intTypePromotion=1

Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Chia sẻ: Quang Ha | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:61

0
363
lượt xem
83
download

Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một chế định quan trọng trong pháp luật HN & GĐ không chỉ trong pháp luật quốc gia mà còn trong pháp luật quốc tế. Pháp luật về nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài được cả cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm vì đó là sự bảo vệ pháp lý rất cần thiết đối với những lợi ích tốt nhất cho trẻ em, những đối tượng không chỉ non nớt về mặt thể chất và trí tuệ mà cũn cú những hoàn cảnh éo le, mất mát...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

  1. 1 LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài. Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một chế định quan trọng trong pháp luật HN & GĐ không chỉ trong pháp luật quốc gia mà còn trong pháp luật quốc tế. Pháp luật về nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài được cả cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm vì đó là sự bảo vệ pháp lý rất c ần thiết đối với những lợi ích tốt nhất cho trẻ em, nh ững đối tượng không ch ỉ non nớt về mặt thể chất và trí tuệ mà cũn cú những hoàn cảnh éo le, mất mát lớn về tình cảm, không được hưởng mái ấm gia đình trên quê h ương của mình. Đối với Việt Nam, một đất nước phải gánh chịu hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh thì việc bảo vệ các quy ền cơ bản c ủa trẻ em, trong đó có quyền được làm con nuôi, được chăm sóc nuôi dưỡng đối với những đứa trẻ bất hạnh, là điều luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và bảo đảm thực hiện. Hiện nay do nhu cầu hội nhập, với chính sách khuyến khích, mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới, việc nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài ở Việt Nam ngày càng gia tăng, song hiện tượng nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài có những diễn biến đa dạng và phức tạp. Ngoài bản chất và mục đích cao đẹp của việc nuôi con nuôi là nhằm xây dựng mối quan hệ gia đình, thiết lập quan hệ cha mẹ và con giữa ng ười nhận nuôi với đứa trẻ được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho đứa trẻ có cuộc sống tốt hơn, cũng còn xuất hiện những việc làm phi đạo đ ức, l ợi dụng danh nghĩa cho trẻ em làm con nuôi đÓ thu gom, môi gi ới, d ẫn dắt mua bán trẻ em, nhằm mục đích kiếm lời. Những hiện t ượng đó c ần kh ắc phục, pháp luật cần có sự điều chỉnh sát thực, hiệu quả. Pháp luật về nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài còn thiếu nh ững quy đinh để điều chỉnh các quan hệ nuôi con nuôi đầy phức tạp, nhiều biến Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
  2. 2 động và bộc lộ những điểm chưa phù hợp với pháp luật quốc tế. Quy phạm điều chỉnh nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài được quy định trong nhiều văn bản nên thiếu đồng bộ và thống nhất, hiệu lực pháp lý không cao, khó áp dụng và tiếp cận trong thực tế. Đòi hỏi của cuộc sống hiện nay là phải có sự sửa đổi, bổ sung để hoàn chỉnh pháp luật về nuôi con nu ụi cú yếu tố nước ngoài nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu của th ực tiễn khách quan. Từ những lý do khách quan về lý luận và thực tiễn trên, em đã suy nghĩ và lựa chọn đề tài “Thực tiễn áp dụng pháp luật về nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay ” làm luận văn tốt nghiệp Đại học. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài. + Mục đích nghiên cứu: - Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản v ề pháp lu ật nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài. - Làm sáng tỏ thực trạng áp dụng pháp luật về nuôi con nu ụi cú y ếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về nuôi con nuụi cú yếu tó nước ngoài, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn khách quan và nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật hiện hành. + Luận văn giải quyết những nhiệm vụ sau : - Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài, tìm hiểu các quy định của pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế liên quan đến điều chỉnh việc nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài. - Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp lu ật v ề nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, làm rõ những mặt thuận lợi và những khó khăn, vướng mắc, tồn tại. - Tìm hiểu những nét đặc thù, thủ tục và vấn đề áp dụng pháp luật về nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài diễn ra ở khu vực biên giới. Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
