intTypePromotion=1

Phân tích khả năng hiến thận ở một số cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chia sẻ: Ni Ni | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
17
lượt xem
0
download

Phân tích khả năng hiến thận ở một số cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết tiến hành khảo sát kiến thức - thái độ - hành vi về việc hiến thận của một số cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm góp phần đề ra chiến lược cụ thể để vận động hiến thận trong dân chúng. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết của tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phân tích khả năng hiến thận ở một số cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh

TẠP CHÍ Y - DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ CHUYÊN ĐỀ GHÉP TẠNG - 2012<br /> <br /> PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG HIẾN THẬN Ở MỘT SỐ CỘNG ĐỒNG<br /> TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH<br /> Trần Ngọc Sinh*; Lê Hoàng Ninh**; Hoàng Thị Diễm Thúy***<br /> TÓM TẮT<br /> Phỏng vấn 1.068 người > 18 tuổi dựa vào bộ câu hỏi tự điền. Kết quả cho thấy: 77% đồng ý hiến<br /> thận sau chết và 63,8% đồng ý hiến thận người thân sau chết. Tỷ lệ người có kiến thức chưa đúng<br /> về bệnh thận và chết não chiếm 5 - 36%; 21% còn có thái độ không tích cực. Những yếu tố tương<br /> quan với hành vi hiến thận: nghề nghiệp, kinh tế, kiến thức đúng về chết não, quan điểm nhân đạo<br /> tích cực, việc bàn bạc với người thân. Lý do chủ yếu của việc từ chối hiến là sợ người nhà không<br /> đồng ý. Yêu cầu chính sau khi hiến là công bằng. Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số người dân ủng<br /> hộ hiến thận, cần có chiến lược tuyên truyền và can thiệp, đây là nền tảng giúp khoa học ghép tạng<br /> nước ta phát triển bền vững.<br /> * Từ khoá: Hiến thận; Kiến thức; Thái độ; Chết não.<br /> <br /> Analysis of kidney donation potency in some communities at<br /> HoChiMinh city<br /> SUMMARY<br /> Interviewing of 1,068 people over 18 years old by qiestionnaire,the interviewees filled in themselves.<br /> Results: 77% and 63.8% agreed to donate their own kidney and the kidney of their relatives<br /> respectively after death. 5 - 36% had incorrect knowledges. 21% had negative attitude over donation.<br /> The factors associated with donation comprised of profession, economic status, good knowledges<br /> about organ shortage and brain death, positive attitude especially the conversation into family.<br /> The main reason of refusal was the family constraint. The main requirement when a person<br /> donates was the egality of organ using. Most people agreed with donation at Hochiminh City. We<br /> need education campaign to ameliorate the public point of view. The education must be the<br /> background for the development of transplantation in our country.