intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Nuôi Vẹm xanh (Perna viridis)

Chia sẻ: Nguyen Phuong Ha Linh Linh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
111
lượt xem
24
download

Nuôi Vẹm xanh (Perna viridis)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Năm 1997, vẹm xanh (Perma viridis) được thử nghiệm nuôi đầu tiên tại vùng cửa sông thuộc địa bàn thôn Hải Vân - Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, sau đó được mở rộng ra nuôi tại nhiều vùng như Khánh Hoà, Bình Định, Quảng Ninh, Hải Phòng và Nghệ An. Từ năm 1997 tổng số hộ nuôi vẹm xanh là 5 hộ, đến năm 1999 tổng số hộ nuôi là 9 hộ, đến năm 2001 tổng số hộ nuôi là 75 hộ diện tích nuôi khoảng 7 ha....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nuôi Vẹm xanh (Perna viridis)

  1. Nuôi Vẹm xanh (Perna viridis) Năm 1997, vẹm xanh (Perma viridis) được thử nghiệm nuôi đầu tiên tại vùng cửa sông thuộc địa bàn thôn Hải Vân - Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, sau đó được mở rộng ra nuôi tại nhiều vùng như Khánh Hoà, Bình Định, Quảng Ninh, Hải Phòng và Nghệ An. Từ năm 1997 tổng số hộ nuôi vẹm xanh là 5 hộ, đến năm 1999 tổng số hộ nuôi là 9 hộ, đến năm 2001 tổng số hộ nuôi là 75 hộ diện tích nuôi khoảng 7 ha. Riêng vùng Thừa Thiên Huế năm 2001 chỉ có khoảng 0,5 ha nhưng đã thu được 65,32 tấn. Phương pháp nuôi Vẹm rất đa dạng. a) Bãi nuôi: Vẹm là loài sống bám, ưa độ muối cao, thích sống dưới sâu nên bãi nuôi cần chọn nơi có nhiều rạn đá (để giảm chi phí về vật bám), xa cửa sông (tránh ảnh hưởng của nước lũ) và ở dưới tuyến triều thấp (thuận lợi cho sinh trưởng của Vẹm). Độ sâu nuôi Vẹm thường không quá 3 - 5 m để tiện quản lý chăm nom, sâu hơn nữa sinh trưởng của vẹm tốt nhưng khó quản lý. Vị trí bãi nuôi tuỳ theo cách nuôi quyết định. Nuôi bằng dây phao treo trên bè phao thì không phải chú trọng đến chất đáy và độ sâu mà
  2. chỉ cần chọn nơi có sóng yên gió lặng. Nuôi bằng cách thả đá thì cần chọn chất đáy sỏi cát cứng, ở độ sâu 1 m dưới tuyến triều thấp. Nuôi bằng cách cắm cọc thì cần chọn chất đáy cát mềm ở độ sâu 1 m dưới tuyến triều thấp. Ngoài ra cần chú ý đến điều kiện thức ăn, điều kiện môi trường như độ mặn 15 - 30‰; pH 7,5 – 8,5,…nước lưu thông và không có nước thải công nghiệp đổ vào. b) Các hình thức nuôi: - Nuôi trong các túi treo thành giàn: Ở những vùng nước sâu (độ sâu > 3 m) dùng các cọc gỗ đường kính 10 – 12 cm, dài 3 – 4 m đóng thành ô vuông hoặc ô chữ nhật. Cứ 3 – 4 m đóng thành một hàng cột, ở giữa có cột đỡ, sau đó dùng dây có đường kính 4 – 6 cm buộc các cọc thành hàng song song. Vẹm giống được thả trong những bao lưới cũ khâu thành hình ống, dài từ 0,7 – 1 m. Rải đều giống trên xơ dừa trong túi. Sau đó treo túi vẹm vào các dây đã căng sẵn, khoảng cách giữa các túi từ 1,5 – 2 m. Khoảng cách giữa các hàng 3 – 4 m. Các túi treo so le, cách mặt đất 0,4 – 0,5 m và cách mặt nước 1,5 – 2 m.
