intTypePromotion=1
ADSENSE

SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG part 5

Chia sẻ: Ashfjshd Askfaj | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:32

102
lượt xem
23
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Carbofuran là chất diệt ve, sâu bọ và giun, có tác động toàn thân. Nó có thể thoái biến quang học, hoá học hoặc vi sinh học. Chất này có độ linh động và thời gian tồn tại đủ lâu để có thể ngấm nhiễm từ đất vào nước ngầm. Triệu chứng lâm sàng do nhiễm độc carbofuran tương tự nhiễm độc phospho hữu cơ. Giá trị hướng dẫn cho Carbofuran trong nước uống là 5 µg/l. Chlordane Chlordane rất bền, ít linh động trong đất và di chuyển đến mạch nước ngầm rất khó nên hiếm khi phát hiện...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG part 5

  1. Carbofuran là chất diệt ve, sâu bọ và giun, có tác động toàn thân. Nó có thể thoái biến quang học, hoá học hoặc vi sinh học. Chất này có độ linh động và thời gian tồn tại đủ lâu để có thể ngấm nhiễm từ đất vào nước ngầm. Triệu chứng lâm sàng do nhiễm độc carbofuran tương tự nhiễm độc phospho hữu cơ. Giá trị hướng dẫn cho Carbofuran trong nước uống là 5 µg/l. Chlordane Chlordane rất bền, ít linh động trong đất và di chuyển đến mạch nước ngầm rất khó nên hiếm khi phát hiện được Chlordane ở đó Chlordane mất đáng kể dần do sự bay hơi vào không khí. Năm 1986, JMPR đã xem xét lại chlordane và thiết lập gái trị ADI cho nó là 0,5 µg/kg thể trọng căn cứ hệ số bất định 100 và NOAEL là 0,05 mg/kg thể trọng/ngày thu được từ một nghiên cứu độc tính mãn qua đường tiêu hoá. Mặc dù lượng chlordane trong thực phẩm ngày càng giảm dần nhưng nó có thời gian tồn lưu cao và có khả năng tích tụ sinh học cao. Với tỉ phần 1% của ADI nói trên cho nước uống, giá trị hướng dân được để nghị là 0,2 µg/l. DDT Cấu trúc của DDT cho ta nhiều đồng phân khác nhau, dạng thương phẩm chủ yếu là p,p’- DDT. Với liều thấp DDT và các chất chuyển hoá hầu như được hấp thu hoàn toàn ở người qua đường tiêu hoá hoặc hô hấp, sau đó tích tụ ở các mô mỡ và sữa. IARC đã xếp DDT vào nhóm 2B (không đủ bằng chứng gây ung thư cho người nhưng đủ bằng chứng gây ung thư trên động 125
  2. vật thí nghiệm) vì nó gây ung thư gan cho chuột bạch và chuột cống trắng. Heptachtor và heptachlor epoxide Heptachlor là một hoá chất trừ sâu phổ rộng, cho đến nay tại nhiều quốc gia người ta đã hạn chế hoặc cấm dùng. Hiện tại, ứng dụng chính của heptachlor là diệt mối bằng cách phun vào đất. Sự tiếp nhiễm heptachlor lâu dài có liên quán với sự nhiễm độc hệ thần kinh và: gan. Năm 1991, IARC đã đánh giá lại heptachlor và kết luận rằng các bằng chứng về tính gây ung thư của nó trên động vật thì đầy đủ nhưng trên người thì chưa nên xếp nó vào nhóm 2B. JMPR trước đây đã nhiều lần đánh giá heptachlor, cho đến năn 1991 đã thiết lập giá trị ADI cho nó là 0,1µg/kg thể trọng dựa trên NOAEL = 0,025 mg/kg thể trọng/ngày thu được từ hai nghiên cứu trên chó với hệ số bất định là 200 (IOO vì sự khác biệt về loài và cá thể và 2 vì cơ sở dữ liệu chưa hoàn toàn thoả đáng). Với sự phân bố ADI trong nước uống là 1% giá trị hướng dẫn cho heptachlor là 0,03 µg/l. Isoproturon Isoproturon là một chất diệt cỏ chọn lọc, tác dụng toàn thân, được dùng để diệt cỏ nhất niên và cỏ lá lớn khi trồng ngũ cốc. Nó có thể bị thoái biến quang học, sinh học và thuỷ phân, tồn lưu từ vài ngày đến vài tuần. Nó di chuyển trong đất và được phát hiện trong nước mặt và nước ngầm. Isoproturon có vai trò là chất xúc tiến ung thư hơn là một chất gây ung thư. Giá trị hướng dẫn cho isoproturon là 9 µg/l. Lindane 126