<br /> * Key words: Kidney donation; Knowledges; Attitude; Brain death<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> <br /> ghép. Đây là một hiện trạng đang đồng hành<br /> <br /> Từ cuối thế kỷ XX, tỷ lệ suy thận mạn<br /> trên toàn cầu ngày càng gia tăng, y học<br /> phải đối đầu với khó khăn là tình trạng mất<br /> cân bằng cung - cầu trầm trọng của thận<br /> <br /> với các tiến bộ không ngừng của khoa học<br /> ghép thận. Vấn đề này đã, đang và sẽ trở<br /> thành một thách thức đối với sức khoẻ cộng<br /> đồng trên toàn thế giới. Vì thế, cùng với việc<br /> <br /> * Bệnh viện Chợ Rẫy<br /> ** Viện Vệ sinh Y tế Cụng cộng<br /> *** Bệnh viện Nhi Đồng 2<br /> Phản biện khoa học: PGS. TS. Hoàng Trung Vinh<br /> TS. Nguyễn Thị Ánh Hường<br /> <br /> 27<br /> <br /> TẠP CHÍ Y - DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ CHUYÊN ĐỀ GHÉP TẠNG - 2012<br /> <br /> phát triển kỹ thuật ghép, hầu hết các quốc<br /> gia đều quan tâm đến khía cạnh xã hội và<br /> pháp lý của vấn đề này nhằm tìm ra giải<br /> pháp cho nguồn thận ghép, tạo cơ sở để<br /> thúc đẩy khoa học ghép thận phát triển bền<br /> vững. Một trong những rào cản quan trọng<br /> của công tác ghép thận là tình trạng thiếu<br /> hụt nguồn thận để ghép. Nguồn thận từ<br /> người cho sống rất giới hạn, trong khi đó,<br /> nguồn thận từ người cho chết não chưa<br /> được huy động hết.<br /> Ngày 29 - 11 - 2006, tại Việt Nam, Luật<br /> Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người<br /> đã được Quốc hội thông qua... Tuy nhiên,<br /> nhận thức của cộng đồng về hiến thận nói<br /> riêng và các bộ phận cơ thể nói chung còn<br /> rất hạn chế. Có rào cản nào xét về góc độ<br /> kinh tế, văn hóa, xã hội trong việc hiến thận<br /> ở người Việt Nam?.<br /> Trên cơ sở này, chúng tôi thực hiện khảo<br /> sát kiến thức - thái độ - hành vi về việc hiến<br /> thận của một số cộng đồng tại Thành phố<br /> Hồ Chí Minh nhằm góp phần đề ra chiến<br /> lược cụ thể để vận động hiến thận trong<br /> dân chúng.<br /> ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> 1. Đối tƣợng nghiên cứu.<br /> Nghiên cứu 1.068 người, > 18 tuổi, bao<br /> gồm: Thiên chúa giáo: tại nhà thờ Thủ Đức:<br /> 250 người; Phật giáo: tại chùa Thiền Lâm Quận 8: 250 người; sinh viên: Trường Đại<br /> học Luật TP Hồ Chí Minh, Đại học Y khoa<br /> Phạm Ngọc Thạch: 568 người.<br /> 2. Phƣơng pháp nghiên cứu.<br /> - Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu cắt<br /> ngang mô tả và phân tích trên 3 nhóm: sinh<br /> viên, Thiên Chúa giáo, Phật giáo.<br /> - Phát phiếu câu hỏi bao gồm 35 câu, tự<br /> điền.<br /> <br /> KÕT QU¶ Nghiªn cøu<br /> 1. Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu.<br /> - Tuổi trung bình: 28 ± 12,86 (dao động<br /> 15 - 73).<br /> - Giới: nam 413 người (39,04%); nữ: 615<br /> người (60,96%).<br /> - Học vấn: phổ thông 260 người (24,62%);<br /> đại học 782 người (74,05%); sau đại học 14<br /> người (1,33%).<br /> - Dân tộc: Kinh 986 người (93,82%); Hoa<br /> 37 người (3,52%). Khmer 16 (1,52%), Chăm:<br /> 12 người (1,14%).<br /> - Tôn giáo: Phật giáo: 292 người (25,6%);<br /> Thiên Chúa: 281 người (24,6%); thờ ông bà:<br /> 330 người (28,9%); không theo một tôn giáo<br /> nào: 227 người (19,9%); khác: 10 người (0,8%).