  3. 3 - Trên cơ sở đó làm rõ sự cần thiết phải sửa đổi bổ sung hoàn thi ện pháp luật về nuôi con nuôi cho phù h ợp với thực ti ễn khách quan và t ương đồng với pháp luật quốc tế. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài. + Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực tiễn áp dụng và thực hiện pháp luật nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở nghiên cứu quy định của pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế có liên quan đến lĩnh vực này. + Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian qua (2000-6/2008), bao gồm việc nuôi con nuụi cú y ếu tố nước ngoài đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam (cả việc nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài diễn ra ở khu vực biên giới), và việc nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài được thực hiện tại Việt Nam. Luận văn có sự so sánh đối chiếu với pháp luật nước ngoài (cụ thể là m ột s ố nước cú liờn quan trong việc cho nhận con nuôi). 4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu. + Cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và tư tưởng Hồ Chí Minh . + Phương pháp nghiên cứu gồm: - Phương pháp lịch sử: Sử dụng để làm rõ sự hình thành và phát tri ển của pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài trong từng thời kỳ lịch sử. - Phương pháp so sánh, đối chiếu: Thông qua việc so sánh, đ ối chi ếu với pháp luật các nước, đưa ra những nhận xét về sự phù hợp và ch ưa phù hợp của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, làm cơ sở cho các kiến nghị về việc hoàn thiện pháp luật trước yêu cầu của thực tiễn khách quan. Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
  4. 4 - Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng để phân tích nh ững tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp d ụng pháp luật về nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài. Qua đó rút ra những khó khăn, tồn tại của hệ thống pháp luật hiện nay về nuôi con nuôi có y ếu t ố nước ngoài. 5. Kết cấu cơ bản của luận văn. Luận văn được trình bày theo bố cục gồm ba chương ngoài ph ần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo như sau : Chương 1 : Một số vấn đề lý luận chung về pháp luật nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài. Chương 2 : Tình hình áp dụng pháp luật nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay. Chương 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay. Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
  5. 5 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT NUÔI CON NUễI Cể YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái niệm nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài. Theo quan điểm chung, nuôi con nuôi được hiểu là việc trẻ em đi làm con nuôi ở một gia đình khác trong cùng một nước hay ở nước ngoài, nh ằm mục đích xác lập mối quan hệ cha mẹ với con giữa người nuôi và con nuôi với mục đích đảm bảo cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, phù hợp với đạo đức xã hội. Nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài là một trong các quan h ệ Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Theo quy định tại đi ểm c kho ản 14 Đi ều 8 luật HN & GĐ năm 2000, thì nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài có th ể hiểu là: - Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; - Việc nuôi con nuôi giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam; - Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ở nước ngoài; - Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài. Như vậy, nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nu ụi cú ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài hoặc việc nuôi con nuôi được xác lập ở nước ngoài và theo pháp luật nước ngoài. Ngoài ra theo khoản 3 Điều 79 Nghị định 68/2002/NĐ-CP và Đi ều 1 Thông tư 07/2002/TT-BTP cũng được coi là việc nuôi con nuụi cú y ếu tố nước ngoài trong trường hợp trẻ em là người không quốc tịch th ường trú tại Việt Nam. Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
