
tin
Nuôi cá tra sạch
Diện tích từ 500m2, mức
nước sâu từ 1,5 – 2m, nhiệt
độ trung bình dao động 26 –
30 độ C, độ phèn pH thích
hợp 7 – 8, hàm lượng Oxy
hòa tan > 3mg/l. Nguồn
nước cấp sạch và thể hiện các thông số môi trường dưới
mức giới hạn cho phép: NH3 – N < 1mg/l; Coliform <
10.000 MPN/100 ml; chì (kim loại nặng): 0,002 – 0,007
mg/l; cadmi: 0,80 – 1,80 Mg/l. Công tác cải tạo, xử lí được
thực hiện như một ao cá thông thường. Cá giống đưa v
ề cần
tắm nước nuối 2 – 3% trong thời gian 3 – 5 phút. Mật độ
thả đối với cá 10 – 12 cm(15 -17g/con) từ 20 – 30 con/m
vuông. Về thức ăn nếu dùng thức ăn công nghiệp, 2 tháng
đầu nên cho cá ăn loại thức ăn có hàm lượng từ 28 – 30%.
Các tháng tiếp theo giảm dần hàm lượng xuống 25%. Hai
tháng cuối sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm 22%. Đối
với thức ăn tự chế biến có thể dùng công th
ức sau: cám gạo

40%; cá vụn, đầu, ruột cá: 59%; permix khoáng 1%,
vitamin C 10mg/kg th
ức ăn hoặc công thức: cám gạo: 49%,
bột cá: 50%, permix và vitamin C như công thức 1. Các
nguyên liệu được xay nhuyễn, trộn chất kết dính như bột
mì… nấu chín, vo thành viên. Cho cá ăm hai lần sáng 8
gi
ờ, chiều 1 giờ. Khẩu phần ăn đối với thức ăn công nghiệp
là 2,2 – 2,5 %, đối với thức ăn chế biến 5 – 7% so v
ới trọng
lượng thân cá. Với thức ăn tự chế biến, các nguyên li
ệu cần
được kiểm tra và bảo quản tốt, tránh ẩm, mốc. Sử dụng chế
phẩm sinh học, kết hợp với việc sục khí đáy ao, hạn chế
việc thay nước thường xuyên. Việc sục khí đáy được thực
hiện từ 12 giờ đêm đến 6 giờ sáng hôm sau; định kì 4 –
7ngày dùng vôi nông nghiệp hoặc vôi Dolomite với lượng
1- 2kg/100m2 ao. Vôi được hòa vào muối và tạt đều khắp
ao nuôi, chế độ thay nước được thực hiện 5 – 7 ngày/lần,
sau khi thay nước, tiến hành bón chế phẩm sinh học ngay.
Lượng nước thay từ 50 – 60%, men vi sinh có thể d
ùng như
BRF2, EM, Deorei…Để nuôi cá thu được sản phẩm thịt
trắng cần chú ý hạn chế sử dụng nguyên liệu thức ăn là rau
xanh, chất kết dính là bột lá gòn, bắp, bí đỏ, cua
đồng….nếu sử dụng các nguyên liệu này cần thiết phải qua

giai đoạn ủ kín từ 2 – 3 ngày trước khi mang đi nấu chín.
Nuôi cá tra sạch ngoài các tiêu chuẩn về môi trường, chất
lượng giống, thì việc kiểm soát đầu vào các nguyên liệu
làm thức ăn, bảo quản và các công đoạn tiền chế biến rất
quan trọng. Men vi sinh hạn chế sự ô nhiễm và hạn chế sử
dụng các loại thuốc, kháng sinh góp phần nâng cao phẩm
chất và giá trị dinh dưỡng cho đối tượng cá này, sau 6
tháng nuôi. Hiện nay cá tra thịt trắng đang được giao dịch
trên thị trường hàng hóa với giá từ 14.000 –
16.000đ/kg. Hi
vọng rằng, những gì chúng tôi trình bày cùng quý bà con s
ẽ
thông tin và trang bị thêm kỹ thuật và đối tượng nuôi góp
phần đa dạng hóa vật nuôi thủy sản, tăng hiệu quả kinh tế
trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong sản xuất
thủy sản nói riêng.
ết bản tin
NUÔI TÔM SÚ SẠCH – MÔ HÌNH THUỶ SẢN BỀN
VỮNG
Hiện nay, hầu hết các mô hình nuôi tôm sú công nghiệp,
bán công nghiệp mà chúng ta đang áp dụng ít nhiều đều có

