intTypePromotion=1

Pierre bourdieu và anthony giddens về song đề cấu trúc hành động

Chia sẻ: Vy Vy | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:13

0
39
lượt xem
0
download

Pierre bourdieu và anthony giddens về song đề cấu trúc hành động

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bourdieu đưa ra lý thuyết cấu trúc thiết kế luận (structuralisme constructiviste) với các khái niệm mới như: tập tính, trường lực, vốn, cảm thức hành động. Giddens đưa ra lý thuyết cấu trúc hóa (structuration). Tuy nhiên, lý thuyết của Bourdieu bị phê phán vẫn còn xu hướng quyết định luận và lý thuyết của Giddens mang tính duy ý chí. Mặc dù còn một vài hạn chế, phải thừa nhận lý thuyết của hai nhà xã hội học này là những nỗ lực bài bản, hệ thống nhất cho đến hiện nay để vượt lên song đề nêu trên.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Pierre bourdieu và anthony giddens về song đề cấu trúc hành động

See discussions, stats, and author profiles for this publication at: https://www.researchgate.net/publication/330275168<br /> <br /> PIERRE BOURDIEU VÀ ANTHONY GIDDENS VỀ SONG ĐỀ CẤU TRÚC/HÀNH<br /> ĐỘNG<br /> Article · January 2019<br /> <br /> CITATIONS<br /> <br /> READS<br /> <br /> 0<br /> <br /> 3<br /> <br /> 1 author:<br /> Nguyen Xuan Nghia<br /> Ho Chi Minh City Open University<br /> 59 PUBLICATIONS   29 CITATIONS   <br /> SEE PROFILE<br /> <br /> Some of the authors of this publication are also working on these related projects:<br /> <br /> Religion and modernity View project<br /> <br /> Sociology of Religion View project<br /> <br /> All content following this page was uploaded by Nguyen Xuan Nghia on 10 January 2019.<br /> The user has requested enhancement of the downloaded file.<br /> <br /> TAÏP CHÍ KHOA HOÏC XAÕ HOÄI SOÁ 10(170)-2012<br /> <br /> 71<br /> <br /> KHOA HOÏC XAÕ HOÄI THEÁ GIÔÙI<br /> <br /> PIERRE BOURDIEU VÀ ANTHONY GIDDENS<br /> VỀ SONG ĐỀ CẤU TRÚC/HÀNH ĐỘNG<br /> NGUYỄN XUÂN NGHĨA<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Pierre Bourdieu (1930-2002) và Anthony<br /> Giddens (1920) là hai khuôn mặt sáng giá<br /> nhất của xã hội học Pháp và Anh trong thời<br /> đương đại, đã nỗ lực vượt qua song đề cấu<br /> trúc/hành động vốn đã chia rẽ các nhà xã<br /> hội học cổ điển. Bourdieu đưa ra lý thuyết<br /> cấu trúc thiết kế luận (structuralisme<br /> constructiviste) với các khái niệm mới như:<br /> tập tính, trường lực, vốn, cảm thức hành<br /> động. Giddens đưa ra lý thuyết cấu trúc<br /> hóa (structuration). Tuy nhiên, lý thuyết<br /> của Bourdieu bị phê phán vẫn còn xu<br /> hướng quyết định luận và lý thuyết của<br /> Giddens mang tính duy ý chí. Mặc dù còn<br /> một vài hạn chế, phải thừa nhận lý thuyết<br /> của hai nhà xã hội học này là những nỗ lực<br /> bài bản, hệ thống nhất cho đến hiện nay<br /> để vượt lên song đề nêu trên.<br /> Có thể nói lịch sử của xã hội học là lịch sử<br /> của những đối thoại, tranh luận về các<br /> song đề (dilemma) lớn. Một trong những<br /> song đề ấy là sự đối lập nhấn mạnh cấu<br /> trúc xã hội hay nhấn mạnh hành động xã<br /> hội, thường biểu hiện qua những tranh<br /> luận giữa những tác giả theo lý thuyết duy<br /> khách thể hay duy chủ thể, mà trong<br /> Nguyễn Xuân Nghĩa. Tiến sĩ. Trường Đại học<br /> Mở Thành phố Hồ Chí Minh.<br /> <br /> truyền thống khoa học xã hội Pháp, được<br /> gọi là giữa thuyết tổng thể (holisme) hay cá<br /> thể (atomisme), trong khoa học xã hội AnhMỹ vẫn là cặp đối lập cấu trúc/hành động<br /> (structure/agency).<br /> 1. NHỮNG NỖ LỰC VƯỢT QUA SONG<br /> ĐỀ CẤU TRÚC/HÀNH ĐỘNG CỦA HAI NHÀ<br /> XÃ HỘI HỌC BOURDIEU VÀ GIDDENS<br /> Tuy nhiên, lịch sử xã hội học giữa bán thế<br /> kỷ XX trở về sau được đánh dấu bởi<br /> những nỗ lực của một số nhà lý thuyết<br /> muốn vượt qua song đề trên, như T.<br /> Parsons, A. Touraine, A. Giddens (Bùi Thế<br /> Cường, 2010, P. Berger (Trần Hữu Quang,<br /> 2011), E. Goffman (Nguyễn Xuân Nghĩa,<br /> 2012a)...<br /> Trong việc giải quyết mối quan hệ giữa cấu<br /> trúc và hành động, theo Muller, xã hội học<br /> đã cho thấy ba dòng tư tưởng lớn: các lý<br /> thuyết về hành động, các lý thuyết về các<br /> hệ thống và các lý thuyết về cấu trúc hóa –<br /> mà Muller gọi là con đường thứ ba. Trong<br /> dòng lý thuyết cuối này, Muller đã nêu lên<br /> hai khuôn mặt lớn của xã hội học đương<br /> đại là P. Bourdieu (1930-2002) và A. Giddens<br /> (1920-)(1), (Muller, 2006, tr. 49). Bourdieu<br /> đã đưa ra lý thuyết cấu trúc thiết kế luận<br /> (structuralisme constructiviste) và lý thuyết<br /> hành động (praxéologie) và Giddens đưa<br /> ra lý thuyết cấu trúc hóa (structuration<br /> <br /> 72<br /> <br /> NGUYỄN XUÂN NGHĨA – PIERRE BOURDIEU VÀ ANTHONY GIDDENS…<br /> <br /> theory), như là những nỗ lực nhằm vượt<br /> qua song đề nói trên vốn đã thực sự chia<br /> rẽ các lý thuyết xã hội học cổ điển.<br /> Giữa hai tác giả này có nhiều khái niệm,<br /> liên hệ chung, nhưng các khác biệt giữa họ<br /> cũng không kém phần sâu sắc. Bởi lẽ, khi<br /> nhấn mạnh vai trò của chủ thể hành động,<br /> Giddens thường bị phê phán là “duy tâm”,<br /> “duy ý chí” và ngược lại lý thuyết của<br /> Bourdieu bị phê phán là rơi vào quyết định<br /> luận hay quá nhấn mạnh đến cấu trúc.<br /> 1.1. Lý thuyết cấu trúc thiết kế luận của<br /> Bourdieu<br /> Có thể xem như phần lớn các công trình<br /> của Bourdieu là một nỗ lực vượt qua các<br /> đối lập đã chi phối các lý thuyết xã hội học<br /> (duy khách thể/duy chủ thể, vi mô/vĩ mô, tự<br /> do/quyết định luận; cấu trúc/thiết kế...), thể<br /> hiện trong khoa học xã hội Pháp những<br /> năm 1950-1960 là sự đối lập giữa thuyết<br /> hiện sinh của J. P. Sarte và thuyết cấu trúc<br /> của C. Levy-Strauss. Bourdieu vượt lên<br /> những đối lập trên bằng cách hình thành<br /> các khái niệm mới như: tập tính (habitus),<br /> trường lực (champ), vốn (capital), cảm<br /> thức hành động (sens pratique)... Để vượt<br /> qua lý thuyết cấu trúc vốn khẳng định sự<br /> qui phục của chủ thể trước quy tắc cơ cấu<br /> của xã hội, đồng thời cả lý thuyết thiết kế<br /> (constructivisme) - quan niệm xã hội là sản<br /> phẩm của các hành động của các cá nhân,<br /> ông đề nghị gọi lý thuyết của mình là “lý<br /> thuyết cấu trúc thiết kế luận” (sructuralisme<br /> constructiviste) hay là “lý thuyết thiết kế<br /> cấu trúc luận” (constructivisme structuraliste)<br /> (Bourdieu, 1987, tr. 147). Qua đó, ông<br /> muốn nói rằng xã hội được hình thành từ<br /> những cấu trúc mà những cấu trúc này<br /> được xây dựng, thiết kế bởi những chủ<br /> <br /> thể (2) - như quan điểm lý thuyết thiết kế nhưng một khi đã hình thành các cấu trúc<br /> này lại chi phối hành động của các chủ thể như quan điểm của lý thuyết cấu trúc. Để<br /> nối kết những đối lập trên, lý thuyết xã hội<br /> học của Bourdieu dựa trên những khái<br /> niệm chính là tập tính, trường lực, vốn và<br /> cảm thức hành động(3).<br /> 1.1.1. Tập tính: liên kết cấu trúc và hành động<br /> Do tính phức tạp của nó, Bourdieu đã đưa<br /> ra nhiều diễn tả khác nhau về khái niệm<br /> tập tính. Trước hết, Bourdieu cho thấy tập<br /> tính khác tập quán (habitude): “Tập tính,<br /> như điều này nói lên, là cái mà người ta đã<br /> sở đắc. Nhưng tại sao không nói là tập<br /> quán. Tập quán được lập tức xem như cái<br /> gì lặp đi lặp lại, máy móc, tự động và là cái<br /> tái sản xuất ra. Nhưng tôi muốn nhấn<br /> mạnh ý tưởng tập tính là cái gì có sức<br /> mạnh sản sinh ra” (Bourdieu, 1980, tr. 134).<br /> Bourdieu làm rõ hơn nguyên tắc sản sinh<br /> (générateur) của habitus: “Tập tính đồng<br /> thời là [...] nguyên tắc sinh ra các hành<br /> động có thể phân loại cách khách quan và<br /> sinh ra hệ thống phân loại các hành động<br /> này. Chính trong tương quan của hai khả<br /> năng của tập tính – khả năng sản sinh các<br /> hành động và các phân loại và khả năng<br /> phân biệt và đánh giá các hành động và<br /> các sản phẩm ấy, mà hình thành xã hội<br /> được biểu trưng, có nghĩa là không gian<br /> các lối sống” (Bourdieu, 1979, tr. 190).<br /> Định nghĩa về tập tính quan trọng và tóm<br /> tắt nhất của Bourdieu: “Tập tính là cái cấu<br /> trúc cấu trúc hóa (structure structurante),<br /> có nghĩa là nó tổ chức các thực hành<br /> (pratiques), nhận thức về các thực hành,<br /> nhưng tập tính cũng là cấu trúc bị cấu trúc<br /> hóa (structure structurée): nó là nguyên tắc<br /> <br /> NGUYỄN XUÂN NGHĨA – PIERRE BOURDIEU VÀ ANTHONY GIDDENS…<br /> <br /> phân loại các loại logic vốn tổ chức nhận<br /> thức về xã hội. Và nguyên tắc này tự chính<br /> nó là sự nhập tâm của sự phân chia thành<br /> các giai cấp xã hội” (Bourdieu, 1979, tr.<br /> 191). Lấy thí dụ, nhờ các quy tắc ngữ pháp<br /> đã học được trong quá trình xã hội hóa, ta<br /> có thể tạo ra vô số câu. Điều này tương tự<br /> các tâm thế của tập tính: chúng là các<br /> khung nhận thức và hành động cho phép<br /> cá nhân sản sinh ra vô số thực hành xã hội<br /> tương ứng với các tình huống phức tạp<br /> của xã hội.<br /> Hay nói cách khác nữa, “Nói đến tập tính<br /> là cho rằng cái gì là cá thể, và cả cái riêng<br /> tư, chủ quan là cái xã hội, là cái tập thể.<br /> Tập tính là tính chủ thể bị xã hội hóa”<br /> (Bourdieu, 1992, tr. 101). Bourdieu phân<br /> biệt tập tính của cá nhân và tập tính giai<br /> cấp. Những cá nhân sống trong cùng một<br /> nhóm, giai cấp xã hội, vì đã qua quá trình<br /> xã hội hóa giống nhau, nên có những<br /> tương đồng trong cách suy nghĩ, cảm nhận,<br /> hành động.<br /> Ngoài đặc tính phát sinh (générateur) và<br /> tính thống nhất (unificateur), Bourdieu còn<br /> nêu lên độ trễ (hystérésis) và tính chuyển<br /> vị (transposabilité) của tập tính. Có nghĩa<br /> là, trong nhiều trường hợp cá nhân vẫn giữ<br /> tập tính cũ mặc dù bối cảnh xã hội đã thay<br /> đổi. Và tập tính có thể chuyển vị từ một<br /> hoạt động này sang một hoạt động khác.<br /> Đó cũng là trọng tâm của tác phẩm<br /> Distinction (Sự khác biệt, 1979), qua đó<br /> ông muốn minh chứng giả thuyết toàn bộ<br /> ứng xử của chủ thề có liên kết với nhau<br /> theo một “kiểu” (style) chung. Nghiên cứu<br /> này cho thấy, ví dụ về tầng lớp công nhân,<br /> trong lãnh vực ăn uống, họ chọn những gì<br /> bổ dưỡng, tạo năng lượng; trong lãnh vực<br /> <br /> 73<br /> <br /> nghệ thuật, họ không muốn cái gì trừu<br /> tượng mà hiện thực; trong ăn mặc: bền,<br /> chắc… Tất cả thực hành trên tạo ra một lối<br /> sống của công nhân, có đặc điểm, vì<br /> không dư dả về mặt kinh tế, nên bị chi phối<br /> bởi nguyên tắc của “cái gì cần thiết”, đã<br /> tạo ra những tâm thế đi tìm cái gì là hữu<br /> ích, là thiết yếu. Qua khái niệm tập tính,<br /> Bourdieu muốn nói đến mối liên kết giữa<br /> quá trình xã hội hóa và hành động của cá<br /> nhân.<br /> Tập tính như vậy là một tập hợp các cấu<br /> trúc tinh thần và các khung đã được nội<br /> tâm hóa, chúng chi phối cái mà cá nhân<br /> nhận thức, thấu hiểu, đánh giá và hành<br /> động trong xã hội. Tập hợp các khung này<br /> đã được sở đắc thông qua tương tác của<br /> cá nhân với xã hội và đặc biệt với các<br /> trường lực nơi cá nhân định vị. Tập tính là<br /> sản phẩm của một dòng đời cụ thể của cá<br /> nhân qua những vị trí, vai trò mà cá nhân<br /> đã đóng, qua quá trình xã hội hóa hay lịch<br /> sử cụ thể mà cá nhân đã trải nghiệm.<br /> Trước những tình huống gặp phải, cá nhân<br /> khai triển những tâm thế này và tập tính<br /> hành động như là sự khắc sâu của các cấu<br /> trúc khách quan vào các kinh nghiệm tinh<br /> thần, chủ quan của các chủ thể. Tập tính là<br /> sản phẩm của lịch sử, nhưng nó không<br /> phải là định mệnh, bởi lẽ nó bị hiệu chỉnh<br /> bởi lịch sử và các trường lực mà cá nhân<br /> tham dự vào: tập tính sản sinh ra những<br /> sản phẩm khác nhau tùy trường lực<br /> (Bourdieu, 1992, tr. 108-109).<br /> Tóm lại, “Người ta có thể hiểu rằng việc trở<br /> về cầu cứu đến khái niệm tập tính... là để<br /> thoát khỏi việc chọn lựa hoặc là lý thuyết<br /> cấu trúc không có chủ thể hoặc là triết lý<br /> về chủ thể” (Bourdieu, 1987, tr. 20).<br /> <br /> 74<br /> <br /> NGUYỄN XUÂN NGHĨA – PIERRE BOURDIEU VÀ ANTHONY GIDDENS…<br /> <br /> 1.1.2. Trường lực: không phải là những<br /> thiết chế, cấu trúc tĩnh mà là động thái của<br /> các không gian xã hội<br /> Xã hội học cổ điển quan niệm xã hội được<br /> hình thành từ những thiết chế như gia đình,<br /> chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa, tôn<br /> giáo... Các thiết chế này như là những cấu<br /> trúc có lực cưỡng ép lên ứng xử của cá<br /> nhân. Bằng khái niệm trường lực,<br /> Bourdieu phân tích thực tại xã hội bằng<br /> một quan điểm động hơn.<br /> Trong các tài liệu bằng tiếng Việt bàn đến<br /> khái niệm trường lực của Bourdieu, bài viết<br /> của Nguyễn Phương Ngọc (2010, tr. 249268) áp dụng khái niệm này để tìm hiểu<br /> lãnh vực văn học nghệ thuật, và bài của<br /> Nguyễn Xuân Nghĩa (2008, tr. 50-59) trình<br /> bày khái niệm này trong lãnh vực nghiên<br /> cứu xã hội học tôn giáo.<br /> Bourdieu quan niệm xã hội như là nơi giao<br /> thoa của nhiều trường lực - không nên<br /> hiểu theo nghĩa tĩnh của khái niệm lãnh<br /> vực mà nên hình dung như là những từ<br /> trường trong vật lý - bao gồm trường lực<br /> chính trị, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, tôn<br /> giáo... Mỗi trường lực được tổ chức theo<br /> một logic riêng được xác định bởi những<br /> mục đích, lợi ích, những quân chủ bài, luật<br /> chơi riêng. Ví như mục đích của trường<br /> lực chính trị là quyền lực, của trường lực<br /> kinh tế là lợi nhuận... Tương tác giữa các<br /> cá nhân trong một trường lực bị chi phối<br /> bởi vị trí cá nhân nắm giữ, bởi các loại vốn<br /> (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội...), bởi<br /> nguồn lực, bởi sách lược riêng của các tác<br /> nhân và họ đấu tranh với nhau để gia tăng<br /> các loại vốn – từ đó có được quyền lực<br /> hợp thức, nắm bạo lực biểu trưng. Ví như,<br /> Bourdieu trong tác phẩm Sự thống trị của<br /> <br /> nam giới (1990), cho thấy, trường lực tôn<br /> giáo - qua các tôn giáo lớn như Phật giáo,<br /> Kitô giáo, Islam giáo... đều dựa trên quy<br /> tắc lấy nam giới làm trọng tâm (principe<br /> androcentrique), dẫn đến việc hợp thức<br /> hóa sự thống trị của nam giới trên nữ giới<br /> (Bourdieu, 1990).<br /> Như vậy, trường lực là một không gian xã<br /> hội bao gồm nhiều vị trí mà những người<br /> nắm giữ hướng về cùng những lợi ích.<br /> Nhưng cá nhân có lợi ích nhiều ít khác<br /> nhau là tùy vị trí xã hội. Mỗi trường lực có<br /> qui luật riêng, nhưng đồng thời có một số<br /> qui luật chung, có sự đấu tranh giữa<br /> những tác nhân cũ và mới với những sách<br /> lược khác nhau (ví như giữa giáo hội<br /> (church) và giáo phái (sect), theo phân loại<br /> của M. Weber), chấp nhận cùng những<br /> mục đích và tất cả đều muốn sống còn. Sự<br /> vận hành của trường lực không chỉ tùy<br /> thuộc tương quan giữa những lực bên<br /> trong mà với cả các trường lực bên ngoài.<br /> Các trường lực vừa có tính tự lập vừa<br /> cộng tác, cạnh tranh, thỏa hiệp với nhau.<br /> Ví như trường hợp trường lực chính trị và<br /> tôn giáo nói chung đã cho thấy, khi thì hợp<br /> thức hóa nhau như trong các xã hội cổ<br /> truyền, khi thì tách ra qua quá trình phân<br /> biệt hóa định chế trong xã hội hiện đại, khi<br /> thì thỏa hiệp ngấm ngầm hay bằng các<br /> thỏa ước công khai - như các concordats<br /> (thỏa ước thời Napoléon ở Pháp...).<br /> 1.1.3. Cảm thức hành động (sens pratique)<br /> Trường lực và tập tính có quan hệ hai<br /> chiều, trường lực chỉ có thể tồn tại nếu các<br /> tác nhân xã hội có được tập tính cần thiết<br /> để duy trì trường lực và ngược lại khi tham<br /> gia vào trường lực, các tác nhân thấm<br /> nhập vào tập tính của mình những quy tắc<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2