  6. 6 Khái niệm này đã nêu lên việc xác lập quan hệ giữa cha m ẹ và con bằng con đường nuôi dưỡng để phân biệt với việc hình thành quan h ệ giữa cha mẹ và con trên cơ sở huyết thống. Nếu như quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con đẻ là quan hệ gia đình “ huyết thống” được hình thành do việc sinh đẻ, thì quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi là quan hệ “ nhân tạo” được xác lập về mặt pháp lý. Một quan hệ nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài chỉ được xác lập khi có sự tham gia cùng một lúc của hai ch ủ th ể, có kh ả năng và điều kiện thực hiện các quyền chủ thể tương ứng, đó là “ chủ thể nhận nuôi con nuôi” (cha mẹ nuôi) và “chủ thể được nhận làm con nuôi” (con nuôi). 1.2 Ý nghĩa của việc nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài. Giải pháp nuôi con nuôi nước ngoài là giải pháp cuối cùng và gi ải pháp này có lợi là đem lại một gia đình ổn định cho trẻ em trong tr ường h ợp không thể tìm được gia đình thích hợp cho trẻ em ngay tại nước mình. Việc trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài giảm gánh nặng cho các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em mà vẫn đảm bảo được lợi Ých tốt nh ất cho trẻ; mặt khác điều đó phù hợp với chính sách mở rộng quan h ệ đ ối ngoại của nước ta, đáp ứng nhu cầu hội nhập và giao lưu qu ốc t ế. Vì v ậy, việc nuôi con nuôi có yÕu tố nước ngoài cũng th ể hiện mục đích nhân đ ạo cao đẹp, đáp ứng nhu cầu tình cảm của con người, dù khác nhau về ngôn ngữ, phong tục tập quán… Đối với bản thân đứa trẻ, việc được nhận làm con nuôi có ý nghĩa sâu sắc làm thay đổi cơ bản số phận của đứa trẻ. Đứa trẻ được làm con nuôi sẽ được sống trong môi trường gia đình thuận lợi để phát triển hài hoà về thể chất, nhân cách và tinh thần với sự “ yêu thương, thông cảm” trong mét gia đình theo đúng nghĩa của nó. Đồng thời việc nuôi con nuôi t ạo đi ều kiện cho trẻ được nhận nuôi có điều kiện sống tốt hơn, đặc biệt đối với đứa trẻ bị tàn tật, khuyết tật, có bệnh hiểm nghèo có đi ều ki ện ch ữa tr ị phục hồi chức năng tốt hơn. Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
  7. 7 Đối với người nhận nuôi, việc nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi đem lại cho người nhận nuôi mét đứa con phù hợp với ý chí, nguy ện v ọng của mình, và tăng cường được mối quan hệ gắn bó giữa h ọ với Vi ệt Nam. Đó là những nguyện vọng chính đáng đối với những cặp vợ chồng vô sinh, với những người giàu lòng nhân ái… Nh vậy, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là phương th ức th ực hiện quyền làm cha mẹ, làm con cái một cách hợp pháp, qua đó kết h ợp hài hoà lợi Ých của các bên: Người nhận nuôi và người được nhận nuôi. 1.3 Pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài. 1.3.1 Một số đặc trưng cơ bản của pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, việc nuôi con nuụi cú những đặc điểm riêng, phản ánh các điều kiện về kinh tế xã hội, lịch s ử của th ời kỳ đó. Pháp luật điều chỉnh nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài có nh ững đ ặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, về đối tượng điều chỉnh. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật nuôi con nuụi có yếu tố nước ngoài phức tạp bởi yếu tố nước ngoài: Yếu tố nước ngoài khác nhau tùy thuộc vào từng trường hợp khác nhau, có thể là chủ thể, pháp luật áp d ụng, sự kiện pháp lý… Việc xác định đúng yếu tố nước ngoài rất quan trọng, nhằm xác định thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi, giải quyết các tranh chấp phát sinh, xác định pháp luật cần áp dụng, bảo vệ quy ền, lợi ích chính đáng c ủa cỏc bờn. Thứ hai, Về phương pháp điều chỉnh, cũng như các quan hệ khác, quan hệ nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài cũng có hai ph ương pháp đi ều chỉnh đó là phương pháp xung đột và phương pháp thực chất. Phương pháp xung đột (hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh gián tiếp) là phương pháp sử dụng quy pham xung đột, không trực ti ếp quy đ ịnh Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
  8. 8 quan hệ nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài này sẽ được điều chỉnh như thế nào, mà chỉ ấn định việc lựa chọn quy định pháp luật nước nào c ần được áp dụng để điều chỉnh quan hệ cụ thể đó. Quy phạm xung đ ột đ ược ghi nhận cả trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, ví dụ Điều 30 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Balan quy đ ịnh “ Việc nhận nuôi con nuôi phải tuân theo pháp luật của nước mà người nhận nuôi là công dân”. Phương pháp thực chất (hay còn gọi là phương pháp điều ch ỉnh trực tiếp) là phương pháp sử dụng quy phạm thực chất, quy định trực tiếp quyền và nghĩa vụ của cỏc bờn chủ thể khi tham gia vào quan h ệ pháp lu ật nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài. Quy