1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng xét sáng kiến sở Giáo dc Đào tạo tỉnh Ninh Bình.
Chúng tôi gồm:
S
T
T
Họ và tên Ngày tháng
năm sinh
Nơi
công tác
Chức
danh
Trình độ
chuyên
môn
Tỷ l (%)
đóng góp
vào việc
tạo ra ng
kiến
1 Bùi ThThanh Hoa 05/11/1972 Trường
Tiểu học
Th trấn
Me
Giáo
viên
Đi học
Sư phạm 50 %
2 Hng Th Minh Cu 03/10/1975
Cao
đng Sư
phạm
50 %
nhóm tác giđề nghị xét ng nhn sáng kiến: "MỘT S BIN PHÁP
DẠY PHẦN ÂM MÔN TIÊNG VIỆT LỚP 1 - CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC."
I. Lĩnh vực áp dụng của sáng kiến:
1. Lĩnh vực áp dụng: ng kiến áp dụng trong việc dạy cho học sinh lớp 1
ghi nhớ âm, đọc và viết đúng tốc độ theo quy định.
2. Vấn đề mà sáng kiến giải quyết:
Tiếng Việt 1 - CGD một môn học giúp học sinh nắm bắt được ngữ âm
trong Tiếng Việt, phần "âm" là công chtrợ đắc lực chiếm tỉ ltrọng yếu. vy
học sinh cần phải thuộc tất cả các chữ cái trong bảng, nắm được cấu trúc ngữ âm
Tiếng Việt, biết phân biệt nguyên âm phụ âm, phân tích âm, tiếng. Nhớ luật
chính tả mỗi khi viết, như vy tcác em mới phát âm, ghép vần, đọc tiếng, từ
u đúng. Ngoài ra tạo cơ hội cho trẻ có khả ng duy ng tạo trong các tiết
học, các em sẽ là người chủ động đọc trơn, đọc hay và viết đẹp.
II. Mô tả bản chất của sáng kiến:
1. Nội dung của sáng kiến:
1.1. Thực trạng giải pháp:
* Ưu điểm:
Giáo viên sử dụng phương pháp đọc mẫu, luyện tập thc hành, luyện tập củng
cố, hỏi đáp (đặt câu hỏi để học sinh tự tìm và phát hiện âm mới, tiếng mới). Bản thân
giáo viên phải nắm vững phương pháp dạy học, phát âm chuẩn, đọc mẫu tốt, coi
trọng dạy phần âm. Giáo viên lớp đầu cấp rất coi trọng phn luyện phát âm, đọc
tiếng, đọc từ. Khi dạy phần âm theo CGD, i nhận thấy phần lớn các em cý sửa
li phát âm, luyn đọc tiếng, từ. Các em trong nhóm tnhận xét đánh giá nhau rất
tốt, bước đầu biết sửa chữa cho bạn cùng nhau tiến bộ. Bên cạnh đó vẫn còn những
tồn tại sau:
2
*Nhược điểm:
Hin nay một bộ phận nhỏ giáo viên chưa quan m đúng mức đến việc dạy
học nhm phát huy tính tích cực của học sinh. Việc định hướng cách học cho trẻ còn
hạn chế nên khi tìm hiểu vâm trẻ không chđộng trong hoạt động học của mình,
thiếu tự tin khi đọc bài, viết bài trước lớp. Đôi khi còn chủ quan cho rằng trẻ đã
biết nên lơ là việc giámt, chưa thường xuyên kiểm tra nhắc lại luật chính tả.
Trình độ nhận thức của các em chưa đồng đều, kh năng ghi nhâm còn
chậm, học trước quên sau. Trẻ từ trường Mầm non lên, một số em chưa thuộc hết
bảng chữ i, chưa biết phân biệt nguyên âm, phụ âm nên việc bắt nhịp với môi
trường học tập mi rất khó khăn, hơn nữa trẻ còn rụt rè, nhút nhát.
Nhiều phụ huynh phó mặc việc dạy dỗ cho cô giáo hoặc có quan tâm nhưng
không thường xuyên liên tục. Một bộ phận dạy con theo chương trình hin hành
dẫn đến cách đánh vần, phát âm và cả kĩ năng viết chưa thống nhất với cô. Để khắc
phục tình trạng trên chúng tôi đã áp dụng một số giải pháp sau:
1.2. Một số giải pháp thực hiện.
Giải pháp 1: Phân loại đối tượng học sinh:
Khi nhận lớp, chúng tôi điều tra nắm đối ợng để phân loại học sinh. Sắp
xếp chỗ ngồi phù hợp, quan tâm đến mi đối tượng học sinh, tạo hội để học sinh
được tích cực, chủ động tham gia các hoạt động học. Chú trọng đến những em phát
âm chưa đúng, ghi nhbài còn chậm từ đó chia các nhóm cụ thể như sau:
Nhóm 1: Học sinh phát âm tốt, đọc lưu loát, mạch lạc, khi giao tiếp biết thể
hin lời nói biu cảm, lịch sự. Những em này được phân m nhóm trưởng, nhân
vật nòng cốt trong các giờ luyện đọc trên lớp, trong các giờ tự học của lớp.
