toàn thân tử<br /> vong và hơn 75% trẻ để lại di chứng. Ở trẻ > 2<br /> tuần tuổi, nhiễm enterovirus hiếm khi liên quan<br /> đến bệnh nặng và bệnh tật có ý nghĩa.<br /> Lan tỏa virus theo đường máu vào hệ thần<br /> kinh trung ương liên quan đến nơi thâm nhập<br /> đầu tiên, lan rộng tại chỗ và việc nhân lên của<br /> virus, thường trong các hạch lympho khu vực<br /> (vd sởi, influenza …), sau đó virus vào hệ tuần<br /> hoàn (nhiễm virus máu) và cư trú tại những nơi<br /> xa hơn trong cơ thể. Một số trường hợp hiếm<br /> hơn, như nhiễm virus Herpes simplex sơ sinh<br /> lan tỏa, nhiễm siêu vi hệ thần kinh trung ương<br /> xảy ra trong giai đoạn nhiễm virus máu ban đầu,<br /> tuy nhiên phần lớn virus nhiễm vào mô trung<br /> gian như gan, lách, nhân lên tại đây và sau đó<br /> nhiễm siêu vi hệ thần kinh trung ương trong giai<br /> đoạn nhiễm virus máu thứ phát với hiệu giá cao<br /> kéo dài. Về khía cạnh sinh lý bệnh, sự chuyển<br /> vận virus từ máu vào não, virus hướng đến tế<br /> bào nội mô chưa được hiểu biết đầy đủ. Virus<br /> thâm nhập tế bào nội mô, thoát ra qua tổn<br /> thương nội mô, các kênh thụ động ngang qua<br /> nội mô (sự ẩm bào hoặc chuyển vận chất keo)<br /> hoặc cầu nối nội mô cùng với sự di chuyển của<br /> bạch cầu(3).<br /> Xâm nhập qua thần kinh ngoại biên trước<br /> đây được xem là đường duy nhất của nhiễm siêu<br /> vi hệ thần kinh trung ương. Tuy nhiên, những số<br /> liệu hiện nay xác định đường máu cũng là<br /> đường chính gây phần lớn những trường hợp<br /> nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương ở người.<br /> Virus Herpes simplex và virus dại thâm nhập hệ<br /> thần kinh trung ương bằng lan rộng theo dây<br /> thần kinh. Virus dại kinh điển nhiễm bằng<br /> đường thần kinh cơ và là kiểu đầu tiên cho thấy<br /> <br /> 4<br /> <br /> virus lan tỏa bằng đường thần kinh ngoại biên.<br /> Virus dại nhân lên trong mô mềm tại chỗ sau khi<br /> súc vật nhiễm dại cắn. Sau sự nhân lên của virus<br /> ban đầu, virus xâm nhập vào thần kinh ngoại<br /> biên qua gắn kết với các thụ thể acetylcholine.<br /> Một khi virus phát triển trong cơ, ngang qua trục<br /> thần kinh cơ hoặc xâm nhập ngang qua tận cùng<br /> tấm động (motor end plate). Virus chuyển vận<br /> ngang qua phía trước và sau của sợi trục xâm<br /> nhập vào tế bào thần kinh ở vùng thân não và hệ<br /> viền lymbic. Sau cùng virus lan tỏa đến não<br /> trung gian và cấu trúc hồi hải mã đến phần còn<br /> lại của não bộ gây tử vong cho con vật.<br /> Ở những bệnh nhân viêm não cấp, nhu mô<br /> não biểu hiện sự thực bào neuron và những tế<br /> bào chứa acid nucleic của virus hoặc các kháng<br /> nguyên. Những tổn thương giải phẫu bệnh<br /> thường đơn độc cho mỗi virus và phản ánh sự<br /> khác biệt trong bệnh sinh và độc lực. Ví dụ trong<br /> những trường hợp viêm não do virus Herpes<br /> simplex điển hình, hoại tử xuất huyết ở vùng<br /> giữa, dưới của thùy thái dương với những<br /> chứng cứ của các dải quanh mao mạch, thâm<br /> nhiễm tế bào lympho và có sự thực bào các<br /> neuron. Những mẫu bệnh phẩm giải phẫu bệnh<br /> ở động vật bị viêm não do virus dại cho thấy có<br /> sự tăng sinh các tế bào đệm, thâm nhiễm quanh<br /> mao mạch và phá hủy neuron.