
1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
BẢN ĐĂNG KÝ SÁNG KIẾN NĂM 2018
TÊN SÁNG KIẾN:
RÈN KỸ NĂNG LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC TRONG ĐỀ THI THPT
QUỐC GIA QUA HAI TÁC PHẨM NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ – NGUYỄN TUÂN
VÀ AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG? – HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
Tác giả sáng kiến: Tạ Anh Ngọc, Hoàng Thị Lâm,
Tạ Hoàng Tâm, Đ
ặng Thị Mai Hoa
Đơn vị công tác: Tổ Ngữ văn
Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy
Ninh Bình, tháng 5 năm 2018

2
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi (1): Sở giáo dục và đào tạo Ninh Bình
Chúng tôi ghi tên dưới đây:
TT Họ và tên
Ngày tháng
năm sinh Nơi công tác Chức vụ
Trình độ
chuyên
môn
T
ỷ lệ (%)
đóng góp
vào việc
tạo ra
sáng kiến
1 Tạ Anh Ngọc 09/12/1976
Trường THPT
chuyên Lương
Văn Tụy
Giáo viên
Ngữ Văn Thạc sĩ 25%
1 Hoàng Thị Lâm
25/07/1980
Trường THPT
chuyên Lương
Văn Tụy
Giáo viên
Ngữ Văn Thạc sĩ 25%
2 Tạ Hoàng Tâm 22/03/1981
Trường THPT
chuyên Lương
Văn Tụy
Giáo viên
Ngữ Văn Thạc sĩ 25%
2 Đặng Thị
Mai Hoa 09/08/1987
Trường THPT
chuyên Lương
Văn Tụy
Giáo viên
Ngữ Văn Thạc sĩ 25%
I. Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng
Là nhóm tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến RÈN KỸ NĂNG LÀM BÀI NGHỊ
LUẬN VĂN HỌC TRONG ĐỀ THI THPT QUỐC GIA QUA HAI TÁC PHẨM NGƯỜI
LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ – NGUYỄN TUÂN VÀ AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG? –
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
Lĩnh vực áp dụng: Dạy học Ngữ Văn ở trường THPT, ôn thi THPT Quốc gia.

3
II. Nội dung sáng kiến
1. Giải pháp cũ thường làm
Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường là hai nhà văn có thực tài về thể kí. Sách
giáo khoa Ngữ văn lớp 12 tập 1 đã giới thiệu hai tác phẩm tiêu biểu cho phong cách viết
kí của hai nhà văn, đó là tác phẩm Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân và Ai đã đặt
tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nhưng thực tế khi giảng dạy và ôn thi
THPT Quốc gia, GV và HS thường chỉ tập trung vào các tác phẩm thuộc thể loại khác
dễ nắm bắt, khám phá hơn như thơ, truyện ngắn, kịch mà chưa có sự quan tâm thích
đáng đến thể ký. Thể kí là một thể loại đặc biệt nếu thầy cô chỉ quan tâm tới những kiến
thức có sẵn trong bài văn thì khó mà giảng hay được, dẫn đến giờ học bài kí muôn thuở
vẫn khô khan, học sinh khó tiếp nhận được văn bản. Vì thế, có thể khẳng định
rằng: giảng dạy một tác phẩm kí là sự khó khăn, vất vả, công phu đối với giáo viên. Hơn
nữa hai nhà văn đều là những cây bút tài hoa uyên bác, thể hiện trên trang viết những tri
thức đa ngành, những liên tưởng tạt ngang tạt dọc khiến hai tác phẩm đều khó nắm bắt
với đối tượng học sinh. Vì vậy các em đa phần đều “ngại” hai tác phẩm này. Để giúp
GV và nhất là học sinh có kiến thức và kĩ năng làm dạng bài nghị luận văn học (dạng
bài chiếm nhiều điểm nhất trong đề thi THPT Quốc gia) về thể kí, chúng tôi đã chọn đề
tài này.
Từ trước đến nay, với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu
thường đi sâu tìm hiểu cách dạy học hai tác phẩm trên theo đặc trưng thể loại, theo chủ
đề... Thực tế hầu hết các công trình, bài viết, các sách tham khảo hiện nay mới chỉ dừng
ở việc hướng dẫn HS dạng đề phân tích cảm thụ; hoặc chỉ một số dạng đề nghị luận một
ý kiến bàn về văn học hay dạng đề so sánh. Chưa có đã có nhiều bài bình luận, phân
tích, cảm nhận về hai tác phẩm trên nhưng chưa có một công trình, bài viết nào rèn
luyện cho học sinh những kĩ năng làm dạng đề nghị luận văn học qua hai tác phẩm này
với ba dạng cơ bản nhất (dạng đề phân tích cảm thụ; dạng đề bàn luận về một ý kiến văn
học; dạng đề liên hệ - so sánh, đặc biệt là liên hệ với kiến thức chương trình Ngữ văn
11).
Với phương pháp tìm hiểu vấn đề như trên, có thể nhận thấy những ưu, nhược
điểm như sau:
* Ưu điểm:
- Cung cấp cho học sinh kiến thức chuẩn của từng bài, đảm bảo nhu cầu nắm
“cấp tốc” kiến thức để phục vụ kiểm tra, thi cử.
* Nhược điểm:

