intTypePromotion=1

So sánh giữa myo inositol và metformin trên lâm sàng, chuyển hóa và tham số di truyền ở hội chứng buồng trứng đa nang

Chia sẻ: ViDili2711 ViDili2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
3
lượt xem
0
download

So sánh giữa myo inositol và metformin trên lâm sàng, chuyển hóa và tham số di truyền ở hội chứng buồng trứng đa nang

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hội chứng Buồng trứng đa nang (HCBTĐN) là một rối loạn nội tiết thông thường ảnh hưởng đến 6-15% phụ nữ độ tuổi sinh sản ở những vùng địa lý khác nhau. HCBTĐN đặc trưng bởi tình trạng vô sinh, rối loạn kinh nguyệt và rối loạn chuyển hóa bao gồm cường androgen, kháng insuline, không dung nạp đường, những rối loạn này thường có liên quan đến các bệnh như bệnh tim mạch, đái tháo đường tuýp 2, tăng huyết áp và thậm chí ung thư.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: So sánh giữa myo inositol và metformin trên lâm sàng, chuyển hóa và tham số di truyền ở hội chứng buồng trứng đa nang

  1. THỜI SỰ Y HỌC, Chuyên đề SỨC KHỎE SINH SẢN, Tập 18, Số 2, Tháng 12 – 2018 SO SÁNH GIỮA MYO-INOSITOL VÀ METFORMIN TRÊN LÂM SÀNG, CHUYỂN HÓA VÀ THAM SỐ DI TRUYỀN Ở HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG TRẦN BẢO NGỌC*, PHẠM NHÃ KHUYÊN*, TĂNG QUANG THÁI** Theo Jamilian, Mehri, et al. “Comparison of myo‐inositol and metformin on clinical, metabolic and genetic parameters in polycystic ovary syndrome: a randomized con- trolled clinical trial.” Clinical endocrinology (2017). GIỚI THIỆU Hội chứng Buồng trứng đa nang sản, bao gồm giảm cân, giảm kháng Insu- (HCBTĐN) là một rối loạn nội tiết thông lin, giảm nồng độ Androgen và tái lập một thường ảnh hưởng đến 6-15% phụ nữ độ chu kì kinh nguyệt rụng trứng bình thường, tuổi sinh sản ở những vùng địa lý khác nhau. nhưng việc dùng nó có thể bị hạn chế bởi HCBTĐN đặc trưng bởi tình trạng vô sinh, các tác dụng phụ lên đường tiêu hóa. Gần rối loạn kinh nguyệt và rối loạn chuyển hóa đây, một thuốc gây tăng nhạy Insulin mới bao gồm cường androgen, kháng insuline, chứa Inositol được đề xuất trong điều trị không dung nạp đường, những rối loạn bệnh nhân bị HCBTĐN. Một vài nghiên này thường có liên quan đến các bệnh như cứu đã báo cáo những tác động có lợi của bệnh tim mạch, đái tháo đường tuýp 2, tăng Myo-inositol lên độ nhạy với Insulin, an- huyết áp và thậm chí ung thư.1 Trong đó, drogen và dấn ấn viêm.3, 4 Thêm vào đó, vai trò của quá trình viêm toàn thân trên dùng Myo-inositol cải thiện những chức HCBTĐN không rõ ràng; người ta nhận năng sinh sản ở bệnh nhân bị HCBTĐN, thấy rằng nồng độ của CRP và TNF-alpha làm giảm tình trạng cường insulin trong tăng ở phụ nữ bị HCBTĐN so với phụ nữ máu. Ngược lại với Metformin, không có bình thường khác. 2 tác dụng phụ nào ảnh hưởng được ghi nhận Để điều trị hệ quả sức khỏe lâu dài ở khi theo dõi điều trị với Myo-insitol. 5 người bị HCBTĐN, ngoài việc thay đổi Myo-inositol sản xuất ra tín hiệu truyền lối sống, bác sĩ còn đề nghị dùng chất tăng tin thứ hai, inositol triphosphate, điều hòa độ nhạy với Insulin như là Metformin. Có một số nội tiết tố như TSH và FSH và chịu bằng chứng cho thấy rằng Metformin có trách nhiệm cho việc tiếp nhận đường đưa thể đem lại lợi ích về chuyển hóa và sinh vào tế bào, từ đó làm tăng độ nhạy insulin. * Trường Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch ** Bệnh viện Phụ Sản Nhi Bình Dương 18
