
SỞ GD&ĐT NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT NGUYỄN SỸ SÁCH
----------------
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG TRÍ THÔNG MINH ĐA DANG VÀO DẠY HỌC
TRUYỆN NGẮN “HAI ĐỨA TRẺ” CỦA THẠCH LAM
(NGỮ VĂN 11)
Môn : Ngữ Văn
Tổ bộ môn : Ngữ văn – Ngoại ngữ
Tên tác giả : Phan Thị Hà
Năm thực hiện : 2021 - 2022
Số điện thoại : 0366 374 701
Nghệ An 2022

2
MỤC LỤC
TT
NỘI DUNG
TRANG
1.
Mục lục……………………………………………………..
1
2.
A. Mở đầu ………………………………………………..
I. Lí do chọn đề tài ………………………………………...
3
3
3.
II. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu……………………….…
4
4.
III. Mục đích, ý nghĩa của đề tài……………………………
4
5.
IV. Phương pháp nghiên cứu ….……………………………
5
6.
V. Cấu trúc của đề tài ……………………………………….
5
7.
B. Nội dung
6
8.
I. Cơ sở của đề tài
6
9.
1. Cơ sở lí luận
6
10.
1.1. Định hướng phát triển năng lực là quan điểm chủ đạo
trong việc thiết kế chương trình GDPT 2018……………….
6
11.
1.2 Vận dụng thuyết đa trí tuệ trong việc bồi dường năng lực
giải quyết vấn đề thực tiễn………………………………….
6
12.
2. Cơ sở thực tiễn
11
13.
2.1. Một số khó khăn của học sinh trong việc học môn Ngữ
văn ở trường THPT Nguyễn Sỹ Sách
11
14.
2.2. Một số khó khăn của giáo viên trong việc giảng dạy môn
Ngữ văn ở trường THPT Nguyễn Sỹ Sách
12
15.
II. Vận dụng trí thông minh đa dạng vào dạy học truyện
ngắn “Hai đứa trẻ”………………………………………..
13
16.
1. Lựa chọn một số loại hình trí thông minh phù hợp để vận
dụng trong dạy học truyện ngắn “Hai đứa trẻ”………………
13
17.
2. Xác định rõ các bước tổ chức thực hiện khi dạy học truyện
ngắn “Hai đứa trẻ” theo hướng vận dụng trí thông minh đa
dạng………………………………………………………...
16
18.
3. Hướng dẫn cách thức phát triển ở mỗi loại hình trí thông
minh, góp phần hình thành năng lực cụ thể ở học sinh…….
18

3
19.
III. Triển khai thực hiện
18
20.
1. Hình thành ý tưởng………………………………………
18
21.
2. Khảo sát thực tiễn………………………………………..
19
22.
3. Đúc rút kinh nghiệm……………………………………..
20
23.
4. Áp dụng thực tiễn………………………………………...
20
24.
5. Đánh giá hiệu quả………………………………………...
21
25.
IV. Thẩm định của Hội đồng khoa học cấp trường………
21
26.
C. Kết luận…….…….…….…….…….…….…….…….…
24
27.
I. Đóng góp của đề tài ……………………………….……..
24
28.
II. Hướng dẫn sử dụng đề tài ………………………………
24
29.
III. Đề xuất………………………………………………….
24
30.
Phụ lục……………………………………………………...
26
31.
Phụ lục 1: Thiết kế giáo án “Hai đứa trẻ” theo hướng vận
dụng trí thông minh đa dạng…..…………………………….
26
32.
Phụ lục 2: Phiếu điều tra kết quả kết quả học tập văn bản
“Hai đứa trẻ”………………………………………………..
36
33.
Phụ lục 3: Kịch bản “Những kiếp người tàn”………………
37
34.
Phụ lục 4: Một số sản phẩm của học sinh…………………..
40
35.
Phụ lục 5: Lời bài hát “Hai đứa trẻ”………………………..
42
36.
Tài liệu tham khảo…….…….…….…….…….…….……...
43