Nhóm 2: Học sinh phát âm tương đi ràng, đọc trôi chảy, nhưng chưa
thhiện được ngữ điệu đọc.
Nhóm 3: Học sinh nhút nhát, khả năng đọc chm còn đánh vần, ít khi sử dụng
lời nói lịch sự trong giao tiếp, nói năng cộc lốc, ca diễn đạt trọn ý.
Tn sở đó, chúng tôi lp kế hoạch luyện đọc riêng cho phù hợp với c nhóm.
Chuyển nhóm cho các em nếu có nhiều tiến bộ, t đó khích lc em khác cố gắng.
Giải pháp 2: Dạy tốt phần âm theo quy trình 4 việc.
hai tuần 0 cùng với việc phân loại đối tượng chúng i giúp các em m
quen với môi trường học tập mới, n n nếp, phương pháp học tập. Thực hin
nhim vụ học tập theo CGD: c ký hiệu B (bảng), S (sách), V (vở), N (nhóm);
Thao tác đọc trơn, phân tích, ….
VD: Khi cô chỉ vào (S) là lấy sách; chỉ vào (N) là đọc trong nhóm;….
Phần âm dạy học trong 9 tuần (mẫu ba là quan trọng nhất). Dạy phần âm, giáo
viên phải phát âm chính xác, thực hiện nghiêm túc theo quy trình 4 việc. Cụ thể:
Việc 1: Chiếm lĩnh ngữ âm:
Học sinh phát âm tiếng chứa âm mới, nhận ra âm mới là nguyên âm hay phụ âm
và phát âm theo 4 mức độ, vđược mô nh phân ch tiếng. lắng nghe sửa lỗi triệt
để cho từng nhân, gp trnhớ âm, phát âm đúng, viết đẹp, nhanh, học đâu chắc đó.
3
Việc 2: Viết chữ ghi âm.
a, Hướng dẫn viết bảng:
Cho học sinh quan sát chữ in để nhmẫu chữ vừa học. Giáo viên giới thiệu
ớng dẫn chữ viết thường theo đúng quy trình viết với 3 điểm tọa độ: điểm bắt đầu,
điểm chuyển ớng bút, điểm kết thúc. Cần chú ý tư thế đứng sao cho trẻ quan t
tay và phải viết đẹp. Học sinh tập viết bảng, kiên trì sửa chữa những điểm viết
chưa chính xác, nhận xét và khen kịp thời những em có tiến bộ. Khi trẻ viết tiếng mới,
chúng tôi đã lưu ý cách ghi các nét nối và vị trí đánh dấu thanh của tiếng.
b, Hướng dẫn viết vở Em tập viết:
Học sinh đọc và nêu nội dung bài viết, quant k mẫu chữ, cỡ chữ (hướng dẫn
ch ch, khoảng ch giữa các chữ theo điểm đặt bút trong vở, nét nối gia các con
chữ, khoảng ch giữa các tiếng trong một từ). Giáo viên kiểm soát qtrình viết để
biết được các em đã nhớ chắc âm chưa và chỉnh sửa ngay khi chưa thành thói quen.
Việc 3: Đọc.
a. Đọc trên bảng.
- Đọc từ dễ đến khó (đọc âm - tiếng có thanh ngang - tiếng có dấu thanh)
- Giáo viên chọn âm, tiếng tùy vào đối tượng trong lớp mình sửa sai
bằng các hình thức khác nhau: học sinh tự sửa khi nhận ra mình đọc sai, sửa cho
bạn cùngn. Nếu học sinh không sửa được cô phải hướng dẫn cách phát âm.
*Đọc phân tích đkim tra” đc tn. Đọc tn để “thm định” đc pn tích.
b. Đọc trong sách giáo khoa.
* Chú ý: Sử dụng nhiều hình thức đọc (cá nhân, cặp đôi, nhóm, tổ, cả lớp) ở
các mức độ đọc (T- N- N- T) phát huy tốt vai trò của hội đồng tự quản.