  2. THÔNG TIN CẬP NHẬT Các dữ liệu so sánh myo-inositol và met- (FAI) được tính toán bằng công thức tes- formin trên lâm sàng, các tham số chuyển tosterone toàn phần/SHBG x 100. hs-CRP hoá và di truyền ở những bệnh nhân được định lượng bằng bộ kit ELISA thương HCBTĐN còn rất hiếm. mại (LDN, Nordhorn, Germany) với khác biệt giữa các lần xét nghiệm và trong 1 lần CÁC ĐÁNH GIÁ CẦN THIẾT 6 xét nghiệm CV là 4,9 đến 6,7%. NO huyết Đối tượng đánh giá tương được đo bằng phương pháp Griess. Đối tượng được chẩn đoán HCBTĐN dựa trên tiêu chuẩn của Rotterdam. Loại bỏ Phân tách lymphocyte những bệnh nhân có thai hoặc có những Lymphocyte được trích xuất từ mẫu máu tình trạng tăng sản thượng thận, u tiết an- bằng cách sử dụng 50% Percoll (Sigma-Al- drogen, prolactin trong máu cao, rối loạn drich, Dorset, UK). Các mẫu máu được làm chức năng giáp, đái tháo đường hay rối loạn xét nghiệm tế bào và khả năng sống của tế dung nạp glucose. bào bằng trypan blue, và để chiết xuất RNA và DNA. Đánh giá nhân trắc học Một nữ hộ sinh được tập huấn sẽ lấy các Chiết xuất RNA và Real-time PCR chỉ số nhân trắc vào ngày đầu tiên người Để chiết xuất RNA, nhóm nghiên cứu sử tham gia vào nghiên cứu và trong 12 tuần dụng RNX-plus kit (Cinnacolon, Tehran, theo dõi điều trị. Chiều cao và cân nặng Iran). Dịch RNA được đông lạnh ở −20°C (Seca, Hamburg, Germany) được đo khi cho đến khi thực hiện RT-PCR. Sau khi bệnh nhân mặc quần áo gọn nhẹ và không chiết xuất RNA toàn phần từ mẫu, định mang giày. BMI được tính toán theo công lượng RNA được thực hiện bằng quang phổ thức cân nặng (kg) chia chiều cao (mét) kế UV. Tỉ lệ OD 260/280 của mỗi mẫu dự bình phương. kiến giữa 1.7 và 2.1. RNA chiết tách được Đánh giá lâm sàng bao gồm kiểm tra phiên mã ngược thành cDNA bằng molo- phân bố lông trên cơ thể bằng hệ thống tính ney murine leukaemia virus (MMLV) men điểm mFG. chuyển mã ngược reverse transcriptase (RT). Biểu hiện gene của interleukin-1 (IL- Đánh giá sinh hoá 1), IL-8 và TNF-α được đánh giá bằng định 10 ml máu tĩnh mạch được lấy vào ngày lượng RT-PCR trong số lượng tế bào máu đầu tiên của người tham gia nghiên cứu và đơn nhân ở máu ngoại vi (peripheral blood sau 12 tuần điều trị tại phòng thí nghiệm mononuclear cells - PBMCs), sử dụng kỹ tham chiếu Arak. Nồng độ testosterone thuật LightCycle (Roche Diagnostics, Rot- toàn phần trong huyết tương (khác biệt kreuz, Switzerland) với đầu dò xanh SYBR giữa các lần xét nghiệm và trong 1 lần xét và Amplicon Kit. nghiệm có hệ số phương sai (CV) là 4.5 Glyceraldehyde-3-phosphate dehydroge- đến 6.3%), sex hormone-binding globulin nase (GAPDH) primers được sử dụng như (SHBG) (khác biệt trong 1 lần xét nghiệm gene giữ nhà (housekeeping gene). Để thiết và giữa các lần xét nghiệm, CV là 3.5 đến kế primer, phần mềm Primer Express (Ap- 5.5%) và DHEAS (khác biệt trong 1 lần xét plied Biosystems, Foster City) và phần mềm nghiệm và giữa các lần xét nghiệm, CV là thiết kế Beacon (Takapouzist, Tehran, Iran) 4.1 đến 6.2%) được đánh giá bằng bộ kit được sử dụng. Các mức độ chuyển mã được thương mại (DiaMetra, Milano, Italy). Chỉ tính toán bằng phương pháp của Pffafi hay số androgen tự do Free androgen index 2−ΔΔCT. 19