phạm thực chÊt cũng được quy định cả trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế. Thứ ba, pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài luôn gắn chặt với chính sách đối ngoại. Vì việc nuôi con nuôi m ở rộng không gian lãnh thổ liên quan đến yếu tố chủ quy ền quốc gia cũng như mối quan hệ về mặt tình cảm giữa người với người; việc nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài còn ảnh hưởng rất lớn đến chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia, là quan hệ về mặt tình cảm song lại có ảnh hưởng sâu sắc đến chính trị. Thứ tư, pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài đề cao vấn đề nhân quyền, bảo vệ quyền con người trước hết là bảo vệ quyền lợi của trẻ em. Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn b ản pháp lu ật để bảo vệ lợi ích của trẻ, quán triệt tư tưởng nhân loại phải dành cho trẻ em cái tốt nhất mà mỡnh cú. Điều 21 Công ước về quy ền trẻ em quy định: “Các quốc gia thành viên công nhận hoặc cho phép chế độ nhận làm con nuôi phải đảm bảo rằng những lợi ích tốt nhất của đứa trẻ phải là quan tâm cao nhất…”. Phù hợp với tinh thần của Công ước, Luật HN & GĐ Việt Nam khẳng định, mục đích của việc nuôi con nuôi nhằm xây dùng tình cảm giữa người nuôi và con nuôi trong việc xác lập quan h ệ cha m ẹ và con cái, Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
  9. 9 “đảm bảo cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội” (Điều 67). Tuy Việt Nam chưa tham gia Công ước Lahaye 1993, nhưng các quy định trong các văn bản pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi có y ếu tố nước ngoài đã tiếp cận, cố gắng thể hiện tinh thần và phù hợp với yêu c ầu của Công ước Lahaye. Những quy định đều hướng tới bảo vệ tốt nh ất l ợi ích của trẻ em. Thứ năm, pháp luật điều chỉnh nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài điều chỉnh quan hệ cha mẹ - con không dựa trên cơ sở huy ết th ống v ới mục đích hình thành một gia đình mới giống như gia đình sinh thành của trẻ. Đây là quan hệ mang tính đặc thù vỡ cú s ự khác bi ệt v ề ngôn ng ữ, phong tục tập quỏn…Yờu cầu đặt ra là sự điều chỉnh của pháp luật phải rõ ràng, chặt chẽ, cụ thể; cần có cơ chế phối hợp và bảo vệ giữa các nước có liên quan bằng Hiệp định song phương, đa phương. Mục đích cốt y ếu là bảo đảm lợi ích của cỏc bờn, đặc biệt là của trẻ em. 1.3.2 Hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam đi ều ch ỉnh việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. * Những văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến điều chỉnh quan hệ nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài . Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, vấn đề nuôi con nuôi giữa công dân các nước ngày càng phát triển đòi hỏi sự quan tâm của chính phủ các nước. Pháp luật các quốc gia cũng như pháp luật quốc tế đều th ống nh ất công nhận rằng “ trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý tr ước cũng như sau khi ra đời” [6]. Do sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội, quy định riêng biệt của pháp luật từng nước nên xung đột pháp luật trong quá trình giải quyết việc nuôi con nu ụi cú y ếu t ố n ước ngoài là điều không thể tránh khỏi. Để khắc phục điều đó trong quá trình hợp tác và phát triển, đó cú khá nhiều Điều ước quốc tế đa phương và song Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
  10. 10 phương nhằm điều chỉnh kịp thời các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế. Những văn bản pháp luật quốc tế về nuôi con nuôi bao gồm : Tuyên bố của Liên hiệp quốc về các nguyên tắc xã hội và pháp lý liên quan đến việc bảo vệ và phúc lợi trẻ em, đặc biệt là thu xếp nuôi con nuôi ở trong và ngoài nước (thông qua ngày 3.12.1986); Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (thông qua ngày 20.11.1989, có hiệu lực ngày 2.9.1990); Công ước LaHay số 33 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi nước ngoài (thông qua ngày 29.5.1993, có hiệu lực ngày 1.5.1995). Tuyên bố của liên hợp quốc về các nguyên tắc xã h ội và pháp lý liên quan đến việc bảo vệ và phúc lợi trẻ em, đặc biệt là vi ệc thu x ếp nuôi con nuôi ở trong và ngoài nước. Tuyên bố này đã nêu rõ : Mục đích hàng đầu của việc nuôi con nuôi là đem lại cho những trẻ em không thể được cha mẹ đẻ chăm sóc được một gia đình bền lâu (Điều 13). Tuyên bố này cũng khẳng định việc cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài chỉ là biện pháp thay thế để đảm bảo cho các em có một mái ấm gia đình khi không th ể thu x