  3. Lindane (tức y-hexachlorocyclohexane, λ-HCH) là một chất diệt côn trùng đã được sử dụng từ lâu. Không kể đến việc sử dụng cho cây trồng, vật nuôi, nó còn được dùng để bảo quản gỗ. Lindane là một chất tồn lưu có ái lực với nước thấp và di động trong đất chậm, đã được phát hiện trong nước. Sự phơi nhiễm cho người xảy ra chủ yếu do thực phẩm. Giá trị hướng dẫn cho lindane là 2 µg/l. Pentachlorophenol Pentachlorophenol (PCP) được dùng chủ yếu để bảo quản gỗ. Tại những nơi xử lý gỗ người ta có thể phát hiện những nồng độ PCP cao hơn những nơi khác. Nói chung, con người bị phơi nhiễm với PCP thông qua dự tiêu hoá thực phẩm và nước uống cũng như do tiếp xúc với những dụng cụ được xử lý PCP (như vải vóc, da và các sản phẩm từ giấy). Tuy nhiên chủ yếu là do hít thở không khí trong những căn phòng đã nhiễm PCP. Permethrin Permethrin là một chất diệt côn trùng, gốc pyrethroid tổng hợp, được dùng rộng rãi để bảo vệ mùa màng và trong y tế công cộng. Nó còn được dùng để diệt bọ gậy trong các bể dự trữ nước và để khống chế sự phát triển của các động vật không xương sống trong các ống dẫn nước chính. Permethrin có ái lực đáng kể với đất, các chất lắng và cô ái lực kém với nước. Hầu như không nó không thoát vào không khí. Nó có thể bị phân huỷ quang học hoặc sinh học và tồn lưu trong khoảng thời gian từ vài ngày đến vài tuần. Giá trị hướng dẫn là 20 µg/l. Pyridate Pyridate là một chất diệt cỏ tiếp xúc, được dùng để bảo vệ 127
  4. ngũ cốc ngô, lúa và các hoa màu khác. Nó có độ tan trong nước rất thấp và tương đối ít hoạt động. Nó nhanh chóng bị phân huỷ bằng quang phân và phân huỷ sinh học. Giá trị hướng dẫn được đề nghị là 100 µg/l. Simazine Simazine là chất diệt cỏ dùng trước khi cây mọc và dùng cả cho vùng trồng hoa màu và vùng không trồng hoa màu. Dựa trên một nghiên cứu trên chuột cống trắng về tính gây ung thư và độc tính do tiếp xúc dài ngày người ta đã Um được NOAEL = 0,52 mg/kg thể trọng/ngày. Với hệ số bất định là 1000 (100 cho sự khác biệt về loài và cá thể, 10 vì tính có lẽ gây ung thư), TDI tìm được là 0 52 µg/kg thể trọng. Với tỉ phần TDI dành cho nước uống là 10%, giá trị hướng dẫn cho simazine là 2 µg/l 3.6.6 Nhóm chất sinh học Mycotoxin Mycotoxin là các hợp chất độc được sinh ra từ loài nấm làm nhiễm bần lương thực. Cần phải phân biệt vai trò của Mycotoxin trong y học: đó là các chất kháng sinh có tính độc đối với cơ thể sống kém phát triển như vi khuẩn và là các sản phản trao đổi chất của nấm trong điều kiện phòng thí nghiệm với các chất xuất hiện tự nhiên trong môi trường có tính độc với cơ thể người. Việc phát hiện ra chất kháng sinh cách đây 50 năm đã đem lại sự tiến bộ đáng kể trong y học nhưng đồng thời những độc tố nám xuất hiện trong tự nhiên cũng là vấn đề đáng quan tâm của ngành nông nghiệp và thú y. Aflatoxin Quá trình tạo thành Aflatoxin về mặt lý học phụ thuộc vào 128