  3. THỜI SỰ Y HỌC, Chuyên đề SỨC KHỎE SINH SẢN, Tập 18, Số 2, Tháng 12 – 2018 Cỡ mẫu myo-inosistol và metformin trên biểu hiện Để ước lượng cỡ mẫu cần thiết, nhóm gene có liên quan đến quá trình viêm, nhóm nghiên cứu sử dụng một công thức tính nghiên cứu sử dụng t test mẫu độc lập. Việc cỡ mẫu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên điều chỉnh những thay đổi trên giá trị ban trong đó sai lầm loại 1 (α) và sai lầm loại 2 đầu của các số đo sinh hóa, tuổi và BMI (β) lần lượt là 0.05 và 0.20 (power=80%). được thực hiện bằng các phân tích covari- Theo một nghiên cứu trước, nhóm nghiên ance (ANCOVA) sử dụng hồi quy tuyến tính cứu sử dụng độ lệch chuẩn (SD) là 1.0 thông thường. Khác biệt có ý nghĩa thống kê nmol/L và sự khác biệt trung bình (d) là khi P < 0.05. Tất cả các phân tích thống kê 0.8 nmol/L, xem testosterone toàn phần là sử dụng Statistical Package for Social Science biến số chính. Việc tính toán cho thấy cần version 18 (SPSS Inc., Chicago, IL, USA). 25 đối tượng cho mỗi nhóm. Giả sử mỗi nhóm mất 5 đối tượng, như vậy cỡ mẫu KẾT QUẢ CỦA NGHIÊN CỨU cuối cùng là 30 đối tượng cho mỗi nhóm. Ban đầu nhóm nghiên cứu mời 85 đối tượng bị HCBTDN tuy nhiên 25 đối tượng PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH rời khỏi nghiên cứu vì không đạt tiêu chuẩn Để đảm bảo các biến số có phân phối nhận vào (N=20) và không đang sinh sống bình thường, nhóm nghiên cứu sử dụng ở Arak (N=5). Theo như sự giải thích trong Kolmogorov-Smirnov test. Các phân tích lưu đồ nghiên cứu, trong suốt các pha can được thực hiện dựa trên nguyên tắc can thiệp của nghiên cứu, ba đối tượng của mỗi thiệp để điều trị (intention-to-treat (ITT). nhóm ngừng tham gia vì lý do cá nhân. Để phát hiện khác biệt trong các phép đo Cuối cùng, 54 đối tượng (27 Myo-insitol nhân trắc học cũng như trong đo lường dinh và 27 Metformin) hoàn thành thử nghiệm. dưỡng đa lượng và vi lượng giữa 2 nhóm, Tuy nhiên, theo phân tích dựa trên nguyên nhóm nghiên cứu sử dụng t test độc lập. Để tắc ITT, tất cả 60 người tham gia (30 mỗi so sánh tác động của myo-inosistol và met- nhóm) được đưa vào phân tích cuối cùng. 6 formin trên hormone và các chỉ dấu viêm, Tuổi, chiều cao, cân nặng và BMI ở thời nhóm nghiên cứu sử dụng phân tích phương điểm bắt đầu và cuối thử nghiệm không có sai một chiều có lặp. Để so sánh tác động của sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 nhóm. Bảng 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu Nhóm Metformin (n=30) Nhóm Myo-inositol (n=30 Pa Tuổi (năm) 25.9±4.8 27.7±5.2 .17 Chiều cao (cm) 162.2±6.7 162.5±4.7 .84 Cân nặng lúc bắt đầu (kg) 71.1±16.4 68.3±11.5 .44 Cân nặng cuối thử nghiệm (kg) 70.6±17.0 67.2±11.1 .36 Cân nặng thay đổi (kg) −0.5±1.2 −1.0±2.1 .21 BMI lúc bắt đầu (kg/m2) 27.1±6.4 25.8±3.8 .35 BMI cuối thử nghiệm (kg/m2) 26.9±6.6 25.4±3.7 .29 BMI thay đổi (kg/m2) −0.2±0.4 −0.4±0.8 .25 a Dữ liệu có nghĩa ±SDs. Đạt được từ t test độc lập 20
  4. THÔNG TIN CẬP NHẬT Dựa trên báo cáo thu được chế độ ăn có sự giảm đáng kể nồng độ Testoster- ba ngày vào thời điểm bắt đầu, cuối thử one (−1.4±4.2 so với +0.7±1.4 nmol/L, nghiệm và suốt nghiên cứu, nhóm ng- P=.03), mF-G score (−1.1±0.7 so với hiên cứu thấy rằng không có sự khác biệt −0.5±0.8, P=.01) và nồng độ hs-CRP có ý nghĩa giữa chế độ ăn đa lượng và vi huyết tương (−2.6±3.9 so với +0.2±1.5 lượng giữa 2 nhóm (dữ liệu không được mg/L, P
