
1
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NGHỆ AN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TIN TỨC
THỜI SỰ TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ
THẾ GIỚI (CHƢƠNG TRÌNH LỚP 12) NHẰM
TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC MÔN LỊCH SỬ”
LĨNH VỰC: LỊCH SỬ
Năm học: 2021 – 2022

2
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƢỜNG THPT NAM ĐÀN 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TIN TỨC
THỜI SỰ TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ
THẾ GIỚI (CHƢƠNG TRÌNH LỚP 12) NHẰM
TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC MÔN LỊCH SỬ”
TÁC GIẢ: HOÀNG THỊ THANH HƢƠNG
TỔ: XÃ HỘI - MÔN : LỊCH SỬ
SỐ ĐIỆN THOẠI: 0983272968
NĂM HỌC: 2021-2022

3
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Lí luận mà không liên hệ với
thực tiễn là lí luận suông. Thực tiễn mà không có lí luận hướng dẫn thì là thực
tiễn mù quáng”. Như chúng ta thấy chương trình giáo dục hiện hành của nước ta
đang chuyển mình dần từ hướng dẫn học sinh tiếp cận nội dung kiến thức sang
tiếp cận năng lực người học. Thực hiện các Nghị quyết của Đảng-Nghị quyết số
29/NQ-TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Nghị quyết 88/2014/QH13 Quốc hội quy
định: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo
chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông;
kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền
giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả
về phẩm chất và năng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm
năng của mỗi học sinh.” và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ thì chương
trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo định hướng “phát triển phẩm
chất và năng lực của học sinh; tạo môi trường học tập và rèn luyện giúp học
sinh phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, trở thành người học tích cực, tự
tin, biết vận dụng các phương pháp học tập tích cực để hoàn chỉnh các tri thức
và kĩ năng nền tảng, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời ” nhằm
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn
cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới.
Lịch sử là môn học trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về khoa
học lịch sử, cũng như vận dụng những kiến thức đó vào cuộc sống để biết cách
ứng xử với quá khứ, hiện tại, tương lai một cách phù hợp, đồng thời đáp ứng với
yêu cầu phát triển của đất nước. Bài giảng môn Lịch sử không chỉ là một bài học
về kiến thức cơ bản, rèn luyện kỹ năng, về giáo dục tư tưởng mà còn là một bài
học về giáo dục nhân cách con người. Mỗi bài giảng Lịch sử cần chứa đựng một
thực tế nhất định của đời sống nhằm đáp ứng nhu yêu cầu ngày càng phát triển
của xã hội. Mà trong định hướng xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới
khẳng định: “môn Lịch sử THPT giúp học sinh phát triển năng lực lịch sử, biểu
hiện của năng lực khoa học đã được học sinh hình thành ở cấp THCS; góp phần
giáo dục tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, các giá trị truyền thống tốt đẹp của
dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, các phẩm chất, năng lực của người công
dân Việt Nam, công dân toàn cầu phù hợp với xu thế phát triển của thời đại;
giúp học sinh nhận thức và nhận thức rõ vai trò, đặc điểm của khoa học lịch sử
cũng như sự kết nối giữa sử học với ngành nghề khác, tạo cơ sở để học sinh
định hướng nghề nghiệp trong tương lai”. Chính vì thế việc gắn kiến thức lí
thuyết lịch sử vào thực tiễn là vô cùng quan trọng.