  5. nhiệt độ và độ ẩm. Sự khử nhiễm độc Người ta đã nghiên cứu nhiều phương pháp để khử nhiễm độc và khử độc của các mặt hàng nông nghiệp bị nhiễm Aflatoxm. Việc muốn hoá aflatoxin B1, trong thức ăn cho động vật bị nhiễm Aflatoxin là phương pháp có khả năng khử độc: Phương pháp này được ứng đụng có kết hợp với nhiệt dẫn tới sự chuyển hoá từ aflatoxin B1 thành aflatoxin D1 và các chất khác, cả hai đều khôn ơ độc nếu điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thuận lợi thì quá trình này có thể ngược lại và tái sinh aflatoxin B1 khi axit hoá. Ngăn chặn sự hình thành Sự phát triển của nấm mốc phụ thuộc vào các yếu tố như độ ẩm, nhiệt độ, pH, thời gian, áp suất khí quyển, chất nền và yếu tố hóa học. Nhiều hợp chất hữu cơ ngăn cản sự hình thành các độc chất nhưng không ngăn cản sự phát triển của nấm mốc (ví dụ axit lactic, axit nitric…). Việc bảo quản thường xuyên đối với thực phẩm làm giảm sự phát triển của nấm mốc và hình thành aflatoxin ở nồng độ thấp hơn. . Mặc dù người và động vật hấp thụ aflatoxin qua đường ăn uống là chủ yếu nhưng cũng không loại trừ khả năng Aflatoxin hấp thụ vào người qua con đường hô hấp khi chúng tồn tại ở dạng hạt lơ lửng. 3.6.7. Các yếu tế môi trướng khác ảnh hưởng tới sức khoẻ con người Tiếng ồn Tiếng ồn tác động đến môi trường sống, ảnh hưởng đến sức 129
  6. khoẻ của cộng đồng và làm giảm chất lượng cuộc sống. Tiếng ồn làm cho người ta khó ngủ, ngủ không sâu, dẫn đến trạng thái tâm lý mệt mỏi, khó chịu và cáu bẳn. Tiếng ồn là một trong những nguyên nhân làm ngăn cản quá trình làm việc, hộc tập, sự trao đổi thông tin giải trí...của con người ảnh hưởng của tiếng ồn đến sức khoẻ con người được trình bày ở hình 3. Trong thời gian làm việc, người công nhân tiếp xúc với tiếng ồn cao và lâu dài có thể dẫn đến nguy cơ suy giảm thính lực và nặng hơn là dẫn đến bệnh điếc nghề nghiệp. Cơ quan thính giác của con người tuy có khả năng thích nghi, tự bảo vệ dưới tác động của tiếng ồn - khi có tiếng ồn mạnh độ nhạy của thính giác giảm xuống và sau khi tiếng ồn ngừng được 2 - 3 phút thì thính giác sẽ được hồi phục trở lại. Nhưng khả năng thích nghi của con người cũng có giới hạn, theo SE Seibecman thì chỉ sau 1 phút tác dụng của tiếng ồn ở vùng tần số 1.800 - 2.000 Hz mức âm 85 - 90 dBA có thể giảm thính lực 10 - 11 dBA. Nhưng nếu thời gian tác động của tiếng ồn mạnh hơn, kéo dài thì có hiện tượng mệt mỏi thính lực và khả năng phục hồi kém dần, cuối cùng là không thể phục hồi. Ngoài ra sự thích nghi còn phụ thuộc vào tính mẫn cảm của từng cơ thể, giới tính, sức khoẻ, tuổi tác... Ngoài ra, tiếng ồn còn có hại đến các cơ quan khác của cơ thể như: hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, hệ tiêu hoá . . . 130
  7. Hình 3. Ảnh hưởng tiếng ồn đến sức khoẻ Theo nhiều nghiên cứu cho thấy, nếu mỗi ngày người công nhân tiếp xúc 8 giờ với tiếng ồn thì cơ quan thính giác của họ sẽ bị tác động: Với mức ồn từ:. 90 - 100 dBA, sẽ dẫn đến tổn thương sau 10 - 20 năm làm việc. Với mức ồn từ; 100 - 105 dBA, sẽ dẫn đến tổn thương sau 10 năm làm việc. . với mức ồn: > 105 dBA, sẽ dẫn đến tổn thương sau 5 năm làm việc. Ở Việt Nam, bệnh điếc nghề nghiệp đã được phát hiện ở những công nhân ngành đường sắt, giao thông, năng lượng... Bệnh điếc nghề nghiệp phát triển dần dần và có thể có các triệu chứng lâm sàng chia thành 4 giai đoạn sau: 131