<br /> - Tình trạng hôn nhân: có gia đình 231<br /> người (21,73%), độc thân 832 người (78,27%).<br /> - Kinh tế: giàu có 37 người (3,51%); khá<br /> giả 225 người (21,37%); trung bình 681 ng-êi<br /> (64,67%); nghèo 110 người (10,45%).<br /> * Phân bố nghề nghiệp:<br /> Học sinh sinh viên: 707 người (67,14%);<br /> công nhân viên: 135 người (12,82%); nội trợ:<br /> 59 người (5,6%); buôn bán nhỏ: 52 người<br /> (4,94%); lao động phổ thông: 39 người (3,7%);<br /> chủ doanh nghiệp: 29 người (2,75%); khác:<br /> 29 người (2,75%); nông dân: 3 người (0,28%).<br /> * Phương tiện tiếp cận thông tin về hiến<br /> thận:<br /> Truyền hình: 649 người (61%); sách: 544<br /> người (51%); báo: 539 người (50,5%); người<br /> khác: 338 người (31,6%); người thân bị<br /> bệnh: 158 người (14,8%); radio: 105 người<br /> (9,8%); chưa bao giờ nghe: 38 người (3,6%).<br /> <br /> 29<br /> <br /> TẠP CHÍ Y - DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ CHUYÊN ĐỀ GHÉP TẠNG - 2012<br /> <br /> 2. Kết quả về kiến thức.<br /> * Kiến thức về nhu cầu hiến thận của xã<br /> hội:<br /> Câu 13: Suy thận nặng sẽ chết nếu không<br /> được lọc máu hay ghép thận. Đúng hay sai?<br /> <br /> trên cõi đời này. Ông bà, anh chị nghĩ sao<br /> về quan điểm này?<br /> Bảng 3: Kết quả thái độ về quan điểm<br /> nhân đạo.<br /> RẤT<br /> ĐỒNG Ý<br /> <br /> ĐỒNG Ý<br /> <br /> KHÔNG<br /> ĐỒNG Ý<br /> <br /> RẤT<br /> KHÔNG<br /> ĐỒNG Ý<br /> <br /> 18<br /> <br /> 1.064<br /> 364<br /> (99,4%) (34,3%)<br /> <br /> 654<br /> (61,2%)<br /> <br /> 38<br /> (3,6%)<br /> <br /> 6<br /> (0,56%)<br /> <br /> 20<br /> <br /> 1.054<br /> 231<br /> (98,7%) (21,9%)<br /> <br /> 573<br /> (54,4%)<br /> <br /> 230<br /> (21,8%)<br /> <br /> 20<br /> (5,1%)<br /> <br /> Câu 14: Những người bị suy thận hiện<br /> nay đang rất cần có những người cho thận<br /> để được cứu sống. Anh/chị, ông/bà có biết<br /> về thông tin này?<br /> <br /> CÂU<br /> <br /> Bảng 1: Kết quả dựa vào hiểu biết về<br /> nhu cầu ghép thận.<br /> <br /> * Quan điểm tuyên truyền, chia sẻ:<br /> <br /> CÂU<br /> <br /> SỐ TRẢ LỜI<br /> (%)<br /> <br /> ĐÚNG<br /> (%)<br /> <br /> SAI<br /> (%)<br /> <br /> Câu 13<br /> <br /> 1.049 (98,2%)<br /> <br /> 988 (94,2%)<br /> <br /> 61 (5,8%)<br /> <br /> Câu 14<br /> <br /> 1.051 (98,4%)<br /> <br /> 905 (86,1%)<br /> <br /> 12 (13,9%)<br /> <br /> * Kiến thức chết não:<br /> Câu 15: Chết não là tình trạng tim còn<br /> đập nhưng não hoàn toàn hư hại, không<br /> còn khả năng phục hồi. Đúng hay sai?<br /> Câu 16: Chết não thường xảy ra trong<br /> những cái chết “bất đắc kỳ tử” như: tại nạn,<br /> tai biến mạch máu não… Anh/chị có biết<br /> điều này không?<br /> Bảng 2: Kết quả hiểu biết về chết não<br /> nhận thức về quan điểm nhân đạo.<br /> CÂU<br /> <br /> SỐ TRẢ LỜI<br /> (%)<br /> <br /> ĐÚNG<br /> (%)<br /> <br /> Câu 22: Việc tuyên truyền giáo dục hiến<br /> thận trên các phương tiện thông tin đại chúng<br /> có cần không?<br /> Câu 23: Việc hiến thận sẽ dễ dàng hơn<br /> nếu được bàn bạc trước với người thân,<br /> ông bà, anh chị có nghĩ rằng mình sẽ bàn<br /> bạc với người thân khi quyết định không?