4
- Người học không có được cái nhìn hệ thống về hai tác phẩm ký. Không được
rèn kỹ năng làm đề. Trong khi đây là mục tiêu quan trọng hàng đầu để các em đạt điểm
cao trong bài thi THPT Quốc gia cũng như trong tất cả các kỳ thi.
- Phương pháp cũ cũng không đáp ứng được yêu cầu tích hợp, liên môn, rèn kỹ
năng, phát triển năng lực theo hướng đổi mới giáo dục hiện nay.
Đề tài của chúng tôi đã cung cấp những tri thức và kĩ năng cơ bản nhất để phục
vụ cho công việc giảng dạy của giáo viên cũng như ôn thi THPT Quốc gia cho các em
học sinh.
2. Giải pháp mới cải tiến
Trước thực tế ấy, chúng tôi luôn trăn trở tìm ra cách để giúp HS nắm được các kỹ
năng phương pháp làm các dạng đề nghị luận văn học qua hai tác phẩm ký tiêu biểu
trong chương trình, nhằm tạo hứng thú cho cả người dạy và người học; phát triển toàn
diện năng lực HS, đáp ứng được các yêu cầu của đề thi THPT Quốc gia.
Chúng tôi đã vận dụng đề tài vào thực tế giảng dạy và ôn thi THPT Quốc gia cho
HS và đã đạt được những hiệu quả mong đợi. Có thể nói đây là một đề tài có ý nghĩa
quan trọng, thiết thực, hiệu quả trong việc rèn kỹ năng, phương pháp cũng như cung cấp
kiến thức cho HS. Cụ thể như sau:
Tính mới, tính sáng tạo:
` - Với đối tượng nghiên cứu là “Rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học trong đề
thi THPT Quốc gia qua hai tác phẩm Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân và Ai đã đặt
tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường”, người viết tập trung chủ yếu vào việc:
+ Hệ thống một cách khoa học các dạng đề và kỹ năng, phương pháp làm dạng
bài nghị luận văn học (3 dạng đề nghị luận văn học cơ bản: dạng đề phân tích, cảm thụ
tác phẩm văn học; dạng đề nghị luận một ý kiến bàn về văn học; dạng đề so sánh văn
học).
+ Hệ thống ngắn gọn, khoa học các kiến thức cơ bản về tác giả, tác phẩm.
+ Hệ thống đề luyện tập phong phú, mới mẻ về hai tác phẩm.
+ Làm rõ yêu cầu và phương pháp, kĩ năng làm bài của
- Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết sử dụng kết hợp nhiều phương pháp
nghiên cứu khác nhau như:
- Khảo sát, thống kê: xử lí tài liệu, tìm ra những nét nổi bật trong phong cách viết
kí của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường.
- Phân tích, tổng hợp: chứng minh, lí giải, khái quát để làm sáng tỏ yêu cầu của
các dạng đề liên quan đến hai tác phẩm.

5
- So sánh đối chiếu: được sử dụng để tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa các
đối tượng được so sánh trong dạng bài liên hệ - so sánh vấn đề văn học của lớp 12 với
vấn đề của lớp 11.
Với cách làm như vậy, chúng tôi đã khắc phục được hạn chế của những giải pháp
truyền thống khi tìm hiểu hai tác phẩm trên. Đó là chỉ quan tâm đến tri thức, kiến thức.
Đề tài này ngoại hệ thống kiến thức khoa học, logic, đầy đủ còn có cả hệ thống phương
pháp làm bài và các dạng đề luyện tập phong phú, phục vụ hữu ích cho GV và HSđã
cung cấp cho GV những tài liệu thiết thực ý nghĩa cho quá trình giảng dạy, ôn tập và rèn
luyện những kỹ năng, phương pháp làm bài cho HS.
III. Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội dự kiến đạt được
1. Hiệu quả kinh tế
HS thường phải chi phí rất nhiều tiền của để mua các sách tham khảo (ước tính
trung bình 100. 000 đồng/ quyển), học các khóa học trên mạng xã hội để ôn thi THPT
Quốc gia (khoảng vài trăm ngàn đồng). Đề tài này của chúng tôi sẽ giúp các em HS và
các GV tiết kiệm một khoản chi phí lớn. Đây là tài liệu bổ ích để các GV tham khảo
giảng dạy, ôn tập cho HS; cũng là tài liệu hữu ích giúp các em HS ôn thi THPT Quốc
gia hiệu quả.
2. Hiệu quả xã hội
- Giúp ích cho việc giảng dạy, ôn tập của GV; ôn thi THPT Quốc gia của HS.
- Khơi gợi niềm hứng thú, say mê khám phá thể kí, thấy được phong cách nghệ
thuật đặc sắc của hai nhà văn.
IV. Điều kiện và khả năng áp dụng
Có thể áp dụng cho việc giảng dạy, học tập và ôn thi THPT Quốc gia Vì vậy,
sáng kiến này rất phù hợp đối với đối tượng là GV và HS trong nhà trường phổ thông.
Chúng tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật
và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
XÁC NH
ẬN CỦA L
ÃNH
Đ
ẠO
ĐƠN VỊ
Ninh Bình, ngày 1 tháng 5 năm 2018
Người nộp đơn