ếp cho các em được nhận nuôi trong gia đình hay được chăm sóc phù hợp tại quốc gia gốc của các em (Điều 17). Công ước quốc tế về quyền trẻ em : Đây là văn bản quốc tế đầu tiên quy định một cách toàn diện nhất về quyền của trẻ em. Công ước đã quy định các nguyên tắc cơ bản mà các quốc gia thành viên phải thực hiện nhằm đảm bảo các quyền cơ bản của trẻ em. Vấn đ ề nuôi con nuôi qu ốc tế được đề cập đến tại Điều 20 và Điều 21 của Công ước. Đây là nh ững cơ sở pháp lý cho việc nuôi con nuôi quốc tế và là cơ sở để xây d ựng các văn bản pháp luật về nuôi con nuôi quốc tế, cũng nh ư đi ều ch ỉnh quan h ệ nuôi con nuôi ở các quốc gia thành viên. Công ước LaHay số 33 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi nứơc ngoài. Đây là Công ước liên quan trực tiếp nh ất đ ến v ấn đ ề nuôi con nuôi. Công ước đã quy định những nguyên tắc chung, phạm vi c ủa Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
  11. 11 công ước; những yêu cầu đối với việc nuôi con nuôi nước ngoài, th ủ tục cho – nhận con nuôi nước ngoài; vấn đề công nhận và hậu quả của việc nuôi con nuôi; quy định của các cơ quan trung ương có thẩm quyền và các tổ chức được uỷ quyền; trách nhiệm của quốc gia thành viờn…Cụng ước Lahay là Điều ước quốc tế đa phương về nuôi con nuôi quốc tế. Việc tham gia Công ước này tạo điều kiện thuận lợi cho các quốc gia trong việc b ảo vệ trẻ em và hợp tác giải quyết các vấn đề phát sinh trong lĩnh v ực con nuôi quốc tế. Bên cạnh đó, hiện tượng xung đột pháp luật trong quá trình giải quyết việc nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài là điều không tránh khỏi. Để giải quyết những xung đột pháp luật đó, để điều ch ỉnh t ốt quan h ệ nuôi con nuôi giữa nước ta với các nước, Việt Nam đã ký kết một s ố Hi ệp định song phương về nuôi con nuôi với một số nước. Ngoài ra, quan h ệ nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài còn được điều ch ỉnh qua các Hi ệp định tương trợ tư pháp và pháp lý, Hiệp định lãnh s ự gi ữa n ước ta v ới các nước. Hiệp định TTTP&PL liên quan đến vấn đề nuôi con nuôi : Hiệp định tương trợ tư pháp là hình thức pháp lý ngày càng có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh quan hệ nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài. Các Hi ệp định này đều quy định việc xác định thẩm quy ền giải quy ết nuôi con nuôi; quy định nguyên tắc áp dụng pháp luật để điều ch ỉnh quan h ệ nuôi con nuôi giữa công dân của các nước ký kết là nguyên tắc luật quốc tịch của người nhận nuôi, ngoài ra một số Hiệp định điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi theo nguyên tắc Luật quốc tịch của con nuôi. Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi phát huy hiệu quả cao nh ất trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Hiện nay có 16 HĐHTNCN đã được ký k ết, n ội dung cơ bản của các Hiệp định này là : - Đảm bảo nguyên tắc bảo vệ trẻ em; Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
  12. 12 - Quy định về thủ tục giải quyết việc cho nhận con nuôi gi ữa các nước; - Quy định nguyên tắc áp dụng pháp luật và thẩm quyền quy ết định việc cho nhận con nuôi; - Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi; - Nghĩa vụ hợp tác: Các nước ký kết cam kết thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ trẻ em, trao đổi thông tin và phối hợp thực hiện hợp định. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi nước ngoài ở Việt Nam những năm qua đã mang lại hiệu quả cao. Việc nuôi con nuụi cú y ếu t ố nước ngoài được đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và đảm bảo tuân thủ pháp luật của c ả hai n ước: n ước g ốc và nước nhận. Điều đó đã góp phần đảm bảo tính nhân đ ạo, lành m ạnh của việc cho nhận con nuôi, khắc phục hiện tượng l ợi d ụng vi ệc nuôi con nuôi vào những mục đích trục lợi. * Hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh việc nuôi con nuụi cú yếu t ố nước ngoài. Sự hình thành và phát triển của quan hệ nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài gắn liền với điều kiện hoàn cảnh lịch sử, kinh tế – xã hội t ừng th ời kỳ. Từ khi Nhà nước phong kiến Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời pháp luật về nuôi con nuôi về nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài có thể xem xét qua các giai đoạn sau: - Giai đoạn từ 1945 – 1959. Pháp luật trong nước về quan hệ HN & GĐ có yếu t ố nước ngoài trong đó có quan hệ nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài còn hết sức đơn giản, chưa tập hợp thành hệ thống, chưa điều chỉnh đầy đủ các quan hệ đó. Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài chưa được điều chỉnh riêng biệt. Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