sự lạm dụng các loại hoá chất, thuốc men, chế phẩm sinh
học… Với các mô hình nuôi tôm sú có sử dụng hệ thống
quạt nước, có mật độ thả nuôi trên 40 con/m2, cỡ giống
P.15 thì gần như 100% các công đoạn, từ cải tạo ao, xử lý
ao, nuôi tạo màu nước, đến cho ăn và điều tiết các yếu tố
môi trường… đều có sự hiện diện của hoá chất, chế
phẩm… Chưa kể đến việc các ao nuôi ở vụ trước đã b
ị dịch
bệnh, hoặc trong vùng dịch bệnh, rồi khoảng cách giữa các
vụ nuôi… thì môi trường trong ao, nguồn nước đã bị ô
nhiễm nặng nề bởi các hoá chất và chế phẩm công nghiệp.
Trên thực tế, việc sử dụng hoá chất và chế phẩm phục vụ
ao nuôi ngày càng tăng về số lượng theo từng vụ nuôi, dẫn
đến tình trạng “ lờn hoá chất, chế phẩm”. Vì, ngoài sự hấp
thu tự nhiên vào nước, vào đất ao nuôi (môi trường nuôi),
phần còn lại sẽ dược hấp thu vào đối tượng nuôi. Trải qua
nhiều vụ nuôi, lượng hoá chất, chế phẩm tăng tỷ lệ thuận
với số lần xử lý hàng ngày, hàng kỳ. Kết quả, sau thời gian
dài khai thác, môi trường nuôi ngày một đặc quánh các chế
phẩm sinh học cùng hoá chất. Và, lượng hoá chất được hấp
thu vào con tôm sú gần như tương đương với lượng hoá

chất trong môi trường nuôi của chúng. Như vậy, lấy đâu ra
sản phẩm sạch cho tiêu dùng?
Để phát triển các mô hình thuỷ sản theo hướng bền vững
– an toàn, cần chủ động phòng tránh các lo
ại dịch bệnh, bảo
vệ môi trường nuôi để tạo ra nguồn sản phẩm sạch và thực
sự an toàn cho con người và môi trường sống. Việc phát
triển các mô hình nuôi trồng thuỷ sản cần:
+ Xây dựng thiết kế các ao nuôi hoàn chỉnh, gồm: Hố
thoát cặn đặt giữa ao nuôi có đường kính từ 20 – 30m, sâu
hơn đáy ao từ 0,2 -0,5m và có ống dẫn ra ngoài ao. Bố trí
các ao c
ần cân nhắc, phân phối theo tỷ lệ, ao nuôi chiếm 60
-70%, khu ao lắng đọng chất thải chiếm 10%, hồ chứa nư
ớc
hỗn hợp 5 -20%, hồ chứa nước đầu vào 15 – 20%. Nước
đầu vào được bơm vào ao và giữ trong hệ thống. Riêng
nguồn thải được dẫn ra ao xử lý thải, rồi dẫn qua ao lắng.
(Chất thải từ ao nuôi tôm chia làm 2 loại cơ bản là chất
dinh dưỡng và chất rắn lơ lửng. Hai chất này là hai chất
làm suy biến thuỷ vực vùng nuôi và môi trường quan hệ).
Từ ao lắng, nước được đưa qua hồ chứa, chờ bơm lại vào
ao nuôi.