<br /> Một số virus không nhiễm trực tiếp vào hệ<br /> thần kinh trung ương nhưng làm thay đổi hệ<br /> thống miễn dịch và kết quả là tổn thương nhu<br /> mô não. Những bệnh nhân viêm não thường<br /> biểu hiện khiếm khuyết thần kinh khu trú và<br /> thay đổi tình trạng ý thức tạm thời với nhiễm<br /> virus gần đây (khoảng 1-2 tuần) hoặc sau tiêm<br /> chủng(3;6). Những mẫu bệnh phẩm giải phẫu<br /> bệnh trong khi có những chứng cứ hủy myelin<br /> về mô học hoặc phân tích X quang, không có<br /> bằng chứng xác định nhiễm virus hệ thần kinh<br /> trung ương bằng cấy hoặc các xét nghiệm kháng<br /> nguyên. Những bệnh nhân bị viêm não hậu<br /> nhiễm có sự khác biệt tinh tế trong hệ thống<br /> miễn dịch của họ. Một vài tác giả đề nghị phản<br /> ứng tự miễn là cơ chế bệnh sinh của bệnh. Viêm<br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013<br /> não hậu nhiễm xảy ra thường nhất với các virus<br /> sởi, varicella zoster, quai bị, influenza hoặc para<br /> influenza(3).<br /> <br /> LÂM SÀNG<br /> Biểu hiện lâm sàng của viêm màng não siêu<br /> vi không đặc hiệu, với sốt, nhức đầu, buồn nôn,<br /> nôn, đôi khi đi kèm theo sợ ánh sáng và cứng cổ.<br /> Khám thực thể điển hình có thể phát hiện những<br /> dấu hiệu cứng gáy. Thường thì không tìm thấy<br /> những dấu chẩn đoán nào trừ khi có những bất<br /> thường rõ ràng gợi ý một virus đặc hiệu (ví dụ:<br /> sưng tuyến mang tai do virus quai bị).<br /> Viêm não siêu vi có thể có biểu hiện tương<br /> tự, thường kết hợp với những biểu hiện thay đổi<br /> tình trạng tinh thần được phân độ từ những<br /> khiếm khuyết tinh tế đến hoàn toàn không đáp<br /> ứng. Những triệu chứng và dấu hiệu của kích<br /> thích màng não (sợ ánh sáng, cứng gáy) thường<br /> không có với viêm não đơn thuần, nhưng<br /> thường hiện diện trong viêm não màng não. Co<br /> giật thường gặp trong viêm não, những bất<br /> thường thần kinh khu trú có thể xảy ra, gồm cả<br /> yếu nửa người, liệt các dây thần kinh sọ, tăng<br /> phản xạ gân xương và các phản xạ bệnh lý khác.<br /> Vài đặc điểm lâm sàng đặc biệt thường gặp<br /> trong nhiễm virus West Nile, kiểu liệt lan tỏa,<br /> yếu và sự hiện diện của bệnh lý thần kinh ngoại<br /> biên không thường gặp trong những dạng khác<br /> của viêm não siêu vi, gợi ý nhiễm virus West<br /> Nile. Trong một nghiên cứu, ghi nhận tỉ lệ 27%<br /> có yếu cơ, 12% giảm các phản xạ, và 10% liệt<br /> mềm lan tỏa giống hội chứng Guillain Barre.