4
Tuy nhiên, đa số các em chỉ mới chú trọng tiếp nhận các thông tin ca nhạc
giải trí, văn hóa du lịch, thể thao vào mục tiêu giải trí mà chưa chú ý đến các
thông tin về xây dựng phát triển kinh tế, thành tựu khoa học kĩ thuật, chính trị
đối ngoại của các quốc gia dân tộc để phục vụ cho việc học tập trở thành người
học tích cực, tự tin. Việc học tập môn Lịch sử của các em học sinh còn hạn chế,
phần lớn các em đang còn thụ động trong việc tiếp thu kiến thức, việc tìm tòi,
khám phá những kiến thức mới ngoài sách giáo khoa Đa số học sinh thờ ơ với
môn sử, không hứng thú học tập. Đôi khi GV chưa quan tâm hướng dẫn, học
sinh chưa chủ động vận dụng kiến thức bài học với thực tiễn. Bởi vậy, chất
lượng dạy và học môn lịch sử ở trường THPT chưa cao
Vì vậy, để nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử 12, tăng cường hiểu biết
của HS về những vấn đề mới nảy sinh trong thực tế ngoài sách giáo khoa, tôi đã
lựa chọn sáng kiến “Một số biện pháp sử dụng tin tức thời sự trong dạy học
phần Lịch sử thế giới ( chương trình lớp 12) nhằm tạo hứng thú cho học sinh
trong dạy học môn Lịch sử” để nghiên cứu.
Với đề tài này, tôi mong muốn giúp học sinh trên cơ sở tiếp nhận những
thông tin mới mang tính thời sự nhằm hệ thống hóa kiến thức trong sách giáo
khoa với kiến thức thực tiễn để tạo hứng thú cho học sinh đối với môn lịch sử
đồng thời tiếp nhận các kiến thức mang tính thời đại trong việc lựa chọn nghề
nghiệp cho tương lai. Đồng thời có thể góp thêm một vài ý kiến đề nâng cao
chất lượng, hiệu quả trong dạy và học môn Lịch sử .
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Thông qua việc vận dụng kiến thức mới, liên hệ thực tiễn, đề cao tính thời
sự học sinh sẽ giúp giáo viên và học sinh nhận thấy rõ sự cần thiết phải vận
dụng những kiến thức mới nảy sinh, liên hệ thực tế đến những nội dung của môn
học để nhằm tăng thêm hiệu quả giảng dạy, thấy được sự gắn kết giữa bài học
với cuộc sống thực tế hàng ngày. Qua đó, giúp học sinh phát triển năng lực nhận
thức lịch sử, năng lực tìm hiểu lịch sử, năng lực vận dụng kiến thức, kỹ năng
Lịch sử đã học vào thực tiễn một cách có hiệu quả, có thể giải quyết các vấn đề
thực tiễn của cuộc sống. Từ đó làm cho nội dung bài học sinh động, hấp dẫn
hơn, tăng hứng thú hoc tập cho học sinh hơn. Tạo được niềm yêu thích và động
cơ học tập lâu dài. Kết quả nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử THPT nói
riêng và chất lượng giáo dục nói chung.
3. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Đối tƣợng nghiên cứu: “Một số biện pháp sử dụng tin tức thời sự trong
dạy học phần Lịch sử thế giới ( chương trình lớp 12) nhằm tạo hứng thú cho học
sinh trong dạy học môn Lịch sử”

5
Phạm vi nghiên cứu: Sáng kiến được nghiên cứu và áp dụng đối học sinh
lớp 12 tại trường THPT Nam Đàn 2.
Thời gian nghiên cứu: gần 02 năm từ tháng 8/2020 đến tháng 3/2022.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Để thực hiện sáng kiến này, tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: tôi sử dụng phương pháp này vào
việc nghiên cứu toàn bộ các tài liệu liên quan đến sáng kiến. Nghiên cứu những
thành tựu lí thuyết đã có làm cơ sở lí luận.
- Phương pháp phỏng vấn: Tham khảo ý kiến của các giáo viên THPT để
chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện sáng kiến.
- Phương pháp quan sát sư phạm: Phương pháp này được vận dụng để
quan sát trực tiếp việc vận dụng kiến thức thực tiễn để giải quyết các vấn đề nêu
ra trong bài học của học sinh trong tiết dạy hoặc trong các đợt kiểm tra.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế: Phương pháp này được sử dụng
để điều tra thực trạng việc liên hệ thực tiễn trong dạy và học Lịch sử trong
trường (Thăm dò ý kiến của giáo viên, học sinh)
- Phương pháp thống kê, tổng hợp: Phương pháp này dùng để phân tích số
liệu, so sánh kết quả áp dụng sáng kiến với khi chưa áp dụng sáng kiến.
5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Sáng kiến của tôi đã giải quyết được những vấn đề còn hạn chế trong việc
dạy học Lịch sử như:
Giáo viên chỉ đưa ra được các câu hỏi liên quan đến kiến thức trong SGK
mà chưa đưa ra được các câu hỏi có vấn đề và các hình thức học tập phù hợp với
việc gắn kiến thức lí thuyết với thực tiễn, tích hợp tính thời sự.
Học sinh chưa đi sâu vào quá trình giải thích, giải quyết các vấn đề liên
quan đến thực tế, chưa biết vận dụng kiến thức lịch sử vào cuộc sống, học sinh
chưa hứng thú với việc học lịch sử.
Sáng kiến đã đưa ra những giải pháp phù hợp để khắc phục như sau: Cập
nhật tin tức thời sự, gắn lí thuyết với thực tiễn trong hoạt động mở đầu, trong
hoạt động hình thành kiến thức mới, trong hoạt động luyện tập - vận dụng,
hướng dẫn học sinh tự học, trong kiểm tra, đánh giá.
Sáng kiến này giúp bản thân tôi cũng như các giáo viên trong trường chủ
động hơn vì được trang bị kiến thức cơ bản về giáo dục tích hợp, gắn lí thuyết
với thực tiễn, đề cao tính thời sự. Học sinh có khả năng vận dụng kiến thức thực
tế, có khả năng tổng hợp kiến thức lịch sử đồng thời phát triển được năng lực,
phẩm chất cho học sinh.