4
A. MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Một trong những vấn đề cốt lõi của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo là phải chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang
phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, học đi đôi với hành, lý luận
gắn với thực tiễn, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,
kỹ năng của người học. Từ đó rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức
nhằm giải quyết các vấn đề trong học tập và trong thực tiễn. Đổi mới phương pháp
dạy học nhằm chú trọng phát triển kỹ năng, năng lực của học sinh là phương hướng
phù hợp với nhịp độ phát triển của thời đại đổi mới của đất nước. Nắm được phương
pháp trên và đưa nó ứng dụng vào giảng dạy, học tập môn Ngữ văn ở trường THPT
đối với các nhà quản lý giáo dục và đặc biệt đối với các giáo viên đứng lớp là điều
hết sức quan trọng để có thể góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong thời kì
hiện đại.
2. Trong trường phổ thông, Ngữ văn là một môn học có đặc thù riêng, vừa mang
tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Do đó dạy học Ngữ văn là phải thể hiện
được tài năng sư phạm, kĩ năng sư phạm của người giáo viên để đưa học sinh hòa
mình trong tác phẩm, rung động với nó, lắng nghe tiếng nói của tác giả, thưởng thức
cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Từ đó, học sinh có thể khám phá ý nghĩa từng câu,
từng chữ, cảm nhận sức sống của từng hình ảnh, hình tượng nhân vật, theo dõi được
diễn biến cốt truyện… làm cho một văn bản khô khan trở thành một thế giới sống
động đầy sức cuốn hút. Và để làm được điều đó, giáo viên phải là người biết thiết
kế, tổ chức các hoạt động để học sinh có thể tự chiếm lĩnh được kiến thức, hình thành
cho học sinh những năng lực cần thiết … Làm được như thế thì giờ học tác phẩm
văn học, hay còn gọi là giờ Đọc - hiểu văn bản mới đến được cái đích cần đến.
Như vậy, dạy học Ngữ văn là làm sao để học sinh lĩnh hội được tri thức một
cách tốt nhất thông qua “hoạt động tích cực”. Tức là học sinh phải được trực tiếp
tiếp xúc, tìm hiểu, khám phá vấn đề. Để lĩnh hội tri thức, học sinh có thể đọc, phân
tích văn bản thông qua hoạt động chỉ đạo của giáo viên. Nhưng để mở rộng, khắc
sâu kiến thức thì rất cần đến việc sử dụng linh hoạt các phương pháp, phương tiện
dạy học, từ đó từng bước nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn nói riêng, chất
lượng giáo dục trong mỗi cơ sở giáo dục nói chung.
3. Việc lựa chọn phương pháp dạy học để phát triển năng lực học sinh (dạng
thức thông minh) là một phương pháp cực kì quan trọng trong giai đoạn giáo dục có
nhiều đổi mới như hiện nay. Trước đây, trí thông minh con người thường được đo
bằng chỉ số IQ, chủ yếu đánh giá năng lực tư duy của con người thông qua những
bài trắc nghiệm trên giấy. Tuy nhiên năm 1983, giáo sư tâm lí học người Mĩ - Howard
Gardner đã phát hiện ra rằng trí thông minh của con người là rất rộng lớn với nhiều
loại hình thông minh khác nhau: Ngôn ngữ, logic/toán học, âm nhạc, không gian,
vận động, giao tiếp, nội tâm và tự nhiên… Do đó khi nghiên cứu mang tên “Thuyết
đa trí tuệ” của giáo sư Howard Gardner được công bố thì người ta nhận thấy những

5
đóng góp khoa học của ông đã đem đến những nhận thức mới về trí tuệ con người.
Theo “Thuyết đa trí tuệ” thì trí thông minh trở thành “khả năng giải quyết các
vấn đề hoặc tạo ra sản phẩm mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong
một hay nhiều môi trường văn hóa và trí thông minh cũng không thể chỉ được đo
lường duy nhất qua chỉ số IQ”. Việc tồn tại tất cả các trí thông minh với mức độ cao,
thấp khác nhau sẽ ảnh hưởng đến thiên hướng tiếp thu năng lực trí tuệ nào hiệu quả
hoặc kém hiệu quả. Thêm nữa, trí thông minh không phải là cái bất biến. Thông qua
đào tạo có thể tạo điều kiện phát triển hoặc làm thui chột năng lực trí tuệ của học
sinh. Vì thế, có thể xem việc kế thừa những thành tựu trong nghiên cứu của Howard
Gardner về trí thông minh đa dạng như một gợi ý để lựa chọn phương pháp dạy học
phù hợp trong tất cả các môn học, trong đó có Ngữ văn.
Trong quá trình dạy học của bản thân, tôi đã từng trăn trở, tìm tòi và thể nghiệm
việc vận dụng trí thông minh đa dạng (hay còn gọi là thuyết đa trí tuệ) của giáo sư
Howard Gardner trong dạy học các văn bản văn học và đã có những thành công đáng
kể nhằm đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng môn Ngữ văn ở
trường THPT Nguyễn Sỹ Sách. Vì vậy tôi xin trình bày đề tài: Vận dụng trí thông
minh đa dang vào dạy học truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam (Ngữ văn
11).
Đề tài này là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, chưa được cá nhân, tập thể
và công trình khoa học giáo dục nào công bố trên các tài liệu sách báo và diễn đàn
giáo dục hiện nay.
II. PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1. Phạm vi nghiên cứu
- Vận dụng trí thông minh đa dạng (hay còn gọi là thuyết đa trí tuệ) trong dạy
học văn bản “Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam trong chương trình Ngữ văn 11.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
- Truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam Ngữ văn 11, tập 1
- Học sinh lớp 11C4, trường THPT Nguyễn Sỹ Sách và một số lớp ở các trường
cụm huyện Thanh Chương, Nghệ An.
III. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
1. Đối với giáo viên:
Tạo được hứng thú say mê học tập, kích thích sự sáng tạo, chủ động của học
sinh, đặc biệt là phát huy được những năng lực tiềm ẩn trong học sinh khi vận dụng
các phương pháp dạy học hiện đại.
Thông qua cách dạy học này, giáo viên có thể phát hiện năng lực riêng của từng
em, từ đó nuôi dưỡng, giáo dục các em trưởng thành bằng năng lực chính của mình.
Phát hiện và đồng hành cùng các em trong việc tìm ra các năng lực sở trường để kết
hợp với nhà trường tạo dựng niềm tin, đam mê cũng như sự sáng tạo của học sinh.