  13. 13 - Giai đoạn từ 1959 – 1986. Xuất phát từ tình hình thực tế của quan hệ hôn nhân và gia đình trong thời kỳ mới, luật hôn nhân và gia đình đã được Quốc h ội thông qua t ại kỳ họp thứ XI ngày 29/12/1959 và được Chủ tịch nước ký sắc lệnh số 02/SL công bố ngày 13/01/1960. Vấn đề nuôi con nuôi được quy định ngay trong Luật HN & GĐ đầu tiên của nước ta (Luật hôn nhân và gia đình năm 1959), nhưng nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài vẫn chưa được ghi nhận trong luật. Sau khi thống nhất đất nước (1975), quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước ngày càng được mở rộng. Việt Nam đã tiến hành đàm phán và ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp với Cộng hòa dân ch ủ Đ ức (1980), Liờn Xụ (1981), Tiệp Khắc (1982), CuBa (1984), Hungary (1985), Bungari (1986). Các Hiệp định tương trợ tư pháp đã điều chỉnh khá toàn diện các vấn đề hôn nhân và gia đình, trong đó có vấn đề nuôi con nuôi cã y ếu t ố nước ngoài. - Giai đoạn 1986 – 2000. Ngày 29/12/1986 Luật HN & GĐ Việt Nam đã được Quốc hội thông qua. Lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật hôn nhân và gia đình, nhà n ước ta đã dành 1 chương (chương IX) quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. Trong khoảng thời gian từ 1986 đến 1992, Quốc hội đó thụng qua một số văn bản pháp lý cã liên quan đến quan h ệ hôn nhân và gia đình có y ếu t ố nước ngoài như Luật Quốc tịch 1988, Điều 14 quy định trẻ em là công dân Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài không vì th ế mà mất quốc t ịch Việt Nam; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004) quy định: “Mọi trường hợp đưa trẻ em ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào phải theo quy định của pháp luật Việt Nam” (Điều 7). Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
  14. 14 Ngày 29/4/1992, Hội Đồng Bộ Trưởng đã ban hành Quyết định số 145/ QĐ-HĐBT, tuy nó mới chỉ điều chỉnh việc người nước ngoài xin trẻ em Việt Nam làm con nuôi đang sống trong các cơ sở nuôi dưỡng do ngành Lao động thương binh - xã hội quản lý, song có thể thấy đây là văn bản pháp luật trong nước đầu tiên của Việt Nam cụ th ể hoá việc nuôi con nuôi gi ữa công dân Việt Nam và người nước ngoài. Trong giai đoạn này Pháp lệnh HN & GĐ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài (1993) ra đời. Sự ra đời của Pháp lệnh đánh dấu s ự phát triển quan trọng của Pháp luật Việt Nam trong việc điều chỉnh quan hệ HN & GĐ có yếu tố nước ngoài. - Giai đoạn từ năm 2000 đến nay. Vấn đề nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài ngày càng phát triển, mở rộng, trở thành một chế định pháp lý trong pháp luật Hôn nhân và gia đình. Luật HN & GĐ năm 2000 dành một chương (chương XI) quy định quan hệ Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, việc nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài được quy định cụ thể tại Điều 105, cùng với đó là h ệ th ống các văn bản dưới luật. Việc ban hành các văn bản pháp luật đã đáp ứng kịp th ời đòi h ỏi c ủa thực tiễn về quan hệ nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài. Việc nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài được quy định rõ ràng cụ thể, chặt chẽ h ơn, các quy định về điều kiện nuôi con nuôi, hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi, thủ tục đăng ký, chấm dứt việc nuôi con nuôi …quy định một cách đầy đủ, toàn diện và hệ thống hơn. Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
  15. 15 Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
  16. 16 CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NUÔI CON NUễI Cể YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Một số nhận xét chung về tình hình áp dụng pháp lu ật nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay. Nhìn chung, pháp luật Việt Nam chỉ tỏ rõ hiệu lực chủ yếu ở phần đầu quá trình cho nhận con nuôi, đó là xác định về đi ều ki ện c ủa ng ười nhận nuôi, của con nuôi; thủ tục cho nhận… Đối với ph ần sau c ủa quá trình nuôi con nuôi nước ngoài (vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của đứa trẻ trong mối quan hệ với bố mẹ nuôi ở nước mà nó cư trú) – sau khi trẻ em Việt Nam đã được bàn giao cho cha mẹ nuôi thì gần nh ư pháp lu ật Việt Nam không thể phát huy giá trị hiệu lực của nó. Đi ều đó là do xu ất phát t ừ nguyên lý cơ bản, hiệu lực của hệ thống pháp luật mỗi