  8. Giai đoạn khởi đầu: bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi, ù tai, nghe kém sau ca làm việc. Đo thính lực sau ngày làm việc thấy có sự suy giảm thính lực ở tần số 4:000 Hz Giai đoạn tiềm tàng: thời kỳ này kéo dài từ 5 - 7 năm tuỳ thuộc vào sức đề kháng của tai, đo thính lực thấy có khuyết hình chữ V rõ rệt ở tần số 4.000 Hz, đỉnh có thể tới 50 - 60 dBA. Giai đoạn cuối của quá trình tiềm tàng: thời kỳ này kéo dài từ 10 - 15 năm. Đo thính lực thấy khuyết hình chữ V đã mở rộng đến vùng tần số 2.000 Hz. Nới chuyện bị ảnh hưởng. Gia đoạn điếc,rõ rệt giai đoạn này bệnh nhân bị ù tai, tiếng nói to cũng khó nghe. Khuyết hình chữ V đã mở rộng đến cả vùng tần số 1.000, 500, 250 Hz. Rung động Ảnh hưởng của rung động tới cơ thể con người khác nhau tùy thuộc vào một số yếu tố như: thời gian tiếp xúc với nguồn rung, vị trí tác động, đặc tính nguồn và các giá trị đại lượng động học. Nhìn chung ảnh hưởng. của rung động đối với cơ thể con người được chia làm 2 loại chính: ảnh hưởng rung toàn thân và ảnh hưởng rung cục bộ. Ảnh hưởng rung toàn thân Rung toàn thân có nghĩa là rung động tác động lên toàn bộ cơ thể, làm cho cơ thể bị rung động. Trường hợp này thường gặp khi con người đứng hoặc ngồi trên các bệ, sàn các máy móc thiết bị rung động mạnh trong quá trình vận hành, ví dụ: những công nhân làm việc ở các máy rèn, dập, máy búa khí nén, công nhân lái máy kéo, máy cày trong sản xuất nông nghiệp, công nhân lái xe tải lớn trong khai thác mỏ, xây dựng v.v... Rung động toàn thân theo phương thẳng đứng gây ra rất nhiều những 132
  9. phản ứng và rối loạn trong cơ thể so với tác động rung động theo phương nằm ngang. Trong nhiều trường hợp, với sự gia tăng cua rung động và thời gian tác động, các phản ứng đó được xen như các rối loạn chức năng như: rối loạn hoạt động của hệ thần kinh, ảnh hưởng sự hưng phấn và ức chế. Trường hợp nặng hơn có thể gây ảnh hưởng tới hệ thần kinh trung ương, viêm tiền đình, gây chóng mặt nhức đầu dai dẳng, buồn nôn... Bên cạnh đó còn gây rối loạn chức năng của hệ thần kinh thực vật làm cho các bệnh mạn tính của các cơ quan nội tạng bị trầm trọng hơn. Ngoài những ảnh hưởng đối với hệ thần kinh, rung động tàn thân còn gây ra những bệnh về cột sống và dạ dày khá trầm trọng và phổ biến, đặc biệt đối với công nhân lái xe có tải trọng lớn trong ngành khai thác than và đá, cũng như công nhân lái máy kéo trong ngành nông nghiệp. Ảnh hưởng rung cục bộ, Rung cục bộ chỉ làm cho từng bộ phận của cơ thể bị rung động ảnh hưởng rung cục bộ thường gặp nhất trong các công việc có sử dụng các thiết bị khí nén, hoặc điện cầm tay như máy khoan đá khí nén, máy đúc đá, máy đầm cầm tay máy tán rivê, máy chèn khuôn... Sự căng hệ thống cơ tay tạo điều kiện thuận lợi cho sự lan truyền rung động tới toàn chi trên và vai, dẫn tới sự co rút cơ, phát sinh chuột rút và nặng hơn có thể bị teo cơ. Mặt khác, sự co cơ thường xuyên sẽ tạo khả năng cho sự lan tuyền rung động vào xương, đặc biệt vào các bề mặt của các khớp, làm cho các khớp bị xiết chặt một cách không bình thường và nếu trạng thái này kéo dài, lặp đi lặp lại sẽ dẫn đến tổn thương ở các khớp như: gai xương, dị vật ở khớp yếu xương hoặc biến dạng cấu trúc xương và thậm chỉ có thể bị hoại tử 133
  10. xương bán nguyệt. Ngoài những ảnh hưởng về xương khớp, rụng động cục bộ còn gây ra rối loạn về mạch máu và vận mạch. Vị trí rối loạn thường khu trú ở các ngón tay cầm máy của bàn tay trái và ngón bị ảnh hưởng nhiều nhất là ngón út, ngón đeo nhẫn và ngón giữa. Tính chất lâm sàng của những rối loạn này được nhận thấy qua những cơn thiếu máu cục bộ của các ngón tay với sự khởi đầu bằng chứng mất màu da tạm thời kèm theo cóng và không có cảm giác ở một hay nhiều ngón tay. Lâu dài sẽ dẫn đến tình trạng bệnh trầm trọng gây khó khăn trong cử động ngón tay và bàn tay. Đây cũng là căn bệnh điển hình của ảnh hưởng rung cục bộ và được