<br /> HSV1 có ái tính đặc biệt với mô não ở vùng phía<br /> trong thùy thái dương và vùng dưới của thùy<br /> trán. Những tổn thương khu trú này tạo ra<br /> những đặc trưng tìm thấy trên lâm sàng là các<br /> hành vi bất thường, ảo khướu, và mất vận ngôn.<br /> <br /> Xét nghiệm dịch não tủy<br /> Kết quả dịch não tủy trong viêm màng não<br /> siêu vi và viêm não màng não nói chung không<br /> phân biệt được (mặc dù nếu có, rất ít, những bất<br /> thường trong dịch não tủy của viêm não đơn<br /> thuần). Đặc trưng sau đây có thể gặp trong dịch<br /> <br /> Tổng Quan<br /> <br /> não tủy của nhiễm siêu vi hệ thần kinh trung<br /> ương: tăng bạch cầu, nhưng thường dưới<br /> 250/mm3; lymphô bào chiếm ưu thế, mặc dù<br /> nhiễm virus ở giai đoạn sớm có thể có neutrophil<br /> ưu thế nhưng chọc dò dịch não tủy 8 giờ sau đó<br /> thường cho thấy có sự chuyển đổi từ neutrophil<br /> sang lymphocyte; tăng nồng độ proteine nhưng<br /> thường dưới 150mg/dL; nồng độ glucose thường<br /> lớn hơn 50% giá trị glucose máu, giá trị này giảm<br /> vừa phải thỉnh thoảng gặp trong nhiễm HSV,<br /> quai bị, một số Enterovirus và LCM; tế bào hồng<br /> cầu thường không có, sự hiện diện của hồng cầu<br /> trong dịch não tủy gợi ý tình trạng nhiễm HSV1<br /> hoặc một vài loại virus viêm não khác. Những<br /> kết quả này thường khác biệt với kết quả dịch<br /> não tủy trong viêm màng não do vi trùng, với<br /> bạch cầu trong dịch não tủy tăng cao<br /> (>2000/mm3) và neutrophil chiếm ưu thế, nồng<br /> độ proteine tăng cao (>200mg/dL), và thường có<br /> đường trong dịch não tủy thấp.<br /> <br /> CHẨN ĐOÁN<br /> Về lâm sàng cần nhớ những điểm sau:<br /> những biểu hiện lâm sàng và kết quả của dịch<br /> não tủy tìm thấy trong nhiều bệnh trị liệu được<br /> tương đối không đặc hiệu và có thể tương tự với<br /> bệnh cảnh do nhiễm virus; vì vậy những nguyên<br /> nhân không phải do nhiễm virus phải luôn luôn<br /> được xét đến như lao, giang mai, những thuốc<br /> gây ra viêm màng não cảm ứng. Trường hợp<br /> lâm sàng không thể giải thích các triệu chứng<br /> thần kinh do các nguyên nhân không phải virus,<br /> tiếp cận chẩn đoán và trị liệu nhiễm virus hệ<br /> thần kinh trung ương nên được xét đến theo<br /> những cách sau: xem xét các hội chứng lâm sàng<br /> (viêm màng não vô trùng với viêm não), tuổi của<br /> bệnh nhân và mùa. Khai thác các chi tiết về tiền<br /> căn đi du lịch và bệnh sử có phơi nhiễm với các<br /> tác nhân gây bệnh. Ví dụ đi bộ vào những vùng<br /> đầm lầy hoặc rừng có nhiều quần thể mạt (tick)<br /> có thể gợi ý bệnh Lyme hoặc sốt đốm Rocky<br /> mountain. Tiếp xúc gần với những cá nhân đặc<br /> biệt trẻ em với bệnh lý màng phổi, viêm dạ dày<br /> ruột, viêm tuyến mang tai, hoặc sốt phát ban có<br /> thể gợi ý nhiễm enterovirus(6). Tìm kiếm các mấu<br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012<br /> <br /> 5<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2