  5. THỜI SỰ Y HỌC, Chuyên đề SỨC KHỎE SINH SẢN, Tập 18, Số 2, Tháng 12 – 2018 Bảng 3. Các thay đổi trên trình trạng chuyển hóa ở bệnh nhân bị buồng trứng đa nang Nhóm Metformin (n=30) Nhóm Metformin (n=30) Pa Testosterone toàn phần (nmol/L) 0.3±0.3 −1.0±0.3 .04 SHBG (nmol/L) 0.6±2.4 2.9±2.4 .50 FAI% −0.9±0.7 −0.1±0.7 .45 Thang điểm mF-G −0.6±0.1 −1.1±0.1 .004 DHEAS (μmol/L) −0.3±0.5 −1.4±0.5 .08 hs-CRP (mg/L) 0.01±0.5 −2.4±0.5 .001 NO (μmol/L) −0.8±1.1 0.3±1.1 .50 DHEAS, dehydroepiandrosterone sulphate; FAI, free androgen index; hs-CRP, high-sensitivity C-reactive protein; mF-G, modified Ferriman-Gallwey; NO, nitric oxide; SHBG, sex hormone-binding globulin. Tất cả các giá trị có nghĩa ±SEs. a Đạt được từ ANCOVA. Kết quả của RT-PCR giải thích rằng khi cứu thấy rằng việc sử dụng Myo-inositol, so so sánh việc uống metformin với myo-ino- với Metformin, trong 12 tuần ở những bệnh sitol làm điều hòa giảm biểu hiện của nhân HCBTĐN có lợi trên nồng độ testos- IL-1 trong máu ngoại vi của bệnh nhân terone toàn phần, thang điểm mFG, nồng HCBTDN (P=.02). độ hs-CRP huyết tương và biểu hiện gene Nhóm nghiên cứu không thấy có bất kì khác của IL-1, nhưng không ảnh hưởng đến các biệt đáng chú ý nào giữa biểu hiện gen IL-8 và hormone khác, nồng độ NO hay biểu hiện TNF-alpha ở những bệnh nhân HCBTĐN sử gene của IL-8 và TNF-α. dụng myo-inositol và metformin. Những người HCBTĐN dễ bị những biến chứng chuyển hóa gồm sự rối loạn hormone và viêm. Nhóm nghiên cứu thấy rằng uống Myo-inositol trong 12 tuần sẽ làm giảm đáng kể nồng độ Testosterone toàn phần và điểm mFG, nhưng không thấy tác động gì đến nồng độ SHBG hay FAI khi so sánh với metformin. Tuy nhiên dữ liệu trong việc so sánh Myo-inositol và Metformin trên lâm sàng và thông số chuyển hóa của phụ nữ bị Biểu đồ: Ảnh hưởng của 12 tuần dùng Myo-inositol hay HCBTĐN thì khan hiếm, chỉ số ít nghiên Metformin trên tỷ lệ biểu hiện gen IL-1 trong tế bào máu cứu đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng đơn nhân ở phụ nữ bị HCBTĐN Myo-inositol trên triệu chứng thực thể và thông số chuyển hóa. Nó còn cho thấy rằng BÀN LUẬN VÀ KẾT LUẬN 6 nang trứng có chất lượng noãn cao có nồng Theo nhóm nghiên cứu, dữ liệu so sánh độ Myo-inositol trong dịch nang cao (fol- Myo-inositol và Metformin trên lâm sàng, về licular fluid - FF). Chức năng buồng trứng các chỉ số chuyển hóa và di truyền ở những cải thiện được cũng được giải thích bởi Ar- phụ nữ HCBTĐN còn rất ít. Nhóm nghiên tini và cộng sự. Thêm vào đó việc giảm tình 22
  6. THÔNG TIN CẬP NHẬT trạng mụn và rậm lông, tăng cường độ nhạy những bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ Insulin và giảm nồng độ testosterone được sẽ giảm yếu tố viêm cytokien. Tuy nhiên, ghi nhận từ việc dùng Myo-inositol ở người một số nhà nghiên cứu không tìm thấy tác bị HCBTĐN. Ở một nghiên cứu khác, việc động thú vị nào của việc bổ sung folate trên phối hợp điều trị giữa Myo-insitol và thuốc cytokine viêm. Ví dụ như Miezecki và cộng ngừa thai hỗn hợp cho thấy hiệu quả hơn sự chứng minh rằng không có tác động trong việc kiểm soát nội tiết, chuyển hóa và đáng chú ý nào của việc dùng folate ở liều những biểu hiện lâm sàng ở đối tượng bị 0.4mg/dl trên nồng độ CRP huyết thanh ở HCBTDN so với việc chỉ dùng mỗi thuốc người có nguy cơ xơ vữa động mạch trong ngừa thai dạng uống. Liệu pháp phối hợp 12 tuần. Cũng như trong