gọi là bệnh ngón tay trắng do rung là bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm. 3.7. Ảnh hưởng của môi trường tới sức khoẻ con người 3.7.1 Đánh giá ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước Đánh giá ô nhiễm môi trường không khí Trong thực tế mới trường không khí được phân ra thành những loại khác nhau để đánh giá mức độ ô nhiễm như môi trường không khí nơi làm việc và môi trường không khí xung.quanh. Đánh giá ô nhiễm môi trường lao động Đánh giá được tiến hành theo những thông số như: các yếu tố vi khí hậu, các loại hơi khí độc hại cho sức khoẻ con người. Môi trường không khí nơi làm việc được coi là không bị ô nhiễm nếu các chỉ số môi trường đáp ứng các quy định của Bộ Y tế và tiêu chuẩn Việt Nam về vệ sinh lao động. Tuy nhiên, khi người lao động làm việc trong môi trường có 134
  11. nhiều yếu tố gây ô nhiễm (bụi hơi khí độc, tiếng ồn...) thì do tác động đồng thời của nhiều yếu tố sẽ dẫn tới những biến đổi sinh lý và làm suy giảm sức khoẻ, tăng khả năng phơi nhiễm. Đánh giá ô nhiễm môi trường không khí xung quanh Việc đánh giá được tiến hành theo những thông số được quy định trong các tiêu chuẩn, hiện nay đang áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam về chất lượng môi trường không khí như TCVN 5937- 1995, TCVN 5938-1995... Môi trường không khí xung quanh được coi là chưa ô nhiễm khi các thông số môi trường (được quy định trong tiêu chuẩn) thấp hơn giới hạn cho phép. Đánh giá ô nhiễm môi trường nước Tuỳ theo mục đích phân loại mà tài nguyên nước được chia thành các loại như nước thải nước biển ven bờ, nước đùng cho nuôi trồng :thuỷ sản, nước cấp phục vụ sinh hoạt: Tương tự như môi trường không khí xung quanh, nguồn nước cấp phục vụ sinh hoạt được coi là chưa ô nhiễm khi các thông số môi trường (được quy định trong tiêu chuẩn) thấp hơn giới hạn cho phép. Ngoài ra, trong ngành cấp thoát nước còn có các tiêu chuẩn ngành về chất lượng nước như : các tiêu chuẩn xây dựng: TCXD 233-1999 và tiêu chuẩn quy định về các chỉ tiêu lựa chọn nguồn nước mặt, nước ngầm phục vụ hệ thống cấp nước sinh hoạt. 3.7.2 Nghiên cửu ảnh hưởng do tác động đồng thời của nhiều yếu tố có hại trong môi trường làm việc tới các biến đổi sinh lý và bệnh lý của con người Các yếu tố gây ô nhiễm môi trường lao động thông thường có tính chất hoá, lý và sinh học. Khi cùng tiếp xúc cùng một lúc với 135
  12. hai hay nhiều yếu tố vật lý hay hoá học thì sv phối hợp với nhau có thể có tác động cộng hưởng và cũng có thể có các tác động trái ngược nhau đến cơ thể. Chính vì thế, cách xem xét hợp lý là trong quá trình nghiên cứu ta phải tìm cách thay thế vị trí của các yếu tố đó. Khi làm việc trong môi trường có nhiều yếu tố có hại, gây ô nhiễm, người lao động có thể phải chịu 3 loại ảnh hưởng: ảnh hưởng độc lập: mỗi một yếu tố gây nên một ảnh hưởng khác biệt do cách gây tác động khác nhau. - Ảnh hưởng cộng hưởng: khi tác động kết hợp làm cho ảnh hưởng mạnh hơn là tác động của mỗi yếu riêng rẽ. - Ảnh hưởng trái ngược: khi tác động kết hợp làm cho ảnh hưởng yếu hơn tác động cộng lại. Do đặc điểm của một số công đoạn sản xuất, người công nhân tiếp xúc với một loạt các chất gây ô nhiễm nên khó có thể khẳng định rằng ảnh hưởng gây nên là do yếu tố này hay yếu tố khác hoặc đo sự tác động tổng hợp của chúng. Chính vì thế, trong công nghiệp, đặc biệt là trong công nghiệp luyện kim, hoá chất... công nhân thường tiếp xúc cùng một lúc với nhiều yếu tố gây ô nhiễm và một yếu tố có thể đóng vai trò nổi bật làm xuất hiện bệnh, nhưng khi xem xét các tác nhân gây bệnh không thể bỏ qua ảnh hưởng của những yếu tố còn lại. Theo các nhà y học, ảnh hưởng phối hợp của nhiều chất độc có tác dụng cộng thêm ảnh hưởng vào với nhau tuỳ theo nồng độ. Họ cho rằng khi tiếp xúc cùng một lúc vừa hợi khí độc, vừa với bụi sẽ gây phản ứng của phổi đối với bụi hít vào. Ví dụ: làm việc trong môi trường có bụi, người công nhân còn hít phải cacbonoxit (CO), nitơdioxlt (NO2): Và Sunfuadioxit (SO2) thì họ sẽ chịu ảnh hưởng tăng nhanh của sự phát triển 136
  13. bệnh bụi phổi (Von Nieding và các cộng sự). Do đó, rõ ràng là khi làm việc trong môi trường có cả hơi khí độc và bụi, sức khoẻ người lao động sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn. Trong môi trường làm việc có nhiệt độ cao, các hợp chất hoá học sẽ tăng cường quá trình bay hơi và làm tăng nồng độ trong môi trường không khí. Chính môi trường với nhiệt độ cao đã làm giảm sức chịu đựng của người lao động đối với các chất độc hại cũng như các yếu tố có hại khác. Các nhà y học cũng đã chứng minh rằng, tại môi trường làm việc trong một số ngành công nghiệp như luyện kim, mỏ, xi măng... người lao động phải tiếp xúc với bụi trong điều kiện nhiệt độ cao, số trường hợp mắc bệnh bụi phổi khi phải làm việc gắn các khu vực nguồn nhiệt cao hơn so với các khu vực khác. Do đó, có thể nói sự kết hợp này có tác dụng thúc đẩy nguy cơ nhiễm bệnh đối với con người. Để nghiên cứu ảnh hưởng do tác động đồng thời của nhiều yếu tố cỏ hại trong môi trường làm việc tới các biến đổi sinh lý và bệnh lý của người lao động, các nhà khoa học trong nước và trên thế giới đã xây dựng công thức tính toán xác định mức độ ô nhiễm môi trường lao động dưới tác động đồng thời của nhiều thông số môi trường tới sức khoẻ của con người. Nhìn chung, các tác giả đều khẳng định việc tác động đồng thời của nhiều thông số làm tăng các ảnh hưởng xấu đến người lao động, làm suy giảm sức khoẻ, tăng tỷ lệ bệnh tật nhất là các bệnh có liên quan tới nghề nghiệp. Lúc đầu để hạn chế ảnh hưởng xấu của các chất độc hại đến người lao động trong môi trương làm việc, công thức giới hạn nồng độ tiếp xúc được xác định: Cl/ml + C2/m2 +…………..Cm/mn ≤ 1 137
  14. Trong đó: Cl, C2, …., Cn: là nồng độ thực tế của các chất độc hại trong môi trường m1, m2. …. mn: là nồng độ cho phép của các chất đó. Tuy nhiên, không phải lúc nào quy định này cũng thực hiện được và công thức trên cũng không thể sử dụng khi không chỉ có các yếu tố hoá học mà còn có sự tác động tương hỗ của các yếu tố vật lý. Do đó việc xây dựng mô hình toán xác định mức độ ô nhiễm môi trường lao động dưới tác động của nhiều thông số đã được tiến hành. Trước khi xây dựng công thức tính toán, những người thực hiện đã tiến hành xác định tỷ lệ ảnh hưởng đến cảm nhận của người lao động theo từng yếu tố. Ty lệ cảm nhận được xác định trên cơ sở hai phương pháp : Đo đạc các thông số mối trường của các yếu tố : bụi, hơi khí độc tiếng ồn, chế độ nhiệt ẩm và chất lượng ánh sáng. Sau đó xác định mức độ ô nhiễm môi trường lao động do từng yếu tố gây ra (so sánh với chỉ tiêu đánh giá ô nhiễm). Đánh giá mức độ các yếu tố gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khoẻ thông qua cảm nhận của số người lao động làm việc tại các môi trường đó, qua phiếu điều tra cá nhân và qua việc khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động. Bảng 14 Mức độ phản ứng R qua chỉ tiêu đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường lao động 138