Việc 4: Viết chính tả:
a. Viết trên bảng. Giáo viên thực hin đúng theo quy trình mẫu:
- Bước 1: Phát âm lại (đồng thanh).
- Bước 2: Phân tích (bằng thao tác tay).
- Bước 3: Viết
- Bước 4: Đọc lại
* Chú ý: Kỹ thuật rê phấn, nhẩm thầm khi viết cho đúng, đều và đẹp.
b. Viết vào vở chính tả:
Khi đọc cho học sinh viết bắt buộc cô phải phát âm chuẩn. Muốn trẻ ghi nhớ
bài và đồng thời để kiểm tra mức độ học của trẻ cô cần đọc cho học sinh viết lại âm,
cũng thể giáo viên viết nguyên âm, phụ âm vào bảng con học sinh đọc lại. ôn
lại những âm đã học ở mi lúc mi nơi để gp trẻ ghi nhớ thường xuyên.
Giải pháp 3: Giúp học sinh nắm vững luật chính tả.
Khi dạy phần âm TV1 - CGD phải dạy cho học sinh nắm vững luật chính tả
thì các em mới đọc, viết đúng. Dạy Tiếng Việt dạy chữ ghi âm, nghe sao viết
vậy, học sinh phải được nhìn, nghe và luyện phát âm đúng. Với những âm được ghi
bằng hai, ba, bốn chữ i: ch, ng, ngh, gh, nh, nếu học sinh kng nhgiáo
viên phải nhắc lại cho các em nhẩm theo 4 mức độ T-N-N-T đồng thời cho học
4
sinh nêu luật chính tả. Điểm khác biệt là dạy âm /cờ/ theo CGD ba cách viết
(c/k/q) học sinh dễ nhầm lẫn thế phải coi trọng luật chính tả tskhắc phục
được. Ban đầu phụ huynh cũng nhiều bỡ ngỡ, lo lắng vì thấy trẻ đọc không đúng
theo cách học trước kia, các chữ i c/k/q đều đọc “cờ”, cách đánh vần cũng
khác trước. Tuy nhiên, sau khi nghe chúng i chia sẻ tcha mẹ các em rất n
m, kết thúc học kỳ I, các em đã đọc tốt, viết chính tả chính xác.
Giải pháp 4: Sửa lỗi cho cá nhân học sinh.
- Lỗi về phát âm: Khi sửa li phát âm chúng i đã dùng phương pháp luyện
theo mẫu ngay từ tiết dạy âm.
VD: Học sinh phát âm nhầm âm /p/ vi âm /b/ chúng i đã hướng dẫn trẻ
bậm 2 môi li bật mạnh hơi ra tạo âm /p/ m. Sau đó cho làm lại như trên
nhưng bật ra tiếng âm /p/ - tiếng /pin/ - /đèn pin/... Khi phát âm u cầu đặt tay n
thanh hầu lòng n tay trước miệng từ đó trẻ dễ ng nhận ra sự khác biệt giữa
/b/ /p/. khi phát âm /p/ y thanh rung mạnh luồng hơi đi ra lòng n tay
mnh hơn thì các em sẽ không phát âm sai nữa.
Để học sinh phát âm đúng, hạn chế i ngọng chúng tôi cho luyện theo cặp,
theo nhóm ngay trong các tiết dạy âm. Cho thi nói nhanh tiếng có âm mà em đó nói
ngọng. Với lòng nhiệt tình giảng dạy, tận tâm với nghề i đã giúp học trò của mình
dần dần phát âm đúng, đọc bài hay.
- Lỗi về chữ viết: Để viết đúng đẹp, chúng i đã cho các em so nh chữ
viết của mình với chữ mẫu tìm ra cách điu chỉnh. Những em viết chưa đẹp, cô cầm
tay tập nét lượn cho trẻ tự tin hơn. Từ đó sẽ hiệu quả hơn khi ta sửa theo nhóm chữ.
Nhóm 1: Viết nét khuyết thiếu độ cao, chưa đúng đim dừng bút,…
Nhóm 2: Viết nét cong không đúng độ rộng và không cong đều,...
Nhóm 3: Viết nét thắt không đúng vị trí, kích thước.
Nhóm 4: Viết nét móc không đều, dừng bút tự do.