quốc gia ch ỉ có giá trị trên lãnh thổ của mình. Trong khi đó, các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với nước ngoài cũng chỉ dừng lại ở mức độ quy định về vấn đề luật áp dụng và thẩm quyền giải quyết quan hệ nuôi con nuôi quốc tế. Các HĐHTNCN dù đã đi xa hơn và hiệu quả hơn khi thi ết l ập các cơ chế hỗ trợ song phương về việc đảm bảo một cuộc sống t ốt đ ẹp cho đ ứa trẻ ngay cả khi nó được chuyển ra nước ngoài sinh sống, nh ưng l ại có h ạn chế nhất định đó là: Các HĐHTNCN vẫn chưa thực sự là một khung pháp lý đầy đủ để chi phối được rộng khắp các vấn đề có th ể phát sinh trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế. Mặt khác các Hiệp định về nuôi con nuôi nước ngoài hiện nay rõ ràng vẫn là những thoả thuận riêng lẻ giữa Vi ệt Nam với từng nước cụ thể, trong khi số lượng các nước có hiệp định với Việt Nam lại còn khỏ ớt. 2.1.1 Những thuận lợi khi áp dụng pháp luật gi ải quy ết vi ệc nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
  17. 17 Trên cơ sở nhìn nhận thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài trong những năm qua cho thấy những thành công cơ bản sau: - Qua việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài, tìm đ ược mái ấm gia đình cho nhiều trẻ em, đảm bảo quyền lợi cho người con nuôi và người nhận con nuôi. Việc cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài trong th ời gian qua đã cơ bản giải quyết được những khó khăn về đời sống cho một số trẻ em có hoàn cảnh gia đình đặc biệt nh ư bị bỏ rơi, m ồ côi, tr ẻ em tàn tật mà điều kiện gia đình cũng như cơ sở nuôi dưỡng không bảo đảm được việc chăm sóc nuôi dưỡng, chữa trị, đồng thời đáp ứng được yêu c ầu, m ục tiêu cơ bản của việc nuôi con nuôi là vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Việc giải quyết cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi đã đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của người xin nhận con nuôi, tăng cường được mối quan hệ gắn bó giữa họ với Việt Nam, đồng thời giảm bớt phần nào gánh nặng về kinh tế, nhất là đối với các gia đình đông con hoặc có con bị khuyết tật. - Cơ chế giải quyết vấn đề nuôi con nuôi nước ngoài chặt chẽ hơn, minh bạch hơn. Quy định của pháp luật hiện hành tạo cơ chế giải quyết vấn đề nuôi con nuôi nước ngoài chặt chẽ hơn, minh bạch và rõ ràng hơn; quy trình th ủ tục, hồ sơ giấy tờ giải quyết cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài được quy định cụ thể hơn. Cùng với quy định trong các HĐHTNCN, Nghi đ ịnh 68/ 2002/ NĐ-CP và sửa đổi bổ sung ở nghị định 69/2006/NĐ-CP, đã ti ệm c ận dần với cơ chế giải quyết vấn đề nuôi con nuôi quốc tế theo chuẩn mực Công ước Lahaye 1993 (mà Việt Nam đang chuẩn bị ký kết và phê chuẩn). Thứ nhất, về nguyên tắc, chỉ giải quyết cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi ở những nước cùng tham gia hoặc ký kết với Vi ệt Nam đi ều ước Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
  18. 18 quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi. Với những nước chưa ký kết điều ước quốc tế, thì chỉ giải quyết trong một số trường hợp ngoại lệ có tính nhân đạo. Thứ hai, công tác quản lý nhà nước về nuôi con nuôi quốc tế được giao tập trung vào một cơ quan đầu mối là Cục Con nuôi thuộc B ộ T ư pháp. Cơ quan này đồng thời đảm nhiệm chức năng của cơ quan Trung ương về con nuôi quốc tế của Việt Nam theo các HĐHTNCN giữa Vi ệt Nam với các nước và tham gia vào một số khâu trong quá trình giải quy ết cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi nước ngoài. Thứ ba, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước ở địa phương với nhau và với cơ quan trung ương đã được kiện toàn một bước. Nhiều tỉnh đã ban hành Quy chế phối hợp liên ngành giữa các cơ quan Tư pháp, Lao động-Thương binh và Xã hội, Công an, Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh trong việc giải quyết hồ sơ nuôi con nuôi, tạo ra sự kiểm tra th ường xuyên hơn đối với hoạt động nuôi con nuôi quốc tế tại địa phương. Điều đó có ý nghĩa tích cực trong việc phòng chống các hành vi vi ph ạm pháp luật nhằm mục đích trục lợi. Thứ tư, tạo khung pháp lý cho phép các tổ chức nuôi con nuôi nước ngoài vào hoạt động tại Việt Nam. Trên cơ sở các Hiệp định về h ợp tác nuôi con nuôi và Nghị định 68/CP, trong các năm qua, Bộ tư pháp đã c ấp giấy phép cho khoảng 70 tổ chức con nuôi nước ngoài vào hoạt động tại Việt Nam trên nguyên tắc nhân đạo, phi lợi nhuận [40]. Các t ổ ch ức này đã có nhiều đóng góp tích cực, hỗ trợ kỹ thuật và giúp đỡ cho nhi ều tr ẻ em có hoàn cảnh đặc biệt làm con nuôi người nước ngoài. - Có sự cải thiện đáng kể về điều kiện vật chất trong các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em. Trong những năm qua, cả nước có khoảng 120 cơ sở bảo trợ xã hội do ngành lao động - thương binh -xã hội quản lý, được phép gi ới thi ệu tr ẻ em làm con nuôi, theo chỉ định của các Uỷ ban nhân dân c ấp t ỉnh [37]. H ầu Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
  19. 19 hết các tỉnh thành phố đều đó cú (ít nhất là một) cơ sở nuôi dưỡng để có thể đảm nhiệm việc nuôi dưỡng chăm sóc trẻ em. Việc thực hiện các dự án hỗ trợ nhân đạo từ các tổ chức con nuôi nước ngoài, đã góp phần quan trọng cải thiện về cơ sở vật chất, đời sống của nhiều cơ sở nuôi dưỡng, giải quyết những khó khăn nhất định của địa phương. Theo báo cáo chưa đầy đủ, từ năm 2003 đến nay, tổng số hỗ trợ nhân đạo bằng tiền và vật chất trị giá đạt khoảng 160 tỷ đồng [38]. Đây là những con số ấn tượng về sự hỗ trợ hữu hiệu của các cơ sở nuôi dưỡng, giúp cho các cơ sở nuôi dưỡng cải thiện đáng kể cơ sở vật ch ất và điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. - Cải tiến một bước trình tự, thủ tục giải quyết cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài. Thủ tục, trình tự giải quyết việc nuôi con nuôi quốc tế được cải tiến một cách đáng kể. Nhiều loại biểu mẫu hồ sơ được ban hành bảo đảm thống nhất thi hành trên phạm vi cả nước. Quy trình xử lý h ồ s ơ được th ực hiệnchặt chẽ hơn giảm bớt thủ tục phiền hà. hành chính giấy t ờ, đảm b ảo tính khả thi trong việc giải quyết hồ sơ. Sự tham gia c ủa C ục Con nuôi đã tăng cường việc kiểm tra, giám sát hoạt động cho con nuôi nước ngoài, tháo gỡ những vướng mắc, ách tắc, hạn chế và ngăn ngừa các vi ph ạm trong quá trình giải quyết, tăng cường sự quản lý của cơ quan Nhà nước. Trong quy trình giải quyết việc nuôi con nuôi, trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước (như Cục Con nuôi, Sở Tư pháp, Công an tỉnh, Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, cơ sở nuôi dưỡng, Công an và uỷ ban nhân dân cấp xã) được quy định rõ ràng hơn về trách nhiệm của từng khâu liên quan đến hồ sơ của người xin nhận con nuôi và hồ sơ của trẻ em. - Công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường. Công tác thanh tra, kiểm tra đối với việc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài thời gian qua cũng đã được tăng cường một bước, góp phần tích cực vào việc phát hiện, ngăn ngừa và xử lý vi phạm trong lĩnh Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
  20. 20 vực nuôi con nuôi nước ngoài, nhằm ổn định tình hình, ph ục vụ đắc l ực cho công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. - Hợp tác quốc tế về nuôi con nuôi không ngừng được cải thi ện, m ở rộng. Việc quy định nguyên tắc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài thực hiện trên cơ sở điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi gi ữa Việt Nam và các nước khác. Nguyên tắc này là “ chìa khoá” để mở rộng cánh cửa hợp tác quốc tế về nuôi con nuôi giữa Việt Nam với các n ước và vùng lãnh thổ. Nghị định 184/ CP trước đây không có quy định này. 2.1.2 Những khó khăn, bất cập khi áp dụng pháp luật giải quy ết việc nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài. - Nhận thức chưa đúng về vấn đề nuôi con nuôi trong đó có nuôi con nuụi cú yếu tố nước ngoài. Một trong những bất cập, tồn tại cơ bản là trong xã hội, các c ơ quan nhà nước và trong nhân dân còn nhận thức chưa đúng về vấn đề nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi nước ngoài nói riêng, nhất là về tính nhân đạo, nhân văn và các vấn đề pháp lý có liên quan. Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật trong lĩnh vực này nhìn chung còn yếu, chưa được quan tâm đúng mức, chưa thực hiện thường xuyên và thống nhất ở các địa phương. - Hiện tượng làm sai lệch nguồn gốc trẻ em vẫn còn. Một quyết định cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài, trước khi được đưa ra cần được cân nhắc kỹ càng, chính xác, suy xét trên m ọi phương diện. Bởi một hành vi sai phạm, sẽ gây hậu quả khôn lường không những đối với trẻ em, người xin con nuôi, tổ chức con nuôi mà còn ảnh hưởng đến quan hệ giữa nước cho con nuôi và nước nhận con nuôi. Vấn đề này đang là một thực tế cần hoàn thiện, nhiều kẻ lợi dụng hoạt động nhân đạo này để trục lợi, nhiều người lợi dụng ch ức quy ền để m ưu l ợi cá nhân. Khóa luận tốt nghiệpNguyễn Thị Hải DS30C NguyÔn ThÞ H¶i DS30C
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2