<br /> Câu 24: Ông bà, anh chị có nghĩ rằng<br /> mình cũng có thể có lúc cần được người<br /> khác cho thận không?<br /> Bảng 4: Kết quả nhận biết về tuyên truyền<br /> hiến thận.<br /> CÂU<br /> <br /> SỐ TRẢ<br /> LỜI (%)<br /> <br /> CÓ<br /> (%)<br /> <br /> KHÔNG<br /> (%)<br /> <br /> SAI<br /> (%)<br /> <br /> Câu 22<br /> <br /> 1.056<br /> (98,9%)<br /> <br /> 957<br /> (90,6 %)<br /> <br /> 99<br /> (9,4%)<br /> <br /> Câu 23<br /> <br /> 1.057<br /> (99 %)<br /> <br /> 971<br /> (91,9%)<br /> <br /> 86<br /> (8,1%)<br /> <br /> Câu 24<br /> <br /> 1.044<br /> (97,7%)<br /> <br /> 893<br /> (85,4%)<br /> <br /> 151<br /> (14,6%)<br /> <br /> Câu 15<br /> <br /> 1.046 (97,9%) 880 (84,1%)<br /> <br /> 166 (15,9%)<br /> <br /> Câu 16<br /> <br /> 1.052 (98,5%)<br /> <br /> 196 (18,6%)<br /> <br /> 856 (81,4%)<br /> <br /> SỐ<br /> TRẢ LỜI<br /> <br /> 3. Kết quả về thái độ.<br /> - Quan điểm nhân đạo:<br /> Câu 18: Việc cho thận cho người bị bệnh<br /> là một nghĩa cử nhân đạo?<br /> Câu 20: Khi người ta chết đi, nhưng còn<br /> một bộ phận trên cơ thể đem cho lại cho<br /> người khác thì giống như thân xác vẫn còn<br /> <br /> Câu 25: Về đối tượng cần được tuyên<br /> truyền hiến thận.<br /> 207 người (19,64%) đồng ý nên bắt đầu<br /> ở đại học.<br /> <br /> 30<br /> <br /> TẠP CHÍ Y - DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ CHUYÊN ĐỀ GHÉP TẠNG - 2012<br /> <br /> 700 người (66,41%) đồng ý nên bắt đầu<br /> ở cấp 3.<br /> 147 người (13,95%) không đồng ý tuyên<br /> truyền.<br /> 4. Kết quả về hành vi.<br /> <br /> CÂU<br /> <br /> Nghe về bệnh thận<br /> Chết nếu không được lọc máu<br /> <br /> Bảng 5: Kết quả về hành vi hiến thận.<br /> CÂU<br /> <br /> SỐ TRẢ<br /> LỜI<br /> <br /> ĐỒNG Ý<br /> <br /> KHÔNG<br /> ĐỒNG Ý<br /> <br /> Câu 30: Hiến thận<br /> của bản thân.<br /> <br /> 1.020<br /> (95,5%)<br /> <br /> 785<br /> (77%)<br /> <br /> 235<br /> (23%)<br /> <br /> Câu 31: Hiến thận<br /> lúc còn sống<br /> <br /> 1.032<br /> (96,7%)<br /> <br /> 812<br /> (78,7%)<br /> <br /> 220<br /> (21,3%)<br /> <br /> Câu 33: Hiến thận<br /> của người thân<br /> <br /> 1.005<br /> (94,1%)<br /> <br /> 641<br /> (63,8%);<br /> <br /> 364<br /> (36,2 %)<br /> <br /> * Lý do không đồng ý hiến thận:<br /> - Lý do từ chối hiến thận:<br /> Gia đình không đồng ý: 185 ng-êi (44,8%);<br /> sợ: 115 ng-êi (27,8%); lý do khác: 70 ng-êi<br /> (19,6%); tôn giáo: 20 ng-êi (4,8%). Lý do khác<br /> muốn giữ nguyên vẹn cơ thể, sợ mai táng<br /> chậm trễ, sợ sử dụng không đúng mục đích.<br /> 5. Tƣơng quan với việc đồng ý hiến<br /> thận.<br /> Bảng 6: T-¬ng quan hµnh vi ®ång ý hiÕn<br /> thËn víi c¸c yÕu tè.<br /> BIẾN SỐ<br /> <br /> Bảng 7: Tương quan giữa hành vi đồng<br /> ý hiến thận với câu trả lới thuận.