  15. Các yếu tố Mức độ phản Mức độ ô nhiễm Hơi khí Bụi (B) Tiếng ồn Nhiệt -ẩm ứng của độ (K) (N) (V) người LD (R) Hợp vệ sinh = TCCP = TCCP - TCCP >14 - 16 1 Ô nhiễm ít >1 - 1,5 >1 - 3 > 1 - 3 >16 - 17,5 2 Ô nhiễm vừa >1,5 - 2,5 >3 - 5 >3-5 17,5 - 19 3 Ô nhiễm nhiều >2,5-4 >5-10 > 5 -10 >19 - 20,5 4 Ô nhiễm rất nhiều > 4 - 6 >10 - 30 > 10 - 20 >20,5 - 22 5 Ô nhiễm nghiêm >6 > 30 >20 > 22 6 trọng Trong đó R = 1: Chấp nhận được R - 2: Tạm chấp nhận R = 3: Khó chấp nhận R = 4: Rất khó chấp nhận R = 5: Không thể chấp nhận R = 6: Hoàn toàn không thể chấp nhận Như vẩy, các kết quả thu nhận được sẽ là mối quan hệ phụ thuộc của 3 đại lượng: các thông số đo đạc môi trường lao động, cảm nhận chủ quan và thể trạng sức khoẻ người lao động. Tỷ lệ những người cảm nhận đúng theo đo đạc có triệu chứng mệt mỏi, ốm đau trên số người điều tra có cảm nhận được gọi là tỷ lệ ảnh hưởng và kí hiệu là a. Và từ tỷ lệ đó, xây dựng thang đo mức độ phản ứng - R tương ứng với mức độ ô nhiễm để tính toán xác định mức độ ô nhiễm môi trường trước tác động đồng thời của nhiều yếu tố được trình bày ở bảng 14 (Lê Vân Trình, 139
  16. 1998). Các bước tiến hành Bước 1: Xác định trọng lượng ô nhiễm của các yếu tố gây ô nhiễm. Gọi trọng lượng ô nhiễm là G. Đối với hơi khí độc Gk = ak . Rk : Đối với bụi: Gb = ab . Rb Đối với nhiệt ẩm: Gv = av . Rv Đối với tiếng ồn: Gu = au . Ru Bước 2: Tính trọng lượng ô nhiễm dư ∆G Khi trong môi trường làm việc có từ hai yếu tố gây ô nhiễm trở lên, lấy yếu tố có mức độ gây ô nhiễm cao nhất (theo 5 mức độ). Trong trường hợp nếu hai yếu tố có mức độ gây ô nhiễm cao bằng nhau, các mức khác nhỏ hơn thì ta chọn trong số hai yếu tố đó yếu tố nào có tỷ lệ ảnh hưởng a lớn hơn là yếu tố chính. Tính hiệu của tổng trọng lượng ô nhiễm của các yếu tố còn lại G với trọng lượng ô nhiễm của yếu tố chính Gc ∆G = ΣG - Gc (Trong trường hợp ngược lại tức Gc > ΣG thì bài toán dừng lại ở đây và mức ô nhiễm tổng hợp bằng mức ô nhiễm của yếu tố chính). Bước 3: Xác định trị số R của phần dư đó so với tổng tỷ lệ ảnh hưởng thành phần (trừ tỷ lệ ảnh hưởng yếu tố chính). Bước 4: Xác định sốt tổng hợp của tất cả các yếu khác động Từ Rtổng tra bảng suy ra mức độ ô nhiễm tổng hợp chung của môi trường lao động. 140
  17. Trên cơ sở bốn bước tiến hành này, người ta đã thiết lập ra công thức tính toán chung và được đặt tên là công thức NILP 93 (National Institute of Labour Protection): Rtổng: Mức độ phản ứng tổng hợp của người lao động với việc tác động đồng thời của yếu tố chính và n yếu tố phụ. a*: Tỷ lệ ảnh hưởng của yếu tố gây ô nhiễm hoặc chính trong môi trường lao động đang xét. ai: Tỷ lệ ảnh hưởng của các yếu tố khác trong môi trường lao động đó, có mức độ ô nhiễm thấp hơn yếu tố chính. R*: Mức độ phản ứng của người lao động với yếu tố ô nhiễm chính. Ri: Mức độ phản ứng của người lao động với các yếu tố còn lại: Sau khi xác định được Rtổng, tra bảng sẽ đánh giá được mức độ ô nhiễm môi trường dưới tác động tổng hợp của nhiều yếu tố ô nhiễm. 3.7.3 Đánh giá mức độ ô nhiễm nhiệt đến sức khoẻ con người: Để đánh giá được mức độ ô nhiễm nhiệt có thể đánh giá trên cơ sở tính toán cảm giác nhiệt SN, công thức của NILP như sau: SN = 7,965 - 0,1 (tk+tr)0,92 - 0,033.Phn + 0,04 (37,8-tk)v1/2 . Trong đó: - tk là nhiệt độ không khí vùng làm việc của người lao động 0 ( C) tk là nhiệt độ trung bình bề mặt trong kết cấu bao che và bề mặt thiết bị gia công nóng (0C) Phn -áp suất riêng phần của hơi nước trong không khí tại vung làm việc (mmHg) v là vận tốc gió tại vùng làm việc 141
