c đng mưa lũ lên vườn
cây ăn trái
Do canh tác trên vùng đất
thấp, diện tích cây ăn trái
của cả vùng ĐBSCL db
rủi ro do ngập úng, do tần
suất xuất hiện lũ ngày càng
cao trong những năm gần
đây. Lũ lụt ĐBSCL thường
xảy ra trong ba tháng 9, 10,
11 hàng m, với đỉnh lũ
thường tập trung vào cuối
tháng 9, 10.
Hầu hếtc vườn cây ăn trái
đều b ảnh hưởng thiệt
hại với mức độ khác nhau
do ngập lũ. Nguyên nhân
do:
Hiện tượng đất bị đóng váng
bề mt doc mưa xói
mòn, hoà tan các hạt sét nhỏ
và phủ kín các khoảng trống
trên mặt đất hoặc do lớp phù
sa (từ ngập lụt) bồi kín mặt
đất làm đất không còn
thoáng khí.
Đất b ngập nước chiếm hết
các tế khổng, nên không còn
đủ oxy cung cấp cho rễ hô
hấp (chỉ sau 24-48 giờ), đất
trở nên bão hoà nước và rễ
rất dễ bị huỷ hoại.
Do cao trình thấp, khả năng
thoát lũ kém, mực nước
trong cácơng vườn
thường rất cao (hiện tượng
úng cục bộ hay từng phần)
làm hạn chế và hủy hoại hệ
thống rễ mọc sâu dưới tầng
đất mặt.
Các nguyên nhân này làm
đất bthiếu oxy, đồng thời
bị ngộ độc CO2 ng các
độc chất khác, rễ bị "nghẹt"
và sau đó bị thối. Hậu quả
này làm các loài nấm bệnh
trong đất (chủ yếu là
Fusarium và Phytophtthora)
rất dễ tấnng gây hại cho
cây trồng trong và sau mùa
lũ. Hiện tượng nghẹt rễ cũng
làm cho cây bị "stress", tng
hợp ethylenne bên trong gây
ngộ độc, làm lá bị vàng
rụng (triệu trứng này thường
dễ gặp trên nhãn, mít và
cam quýt khi y bị ngập
úng hoặc doa làm đất
không thoáng), đặc biệt sau
khi nước t.
Khả năng chịu ngập của các
loài cây ăn trái còn thay đổi
tuỳ thuộc vào:
- Giống trồng trọt: Trên
cùng li, nhưng giống xoài
bưởi chịu ngập kém hơn
xoài cát Hoà Lộc, t chu
hay thanh ca, chanh núm
chu ngập kém hơn chanh
giấy...
- Tuổi cây: Cây tơ (chưa cho
trái) chịu ngập kém hơn cây
trưởng thành hoặc đã trồng
lâu năm trên 10 năm.
- Tình trạng cây: Cây đang
phát triển sinh khối (ra đọt,
phát triển rễ tơ, ra hoa mang
trái) phải tiêu tn nhiều
năng lượng dự trữ nên khả