việc 1 năm dùng với Myo-inositol và D-chiro-inositol trong folate không có tác động đáng chú ý nào 6 tháng cũng có hiệu quả ở việc cải thiện trên nồng độ CRP ở người cao tuổi. Các nội tiết và các thông số chuyển hóa ở bệnh thiết kế nghiên cứu khác dựa trên đặc điểm nhân trẻ béo phì bị HCBTĐN. Ngoài ra, của đối tượng nghiên cứu, liều lượng folate điều trị với 1200mg/d myo-inositol trong dùng và quá trình nghiên cứu có thể giải 12 tuần hiệu quả trong việc giảm những thích những phát hiện khác nhau.8 bất thường về hormone, chuyển hóa và oxi Nồng độ các chất sinh hóa và biểu hiện hóa ở người bị HCBTĐN thông qua việc cải gene của một số cytokine viêm hay các chất thiện đề kháng insulin. Tuy nhiên, không có trung gian được thấy là cao ở đối tượng bị thay đổi đáng chú ý nào về mụn, rậm lông HCBTĐN. Mặc dù cơ chế chính thông qua hay hormone được nhận thấy trong suốt 6 folate và inositol làm giảm yếu tố viêm cy- tháng dùng Myo-inositol so với dùng Met- otkine vẫn chưa được hiểu rõ, người ta vẫn formin ở đối tượng HCBTĐN với giá trị đưa ra một vài giả thuyết. Giảm sản xuất HOMA-IR>2.5. Cần nhớ rằng nghiên cứu hormone PTH từ kết quả việc giảm kháng mới chỉ áp dụng trên bệnh nhân có insulin insulin theo sau việc dùng folate có thể bình thường hay insulin cao.3, 7 giảm yếu tố viêm cytokine. Thêm vào đó, Nghiên cứu mới đây giải thích rằng dùng có thể cho rằng homocysteine (Hcy) gây myo-inositol so với dùng metformin trong biểu hiện gene các yếu tố viêm cytokine, có 12 tuần có kết quả đáng chú ý là giảm nồng thể bằng cách tăng cường hoạt hóa yếu tố độ hs-CRP và biểu hiện IL-1, nhưng không nhân kappa B và tăng hoạt hóa poly ADP có liên quan trong nồng độ NO hay biểu ribose polymerase. Do đó, folate, thông hiện gen IL-8 và TNF-α. Trong một ng- qua giảm Homocystein có thể làm giảm hiên cứu của Kapral và cộng sự cho thấy quá trình viêm. rằng inositol hexaphosphate có tác động có Nghiên cứu của nhóm nghiên cứu có một lợi đến dấu ấn viêm. Dữ liệu trong so sánh vài giới hạn. Đầu tiên, nhóm nghiên cứu không giữa myo-inositol và metformin về yếu tố kiểm tra việc tuân thủ sử dụng myo-inositol viêm cytokine ở phụ nữ HCBTDN khá hạn và metformin bằng các chỉ số sinh hóa. Thêm chế, nhưng vài nghiên cứu đã đánh giá tác vào đó, do giới hạn tài chính, nhóm nghiên động của việc bổ sung folate trong cytokine cứu không đánh giá tác động của myo-inosi- viêm ở những đối tượng có hay không có tol và metformin trên các biomarker và stress HCBTĐN. Trước đây nhóm nghiên cứu oxi hóa. Nhóm nghiên cứu tin rằng nồng đồ đã chứng minh dùng folate (5mg/d) ở đối testosterone tự do thì nhạy hơn định lượng tượng HCBTĐN làm giảm hs-CRP, nhưng của testosterone toàn phần để xác định sự dư không ảnh hưởng lượng NO. Thêm vào đó, thừa androgen. Không may là nhóm nghiên bổ sung 400 μg/d folate trong 12 tháng ở cứu không đánh giá tác động của myo-ino- 23