  18. Từ công thức trên cho thấy, điều kiện thông khí tốt (tạo gió) sẽ tác động đến các chỉ tiêu tính toán cảm giác nhiệt SN. Bảng 15 Tỷ lệ ảnh hưởng của các yếu tố gây ô nhiễm Yếu tố gây ô Hơi khí Bụi Nhiệt Độ ồn ánh sáng nhiễm độ c ẩm Tỷ lệ ảnh hưởng 0,348 0,217 0, 84 0,172 0,072 ai ak ab av an as Để đánh giá được mức độ ô nhiễm môi trường lao động, có thế sử dụng phương pháp đánh giá dựa vào công thức: Rt = Rc + [(R1a1 +R2a2 +….. + Rnan) - Rcac]/(a1 + a2 + … + an ) Trong đó: R là mức độ phản ứng tổng hợp của người lao động với việc tác động đồng thời của yếu tố chính và n - 1 yếu tố phụ. ai là tỷ lệ ảnh hưởng của các yếu tố gây ô nhiễm. ai được tính như bảng 15; Để tính được Rt cần sử dụng bảng mức độ phản ứng R của các chỉ tiêu qua việc phân tích các chất ô nhiễm môi trường. Mức độ phản ứng R theo chỉ tiêu đánh giá mức ô nhiễm môi trường lao động được thể hiện ở bảng 16. Đánh giá chi phí kinh tế của ô nhiễm môi trương lao động. Mọi chi phí về thiệt hại kinh tế do ô nhiễm môi trường lao động gây ra phải được xác định trên cơ sỏi hiệu quả sản xuất E của người lao động trong thời gian mà các yếu tố gây ô nhiễm tác động, Viện nghiên cứu Khoa học Kinh tế Bảo hộ lao động 142
  19. Việt Nam đã xây dựng phương pháp tính toán chi phí đền bù thiệt hại do ô nhiễm môi trường lao động gây ra thông qua hiệu quả sản xuất của người lao động như sau: . (1) Trong đó : Ai - Năng suất lao động trung bình tính ra giá thành sản phẩm của một người lao động trong một đơn vị thời gian Ci - Chi phí cho thiệt hại về sản phẩm lao động do 1 người lao động ốm đau phải nghỉ chi phí cho bảo hiểm xã hội, chi phí cho khám chữa bệnh. n - Số lượng công nhân làm việc trong phân xưởng bị ô nhiễm . Nếu hiệu quả sản xuất E < 0 tức là chi phí cho ô nhiễm môi trường lao động C lớn hơn năng suất lao động A và việc sản xuất phải ngừng lại, đây là trường hợp sự cố. Thông thường khi sản xuất vẫn tiếp diễn tức là khi E > 0. Những thiệt hại về hiệu quả sản xuất không chỉ xảy ra trong một đơn vị thời gian ngắn mà có thể diễn ra trong cả một thời gian dài do tình trạng ô nhiễm môi trường lao động kéo dài. Khi tính toán những thiệt hại này, phải tính tới ảnh hưởng của hiệu quả sản xuất nên thời gian đó. Giả thiết tình trạng ô nhiễm sẽ kéo dài t năm mới khắc phục được, khi đó giá thành của hiệu quả sản xuất trong t năm có giá trị: Trong đó: r - là lãi suất ngân hàng trung bình theo giá trị năm, (%/năm) t - số năm quá trình ô nhiễm môi trường lao động diễn ra. 143
  20. Như vậy giá trị hiệu quả sản xuất ở năm thứ t ở thời điểm hiện tại sẽ là: (2) Bảng 16 Mức độ phản ứng R theo chỉ tiêu đánh giá mức ô nhiễm môi trường lao động Các yếu tốc độc hại Loại Mức độ ô Hơi khí Bụi (số Tiếng Nhiệt Mức độ môi nhiễm độc (số lần lần. ồn (số (số vượt phản ứng trường vượt vượt lầ n TCCP) của lao lao TCCP) TCCP) vượt động (R) động TCCP) 0 Hợp vệ 14 - 16 1 sinh Dưới hoặc bằng TCCP 1 Ô nhiễm 1 - 1,5 1-3 1-3 16-17,5 2 2. Ô nhiễm 1,5 - 2,5 3-5 3-5 17,5 -19 3 vừa 3 Ô nhiễm 2,5 - 4 5 - 10 5 - 10 19-20,5 4 nặng 4 ô nhiễm 4-6 10 - 30 10 - 20 20,5- 22 5 rất nặng Ô nhiễm nghiêm 5 >6 > 30 >20 >22 6 trọng 144
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2