Giáo viên quan tâm đến việc rèn thường xuyên cho các em mi nơi, mi
c, học âm mới không quên nhắc lại âm cũ. Trong từng mu cần kiểm tra nhân
để điều chỉnh kịp thời. Chúng i đã sử dụng những bin pháp như: kể những tấm
gương tốt thực để khích lệ cho các em thi đua cùng nhau tiến bộ; theo i t sự
tiến bộ của trẻ để động viên kịp thời, truyền cho trẻ niềm đam môn học; tổ chức
thi đọc, thi viết tại lớp theo từng thời điểm thích hợp đây chính động lực để
các em rèn luyện, phấn đấu. Trưng y những i viết đẹp của các bạn trong lớp,
của các anh chị m học trước để các em học tập. Việc theo t các em viết rất
quan trọng như thế sẽ dễ dàng nhận ra trẻ đã nh âm chưa. Một điều nữa
chúng tôi không yêu cầu viết nhiều âm mà cần phải chú ý đến chất lượng thực,
không giao nhiều i viết để trẻ ngại học. Đặc biệt với những em học tốt chúng i
định hướng cho cha mcần các em biết mức độ cần đạt được từng thời điểm
để phối kết hợp chặt chẽ hơn.
Giải pháp 5: Tổ chức các hoạt động vui học giúp học sinh ghi nhớ kiến
thức một cách bền vững:
5
Đây một hoạt động rất quan trọng giúp cho người giáo viên đo được kết
quả học tập ca học sinh sau một quá trình dạy học. Thông qua hoạt động “chơi
học, học chơicác em biết chia sẻ vi nhau kinh nghiệm học tập, biết tđánh
giá mình, đánh giá bạn và giúp nhau cùng tiến bộ. c em ham thích đến trường
yêu thích môn học này. Thường xuyên thay đổi các hình thức tổ chức tchơi khác
nhau: trò chơi gây hứng thú trong học tập, trò chơi ghi nhớ kiến thức i học, thi
tìm n một một bạn trong lớp, tên một loại hoa,âm mới học. Nthế, trẻ sẽ
nhanh chóng ghi nhớ âm và nhớ luật chính tả mi khi dùng âm.
VD: dạy bài âm /ch/ cho học sinh thi tìm n con vật bắt đầu bằng âm “ch”.
Giải pháp 6: Giáo dục lng gpmt s kĩ năng sng:
Kĩ năng nhn thc:
Cho các em tnhìn nhn về nh c độ đơn gin như i n suy
nghĩ của mình. Em ghi nh đọc đúng âm đã học chưa, còn yếu đim
o. t đó tr s ch đng hơn trong giao tiếp với cô, với bạn .
Kĩ năng th hin s t tin:
hỏi Em nào thể lên bảng đọc mẫu, viết mẫu âm ta vừa học cho
cả lớp quan sát?” sau đó yêu cầu em tự đánh giá. Thông qua đó giáo viên sẽ dễ
dàng nhận thấy sự tự tin của các em. Đây là yếu tố cần thiết trong giao tiếp.
Kĩ năng giao tiếp:
Học sinh bày tý kiến của nh khi bn đc bài em không n tnh
thì y lng nghe ri có ý kiến trao đi li với ti đ cn thành, ci mở thì s
kng làm tn thương đến bn. năng y giúp cho các em có mối quan h
tốt vi bn bè s vui n mỗi ngày đến trưng.
Kĩ năng lng nghe:
Khi bn bày tỏ ý kiến về chữ viết hay i đọc của em thì phải tp trung
cý (th hiện ánh mắt, điu bộ, cch, nét mặt,) biết đưa ra ý kiến phản
hi hợp hoc li cm ơn với bn. Đây một kĩ ng rất quan trọng trong
cuộc sng sau này ca học sinh.
Kĩ năng hp tác:
Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm 2, nhóm 4, tương tác giữa các
nhóm, tạo không knhẹ nhàng trong học tập, khuyến khích các em hỏi lại điều
không hiu qua đó giúp giáo viên phát hin đúng chỗ chưa hiểu để ging, nếu cần
phải giảng riêng cho từng em, chấm i tay đôi với từng em để chỉ ra những nét
viết chưa được, giúp các em tìm được cách sửa.
Giải pháp 7: Kết hợp linh hoạt một số hình thức tổ chức học theo mô hình
VNEN.
Đầu năm học, chúng tôi đã giúp học sinh bầu hội đồng tự quản của lớp, rèn
cho các em sự tự tin, mạnh dạn mọi nơi mọi lúc có thể được. Thực tế chỉ nhng em
đọc tốt sẽ nói tốt trước tập thtừ đó tc đẩy việc luyện đọc của các em.
Chúng tôi đã làm tốt công tác xã hội a giáo dục, phối kết hợp chặt chẽ với
c tổ chức trong và ngoài nhà trường, đặc biệt vi hội cha mhọc sinh, chúng tôi