  7. THỜI SỰ Y HỌC, Chuyên đề SỨC KHỎE SINH SẢN, Tập 18, Số 2, Tháng 12 – 2018 sitol và metformin lên nồng độ testosterone nhóm nghiên cứu không so sánh tỉ lệ phóng tự do. Trong một nghiên cứu gần đây, hầu noãn và các chỉ số đề kháng insulin ở 2 nhóm. hết bệnh nhân bị thừa cân, nhóm nghiên cứu Những điều này nên được xem xét trong việc xem xét điều trị thừa androgen và giảm cân giải thích các kết quả của nhóm nghiên cứu.6 là các mục tiêu chính cho những bệnh nhân Tóm lại, sử dụng myo-inositol so với met- mà vấn đề sinh sản không phải quan trọng formin trong 12 tuần ở những bệnh nhân nhất. Metformin và myo-inositol, là những HCBTĐN có nồng độ insulin cao hay bình chất tăng độ nhạy insulin, cải thiện các chỉ số thường, có những tác động có lợi lên nồng chuyển hóa và nhân trắc học như cân nặng độ testosterone toàn phần, thang điểm mFG, và BMI ở những phụ nữ bị HCBTĐN. Nhóm nồng độ hs-CRP huyết tương và biểu hiện nghiên cứu tin rằng steroid sinh dục và chất gene của IL-1, nhưng không ảnh hưởng lên kháng androgen vượt trội hơn metformin các nội tiết tố khác, nồng độ NO hay biểu hiện trong điều trị rậm lông, trong khi clomiphene gene của IL-8 và TNF-α. Inositol có thể tác citrate là điều trị đầu tay cho kích thích rụng động tích cực lên dịch nang bằng việc giảm trứng ở những bệnh nhân HCBTĐN. Xem tác động oxi hóa lên protein dịch nang, cũng xét mục tiêu chính của nhóm nghiên cứu, như phục hồi chất lượng noãn.9 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Mansour A, Hosseini S, Larijani B, Mohajeri-Tehrani MR. Nutrients as novel therapeutic approaches for metabolic disturbances in polycystic ovary syndrome. EXCLI journal. 2016;15:551. 2. Duleba AJ, Dokras A. Is PCOS an inflammatory process? Fertility and sterility. 2012;97(1):7-12. 3. Fruzzetti F, Perini D, Russo M, Bucci F, Gadducci A. Comparison of two insulin sensitizers, metformin and myo-inositol, in women with polycystic ovary syndrome (PCOS). Gynecological endocrinology : the official journal of the International Society of Gynecological Endocrinology. 2017;33(1):39-42. Epub 2016/11/04. 4. Genazzani AD, Prati A, Santagni S, Ricchieri F, Chierchia E, Rattighieri E, et al. Differential insulin response to myo-inositol administration in obese polycystic ovary syndrome patients. Gynecological Endocrinology. 2012;28(12):969-73. 5. Genazzani AD, Lanzoni C, Ricchieri F, Jasonni VM. Myo-inositol administration positively affects hyperinsulinemia and hormonal parameters in overweight patients with polycystic ovary syndrome. Gynecological Endocrinology. 2008;24(3):139-44. 6. Jamilian M, Farhat P, Foroozanfard F, Afshar Ebrahimi F, Aghadavod E, Bahmani F, et al. Comparison of myo‐inositol and metformin on clinical, metabolic and genetic parameters in polycystic ovary syndrome: A randomized controlled clinical trial. Clinical endocrinology. 2017;87(2):194-200. 7. Minozzi M, Costantino D, Guaraldi C, Unfer V. The effect of a combination therapy with myo-inositol and a combined oral contraceptive pill versus a combined oral contraceptive pill alone on metabol- ic, endocrine, and clinical parameters in polycystic ovary syndrome. Gynecological Endocrinology. 2011;27(11):920-4. 8. Kapral M, Sosnicki S, Wawszczyk J, Weglarz L. Influence of inositol hexaphosphate on the expression of selected proliferation markers in IL-1B-stimulated intestinal epithelial cells. Acta poloniae pharmaceutica. 2014;71(6):987-93. 9. Piomboni P, Focarelli R, Capaldo A, Stendardi A, Cappelli V, Cianci A, et al. Protein modification as oxidative stress marker in follicular fluid from women with polycystic ovary syndrome: the effect of inositol and metformin. Journal of assisted reproduction and genetics. 2014;31(10):1269-76. 24
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2