<br /> <br /> p<br /> <br /> Tuổi (< 30 và ≥ 30)<br /> <br /> 0,41<br /> <br /> Giới<br /> <br /> 0,836<br /> <br /> Tình trạng hôn nhân<br /> <br /> 0,158<br /> <br /> Kinh tế<br /> <br /> 0,02<br /> <br /> Học vấn<br /> <br /> 1<br /> <br /> Tôn giáo<br /> <br /> 0,45<br /> <br /> Nghề nghiệp<br /> <br /> 0,022<br /> <br /> * Hành vi hiến thận và kiến thức, thái độ:<br /> các câu có tương quan thống kê với hành vi<br /> đồng ý hiến thận<br /> <br /> p<br /> <br /> 0,014<br /> < 0,005<br /> <br /> Kiến thức chết não<br /> <br /> 0,019<br /> <br /> Rất cần có những người cho thận<br /> <br /> 0,026<br /> <br /> Giống như thân xác vẫn còn trên cõi đời<br /> <br /> < 0,005<br /> <br /> Việc tuyên truyền giáo dục hiến thận<br /> trên các phương tiện thông tin<br /> <br /> < 0,005<br /> <br /> Bàn bạc trước với người thân<br /> <br /> < 0,005<br /> <br /> Người khác cho thận<br /> <br /> < 0,005<br /> <br /> Hiến thận của thân nhân<br /> <br /> < 0,005<br /> <br /> Các yêu cầu khi hiến thận (câu 34): tài<br /> chính: 30 người (19,8%); công bằng: 69 người<br /> (45,4%); khác: 53 người (34,8%): công bằng,<br /> bí mật, bảo đảm thành công cho người nhận,<br /> nếu là người cho sống, cần bảo đảm được<br /> chăm sóc tốt sau khi hiến.<br /> BÀN LUẬN<br /> Ở nước ta, trung bình mỗi ngày có 30<br /> người tử vong vì tai nạn giao thông. Những<br /> người này tử vong trong tình trạng chết<br /> não, nghĩa là hoàn toàn không có khả năng<br /> phục hồi dù tim vẫn còn đập và tuổi đời còn<br /> rất trẻ. Nếu nạn nhân và gia đình đồng ý<br /> hiến tặng, đây sẽ là nguồn tạng quý giá để<br /> cứu sống những người suy thận giai đoạn<br /> cuối nói riêng và suy tạng mạn nói chung.<br /> Tuy nhiên, nhận thức của cộng đồng về<br /> hiến thận nói riêng và các bộ phận cơ thể<br /> nói chung còn rất hạn chế.<br /> Vì chưa có nhiều thông tin về hiến tạng<br /> tại Việt Nam, chúng tôi chọn 3 đối tượng<br /> trên để khảo sát với mục đích thuận tiện,<br /> giả thuyết rằng đây là 3 đối tượng dÔ tiếp<br /> cận nhất để có chương trình can thiệp sau<br /> này. Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi<br /> chưa có tính đại diện cho dân số Việt Nam,<br /> mà chỉ là khảo sát bước đầu để tạo tiền đề<br /> <br /> 31<br /> <br /> TẠP CHÍ Y - DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ CHUYÊN ĐỀ GHÉP TẠNG - 2012<br /> <br /> cho các nghiên cứu khác quy mô hơn. Nhiều<br /> tác giả trên thế giới [1, 2, 3] cũng chọn sinh<br /> viên và đối tượng tôn giáo để can thiệp, đặc<br /> biệt, sinh viên là nhóm đối tượng trẻ, có tư<br /> tưởng thoáng và dễ tạo hiệu ứng thứ phát,<br /> do có mức độ trao đổi cao.<br /> Kiến thức đúng về bệnh thận và chết<br /> não không thấp có ý nghĩa so với kết quả<br /> nghiên cứu ở các nước phát triển. Theo<br /> khảo sát đa quốc gia của Manninen [1],<br /> 92,7% người có kiến thức về sự thiếu hụt<br /> mô tạng để ghép; 66,5% đồng ý bản thân<br /> họ có thể là người phải nhận thận; 64% có<br /> kiến thức đúng về chết não.<br /> Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ<br /> người đồng ý hiến thận cao, không khác<br /> biệt giữa hiến lúc còn sống hay đã chết. Tỷ<br /> lệ đồng ý hiến thận của người thân thấp<br /> hơn, phù hợp với những nghiên cứu khác<br /> và phù hợp với nhiều tác giả: nhận thấy<br /> hành vi hiến thận có tương quan với nghề<br /> nghiệp, mức độ kinh tế, kiến thức đúng về<br /> chết não và sự bàn bạc với người thân [4].