  3. - Nuôi bằng trụ xi măng: Các trụ xi măng hình vuông, chiều dài tùy thuộc vào giá đỡ, chiều rộng 10 cm, giữa trụ có thanh sắt để tăng độ bền. Trụ được đặt nằm ngang trên dàn gỗ cách nền đáy 0,4 – 0,5 m. - Nuôi bằng tấm xi măng: Tấm xi măng hình chữ nhật chiều dài 0,5 m; chiều rộng 0,4 m; chiều dày 3 – 5 cm. Bốn góc có 4 lổ để luồn dây treo dựng đứng. Giàn gỗ tương tự như trên, giàn luôn luôn chìm dưới nước, cách mặt nước từ 2 – 3 m. Các vật liệu này có thể sử dụng 3 – 5 năm. Mỗi cọc ngang có thể treo từ 3 – 4 tấm, do đó mỗi giàn treo được 20 – 50 tấm. - Nuôi bằng cọc gỗ: Cọc gỗ đặt nằm ngang song song với đáy biển trên giá gỗ như trụ xi măng hoặc cắm dựng đứng. Cọc có đường kính 10 – 15 cm, chiều cao 3 – 4 m tùy độ sâu của mặt nước. Cọc có thể sử dụng trong 2 năm. Để tăng độ bền cho cọc, nhân dân thường dùng bao tải ni lông bọc bên ngoài các cọc nhằm hạn chế sự phá hoại của Hầu, Hà, Sun. Bằng phương pháp này có thể kéo dài thời gian sử dụng lên 4 – 5 năm/cọc. Kỹ thuật cho giống bám vào dây:
  4. * Đưa nước biển sạch có độ mặn tương đương độ mặn nơi nuôi vào máng. * Sục khí * Thả giống vào máng * Đưa dây bám giống vào máng theo chiều dài của máng và sợi dây nằm giữa các lớp Vẹm giống ở dưới đáy. * Chờ từ 3 – 5 ngày cho Vẹm mọc tơ chân bám vào dây thì lấy dây chuyển ra bãi nuôi. Quấn dây vào cọc nuôi: Cọc được đóng vững chắc xuống bãi. Mỗi cọc sẽ được quấn từ 1 – 2 dây đã có giống bám. Quá trình phát triển không những tơ chân của vẹm chỉ bám vào dây mà còn bám cả vào thân cọc. - Nuôi thả bằng các sọt rổ thưa: ở những vùng nước nông (độ sâu từ 1 – 1,5 m), dùng các rổ, sọt tre rải vẹm giống trong sọt và được đặt trên giá gỗ cách mặt đất 0,2 – 0,4 m, đảm bảo sọt không bị dao động khi nước chảy. c) Mật độ giống thả: Mật độ giống thả tùy thuộc kích thước con giống và các hình thức nuôi khác nhau.
  5. Bảng 16. Mật độ giống thả Vẹm xanh ở các hình thức nuôi ở đầm Lăng Cô Các hình thức nuôi Kích cỡ Mật độ giống T th ả T (con/kg) Nuôi tấm xi măng 250 - 300 1-2 kg/tấm 1 treo giàn 1-2 kg/tấm 80 - 120 Nuôi túi lưới treo 80 2 2-3 kg/túi giàn Nuôi bao bố trên 80 - 120 3 2-3 kg/bao các cọc gỗ đứng Nuôi cọc gỗ cắm 80 - 120 4 –5 kg/cọc 4 đứng 2 kg/cọc 250 - 300 Nuôi cọc xi măng 80 - 120 4 – 5 kg/cọc 5 xếp song song với đáy Nuôi rổ tre 2 kg/rổ 6 80 - 120 7 Nuôi dây treo giàn 80 1 kg/dây
  6. d) Thời vụ nuôi:Vụ nuôi dài hay ngắn tùy thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có cả yếu tố kích thước giống thả nuôi Bảng 17. Kích cỡ giống vẹm và thời vụ nuôi cỡ giống Chiều cao vỏ Thời vụ nuôi TT Kích (con/kg) (cm) (tháng) 1 > 500 1,0 – 1,5 18 - 24 2 300 – 400 2,0 – 2,5 10 – 12 3 200 – 300 2,5 – 3,5 8 – 10 4 120 – 150 3,5 – 4,5 6 5 80 4,0 – 6,0 4-6 e) Quản lý chăm sóc: Hàng ngày kiểm tra nhiệt độ, độ muối hay tỷ trọng của nước, kiểm tra tình hình sinh trưởng và hoạt động của vẹm, kiểm tra vật bám xem có chắc chắn hay không, đặc biệt là các giàn treo thường dễ bị sóng gió làm hư hỏng, ngoài ra cũng cần chú ý đến phòng địch hại. Nếu nuôi mật độ qúa dày cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng
  7. của vẹm, do đó phải thường xuyên theo dõi để san thưa khi cần thiết. Đối với dạng hình nuôi vẹm trong bao bố và túi lưới: 5 ngày phải vệ sinh lưới một lần để tránh bị bít lưới. đối với dạng hình nuôi trên tấm xi măng thường 7 ngày vệ sinh một lần. Sau một đợt thu hoạch phải chà sạch lớp bùn bám và phơi nắng các giá thể để chuẩn bị cấy đợt giống mới.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản