RÁC THI ĐIỆN TỬ
Vấn đề rác thải điện tử: Xung đột môi trường giữa các nước công nghiệp và
các nước đang phát triển
Các thiết bđiện tử như ti vi, máy tính, điện thoại... ngày càng đóng vai trò không thế thiếu trong
cuộc sng hiện đại. Nhưng sau một thời gian hữu ích, các thiết bị này bị bỏ đi, trở thành rác thải.
Ngày nay, rác thải điện tử (e-waste) đang được coi là một thảm họa mới đối với nhân loại.
Tổng quan về rác thải điện tử và hiện trạng rác thải điện tử trên thế giới
Theo quan môi trường châu Âu (EEA), lượng rác điện tử thải ra trên thế giới là khong 40
triệu tấn/năm và loại rác thải này tăng nhanh gấp 3 lần so vi các loại rác khác. Một trong những
do lượng tiêu thloại sản phẩm này liên tục gia tăng, đặc biệt là các nước đông dân và
đang phát triển nhanh như Trung Quốc và Ấn Độ.
Theo Tchức Hòa bình Xanh, năm 2008, slượng người sử dụng điện thoại di động (ĐTDĐ)
trên thế giới đạt 2 tỷ, trong đó chỉ riêng Trung Quốc, số máy ĐTDĐ mới bán ra đã lên đến 150
triệu chiếc. Số các loại sản phẩm điện tkhác như máy vi tính, ti vi, máy chơi điện t... bán ra
cũng tăng t 10% - 400% mỗi năm. Đến năm 2010, trong tổng s710 triệu máy tính mi sản
xuất trên thế gii, 178 triệu là ở Trung Quốc và 80 triệu ở Ấn Độ. Ngoài ra, do công nghệ thay đổi
liên tục, vòng đời của các thiết bị điện tử sẽ ngắn n, vì thế, rác thải điện tử s nhiều n.
Chẳng hạn, theo Chương trình môi trường của Liên hp quốc (UNEP), vòng đi của mt chiếc
máy tính đã gim từ 6 năm xuống còn 2 năm; còn vòng đời của một chiếc ĐTDĐ là dưới 2 năm.
Vấn đề rác thải điện thiện đã đến mức báo động vì lượng rác quá lớn đang thải ra mi ngày
trên thế giói. Theo Silicon Valley Toxics Coalition (SVTC), mt tchức bảo v môi trường trụ
sở ở San Jose (Caliíornia, Mỹ), mỗi m có khoảng từ 20 - 50 triệu tấn rác điện tử được thải ra,
trong đó khoảng 130 triệu chiếc ĐTDĐ; 20 - 24 triệu ti vi và máy tính chưa được xử lý, vẫn
đang được lưu giữ tại nhà ở và văn phòng.
Chriêng Mỹ, đã khoảng 500 triệu máy tính cũ, trong đó chỉ khoảng 10% máy nh cũ được
tái chế. Tlệ tái chế máy tính trên thế giới không vượt quá 9%. châu Âu, hiện vẫn còn hơn 6
triệu tấn rác thải điện tử chưa được tái chế. Tại Mỹ Latinh, theo số liệu của Viện Sinh thái quốc
gia Mexico, 80% rác điện tử được bỏ ở các bãi rác hoặc gom tại nhà ở, cơ quan, xí nghiệp; 15%
được thu gom theo chương trình tái chế; 20% được tái sử dụng và ch 1% được cấp chứng
chỉ về xử lý ô nhiễm môi trường.
Các công ty sản xuất cũng chưa tích cực tái chế các sản phẩm điện tử cũ hỏng do hãng sản xuất
ra. Chẳng hạn, Nokia chỉ tái chế không nhiều hơn 2% số ĐTDĐ đã bán ra th trường - đây là một
kỷ lục đáng phê phán đối vi mt nhà sản xuất điện thoại hàng đầu thế giới như Nokia.
Các quc gia có ngành công nghiệp điện tử phát triển nhất thế giói như EU, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc,
Ôxtrâylia là các quốc gia thải nhiều rác điện tử nhất. Nhưng thay vì tái chế tại chỗ, các nước này
lại chọn cách nhanh gọn hơn: xuất khẩu ra nước ngoài. Phần lớn loại rác thải điện tử được xuất
khẩu sang những quốc gia đang phát triển dưới dạng đồ để bán lại hoặc tái chế. Theo Tổ
chức Hòa bình Xanh, t50% -80% rác thải điện tử Mỹ được xuất khẩu sang Trung Quốc, n
Độ và các quốc gia đang phát triển khác, trong đó có Việt Nam.
Những vấn đề kinh tế - xã hội - môi trường của rác điện tử
Vấn đề kinh tế
Các nước phát triển không muốn tái chế rác thải điện tmà lại xuất khẩu ra nước ngoài là vì như
vậy vừa giảm chi phí xử lý vừa đỡ ô nhiễm môi trường. Theo Cơ quan môi trường Mỹ, việc xuất
khẩu rác sang các nước đang phát triển sẽ giúp giảm 10 lần chi phí so vói việc tái chế đúng quy
cách tại các nước này. Mặt khác, việc tái chế hay tận thu linh kiện máy móc các nước
nghèo diễn ra dễ dàng n, tốn ít kinh phí hơn. Mặc dù, các nước công nghiệp tích cực tái chế
máy tính và đồ điện tử song từ 50 -80% lượng rác thu gom này là xut khẩu sang các nước
nghèo.
Các nước đang phát triển với tốc độ nhanh hiện nay như Trung Quốc, Ấn Độ... nhu cầu s
dụng các thiết bị tin học và điện tử công nghệ cao rất lớn. Sản xuất trong nước không đáp ứng
được nhu cầu của đông đảo người dân nên việc nhập khẩu rác điện tử là việc tất yếu. Mặt khác,
rác điện tử từ các nước công nghiệp được nhập vào các nước nghèo vi giá rất rẻ và thông qua
nhiều con đường. Ngay cả khi đã luật cấm nhập khẩu rác điện tử, các nước nghèo vẫn rất
khó khăn trong việc hạn chế lượng rác điện tử nguy hại vào nước mình. Thêm vào đó, lượng rác
điện tvi các linh kiện kỹ bị thải hồi không tận thu vào việc gì s làm tăng chi phí xtại
các nước nghèo và cách gii quyết phổ biến là chất đống và đổ chung ra bãi rác sinh hoạt hoặc
đổ ra sông hồ. Đây là cách giải quyết tiềm ẩn rất nhiều rủi ro cho cộng đồng.
Vấn đề xã hội
Các nước công nghiệp phát triển vi việc xuất khẩu rác điện tử được coi là việc làm tăng công
bằng xã hội khi những người dân ở nước nghèo được chuyển giao các tiện ích điện tử, máy tính,
điện thoại như ở nước giàu. Mặt khác, các nước giàu né tránh mọi trách nhiệm xã hội đối với vấn
đề rác điện tvà người dân các nước này vẫn duy trì thói quen tiêu dùng không bền vững: sử
dụng nhiều thiết bị điện tử và thay đổi liên tục công nghệ theo thị hiếu tiêu dùng.
Người dân nước nghèo sđược sử dụng đđiện tử vi giá rhơn trước do nguồn nhiên liệu
linh kiện từ rác điện tử thể lấy được rất lớn. Một bộ phận người n tại các nước nghèo
thêm sinh kế mới đó là thu gom, tận thu và tái chế một phần các loại linh kiện điện tử. Khu vực
Guiyu của Trung Quốc là bãi rác điện tlớn nhất thế giới. Mỗi công nhân đây được trả 2 - 4
USD cho việc phân loại, tháo rời hoặc phá hủy các bộ phận. Thị trấn Guiyu quê hương của
5.500 doanh nghiệp đang dồn hết sức gia công các sản phẩm điện tử loại bỏ, còn được gọi là
rác thải điện tử. Theo các website của địa phương, khu vực này tháo d1,5 triệu pound (cân
nặng Anh, 1 pound = 450g) máy vinh, điện thoại di động và các thiết bị loại thải trong mt năm.
Ngành công nghiệp "ngách" này thuê hàng chục nghìn người. Nhiều trong số các xưởng gia
đình nhỏ. Mỗi tấn phế thải linh kiện chứa lượng vàng nhiều gấp 17 lần so vói một tấn quặng kim
loại quý này và 40 lần so vói đồng.
Vấn đề môi trường và sc khỏe
Việc xuất khẩu rác điện tlà một giải pháp của các nước công nghiệp nhằm hạn chế chi phí x
lý, tái chế chất thải và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Nghiên cứu đăng trên tạp chí Foreign
Policy của Mỹ ước tính chi phí xử rác điện t sẽ là 11 t USD vào m 2009. Tuy nhiên,
chuyển rác ra nước ngoài srẻ hơn 10 lần so với việc tự xử trong nước. Điều này cũng
nghĩa là c nước công nghiệp thể dùng số tiền trên cho nhiều hoạt động khác của mình như
tăng an sinh xã hội hay phát triển bền vững. Mọi vấn đề tiêu cực từ rác thải điện tử được đưa
sang nước khác. Các nước nhập khẩu nhiều hàng này Trung Quốc, Ấn Độ và Nigieria. Theo
Silicon Valley Toxics Coalition, rác thải điện tử thể làm rò ri những chất độc chứa trong chúng
như chì, thủy ngân và cadmium vào nước, không khí. Một màn hình máy vi tính có th chứa 1,8 -
3,8kg chì - một slượng thể gây nguy hại cho cả một cộng đồng nếu chúng bị thải ra môi
trường. Kể cả khi được đưa vào các trung tâm tái chế rác thải, những rủi ro vẫn cận kề. Các
trung tâm này thường ngoài trời, công nhân sẽ tháo rời các bphận để tái chế và vứt những
phần không thể tái chế thành đống trong những bãi c lthiên. Hậu quả là môi trường và sức
khỏe người lao động bị ảnh hưởng. Tại các trung tâm xử rác thải điện tử các nước đang
phát triển, hầu hết người lao động sử dụng các cách thức truyền thống: dùng búa, đèn xì và tay
trần để lấy kim loại, thủy tinh và các chất liệu thể tái chế khác. Nhiều rác thải, đặc biệt tro từ
việc đốt than bị đổ xuống các con kênh và mương trong thị trấn, làm độc hại nước ngầm và
giếng.