<br /> Trong số những người đã từng bàn bạc về<br /> hiến thận trong gia đình, 77% người hiến,<br /> trong khi đó chỉ có 42% đồng ý hiến ở nhóm<br /> chưa từng thảo luận [4].<br /> <br /> được quan tâm khảo sát sâu, tuy không<br /> phải là đa số, nhưng họ có thể tạo ảnh<br /> hưởng không tốt cho cộng đồng.<br /> KẾT LUẬN<br /> Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và hành<br /> vi hiến thận cho thấy kết quả khả quan với<br /> 77% đồng ý hiến thận sau chết và 63,8%<br /> đồng ý hiến thận cho người thân sau chết.<br /> > 80% người được khảo sát có kiến thức<br /> đúng về tình hình bệnh thận hiện nay và nhu<br /> cầu ghép thận. > 80% người được khảo sát<br /> có kiến thức đúng vÒ chết não. 60 - 69%<br /> đồng ý với quan điểm nhân đạo khi hiến<br /> thận. Các yếu tố tương quan với hành vi<br /> hiến thận: nghề nghiệp, kinh tế, kiến thức<br /> đúng về chết não, hiểu biết về tình hình thiếu<br /> thận, quan điểm nhân đạo tích cực, việc bàn<br /> bạc với người thân. Chúng ta cần nghiên<br /> cứu trên nhiều đồi tượng khác trong cộng<br /> đồng để nghiên cứu có tính đại diện hơn cho<br /> người Việt Nam. Cần có chiến lược tuyên<br /> truyền, can thiệp, đây là nền tảng khoa học<br /> ghép tạng ở nước ta phát triển bền vững.<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> <br /> Hành vi hiến thận trong nghiên cứu này<br /> thực chất chỉ là hành vi “ảo”. Theo các tác<br /> giả, con số thật của hiến tạng chỉ còn 1/3 1/4 con số khảo sát được do sự tác động<br /> chủ yếu từ người nhà [4]. Tuy nhiên, kết quả<br /> trên cũng cho thấy sự đón nhận của người<br /> Việt Nam về vấn đề hiến tạng có chiều<br /> hướng tích cực, đây lµ động lực thúc đẩy<br /> các chương trình vận động hiến tạng hoạt<br /> động. Ngoài ra, đòi hỏi chính ®¸ng của những<br /> người đồng ý hiến tạng là “công bằng”, trong<br /> khi đòi hỏi về tài chính chỉ chiếm 19,8%,<br /> thấp hơn các tác giả trên thế giới [3].<br /> <br /> 1. Manninen, R W Evans. Public attitudes and<br /> behavior regarding organ donation. JAMA. 1985;<br /> 253 (21), pp.3111-15.<br /> <br /> Về đối tượng cần được tuyên truyền<br /> hiến thận, đa số đồng ý đưa vào giáo dục<br /> từ cấp 3, tuy nhiên, số người không đồng ý<br /> còn cao (14,6%). Đây cũng là nhóm cần<br /> <br /> 5. M. Weaver, C. Spigner, M Pinela, K G<br /> Rabun, M D Allen. Knowledge and opinions<br /> among urban high school students: pilot test of<br /> a health education. JAMA. 2001, 286, pp.71-77.<br /> <br /> 2. Matas. A J, David E. R. Sutherland. The<br /> importance of innovative efforts to increase organ<br /> donation. JAMA. 2005, 294 (13),pp.1691-1693.<br /> 3. Price.D. Living kidney donation in Europe.<br /> Legal and ethical perspectives-the EUROTOLD<br /> Project. Transpl Int (1994) 7 [ Suppl 1]. 1994,<br /> S665-S667.<br /> 4. Siminoff L.A, N.Gordon, J. Hewlett. Factors<br /> influencing families’s consent for donation of<br /> solid organ for transplantation. JAMA. 2001, 286<br /> (1), pp.71-77.<br /> <br /> 32<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2