Xung đột môi trường và hướng giải quyết vn đề trên
Xung đột môi trường (XĐMT) một chủ đề quan trọng hàng đầu trong các nghiên cứu xã hội
học môi trường. XĐMT là sxung đột về lợi ích giữa các nhóm xã hội trong khai thác và sử dụng
tài nguyên và môi trường. Sự xung đột về lợi ích có thlà giữa các cộng đồng trong xã hi, giữa
các quốc gia,... và giữa bảo tồn và phát triển mà đại diện là các nhóm khác nhau trong xã hội.
MT là một điều tất yếu trong xã hội hiện nay khi mà vấn đề BVMT và phát triển kinh tế chưa
dung hòa được với nhau.
Theo các phân tích trên vcác mặt kinh tế - xã hội và môi trường do rác điện tử mang lại,
chúng ta thấy có một sự XĐMT xảy ra giữa các nước công nghiệp phát triển với các nước nghèo
hơn; giữa nội bộ người dân tại các nước nghèo nơi rác điện tử được chuyển đến (giữa một
nhóm nhkinh doanh rác điện tử và súc khỏe nguôi dân và sự lành mạnh của môi trường sống
của số đông cộng đồng); mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên ngày càng cn kiệt và sức tiêu dùng
ngày càng tăng ở các nước công nghiệp và các nước đang phát triển.
Hiện nay, tỷ lệ rác thải điện tử được tái chế trên thế giới còn rất thấp. Theo Tổ chức Hòa bình
Xanh, chkhoảng 10% lượng máy tính cũ hỏng được tái chế; tỷ lđiện thoại di động cũ hỏng
được tái chế còn thấp hơn, chỉ khoảng từ 2% - 3%. Nói cách khác, tl rác thải điện tử không
được tái chế lên tới 91%.
Trên thực tế, để đối phó với cuộc khủng hoảng rác điện ttrên thế giới, các tchức quốc tế và
từng quốc gia đã đề ra những quy định bắt buộc vquản và xrác thải độc hại. Một trong
những giải pháp giúp giải quyết tận gốc vấn đề rác thải điện tử là gắn trách nhiệm vói nhà sản
xuất. Các chuyên gia cho rằng việc gắn trách nhiệm cho nhà sản xuất sẽ mang lại 2 lợi ích.
Thnhất, các nhà sản xuất sẽ đưa chi phí quản c thải vào giá thành sản phẩm. Cách làm
này sẽ thúc đẩy hthay đổi thiết kế sản phẩm theo hướng thân thiện với môi trường hơn và kéo
dài vòng đời của sản phẩm. Chẳng hạn, thay vì thiết kế một chiếc ti vi hay máy nh chỉ sử dụng
được trong 3 năm, nhà sản xuất sẽ phải thiết kế chúng có độ bền gấp đôi. Như thế, họ sẽ đỡ mất
công sức và tiền bạc cho việc tái chế rác điện tử. Thứ hai, các nhà sn xuất sẽ buộc phải thiết kế
các sn phẩm "sạch" hơn bằng cách loại bớt các chất nguy hiểm, thay thế các chất gây hại bằng
cách sử dụng các vt liệu thay thế an toàn hơn.
Mặt khác, các chính phủ cũng cần luật hạn chế nhập rác điện tử và nhận thức của công
chúng một phần không thể thiếu. Khi nhận thức đúng đắn, các cộng đồng n cư quốc gia
tiếp nhận rác thải sẽ thái độ phản đối, còn các cộng đồng dân các nước xuất khẩu rác
thải sẽ hiểu được rằng những mặt tích cực của cuộc sống hiện đại ch mang đầy đủ ý nghĩa nếu
không phải trả giá bằng sự thiệt hại vmôi trường, sự đầu độc những người nghèo và cộng
đồng dân cư ở nhữngi khác.
Vphần mình, chính người tiêu ng cũng thể góp phần giảm thiểu lượng rác thải điện tử
bằng cách lựa chọn các sản phẩm của các công ty có hỗ trợ i chế rác thải. Khi muốn vứt bỏ
mt sản phẩm điện tử, nguôi sử dụng cần bỏ các loại phế phẩm điện tử vào đúng nơi quy định.
Trương Việt Trường
Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ - Luyn Kim, Bộ Công Thương
TCMT 08/2011