intTypePromotion=1
ADSENSE

Thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong bối cảnh bảo hộ thương mại

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:14

14
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bảo hộ thương mại là việc một quốc gia sẽ ban hành áp dụng các tiêu chuẩn hàng rào kỹ thuật về chất lượng, vệ sinh, an toàn lao động, môi trường, xuất xứ, áp đặt thuế nhập khẩu cao đối với một hoặc một số mặt hàng mà quốc gia có lợi thế để tiến tới việc hạn chế nhập khẩu, qua đó bảo vệ nền sản xuất hàng hóa, dịch vụ trong nước. Bài viết sẽ phân tích tình hình bảo hộ thương mại hiện nay, việc xuất khẩu hàng hóa trong bối cảnh bảo hộ thương mại và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong bối cảnh bảo hộ thương mại

  1. THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH BẢO HỘ THƯƠNG MẠI PROMOTING THE EXPORT OF GOODS OF VIETNAM IN THE BACKGROUND OF TRADE PROTECTION ThS. Phạm Thị Hồng Mỵ Trường Đại học Sài Gòn Tóm tắt Bảo hộ thương mại là việc một quốc gia sẽ ban hành áp dụng các tiêu chuẩn hàng rào kỹ thuật về chất lượng, vệ sinh, an toàn lao động, môi trường, xuất xứ, áp đặt thuế nhập khẩu cao đối với một hoặc một số mặt hàng mà quốc gia có lợi thế để tiến tới việc hạn chế nhập khẩu, qua đó bảo vệ nền sản xuất hàng hóa, dịch vụ trong nước. Hiện nay, xu hướng bảo hộ thương mại trên thế giới đang ngày càng gia tăng, đặt ra yêu cầu cho Việt Nam là cần có giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa như nhóm hàng hóa nông lâm thủy sản, dệt may, da giày, thiết bị điện tử, truyền thông... Bài viết sẽ phân tích tình hình bảo hộ thương mại hiện nay, việc xuất khẩu hàng hóa trong bối cảnh bảo hộ thương mại và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam. Từ khóa: bảo hộ thương mại; phát triển kinh tế; xuất khẩu hàng hóa. Abstract Trade protection means that a country will adopt the application of technical barriers on quality, hygiene, labor safety, environment and origin, and impose high import duties on one or the other. The number of commodities that the country has advantages to proceed to restrict imports, thereby protecting the domestic production of goods and services. Currently, the trend of trade protection in the world is increasing, which requires Vietnam to have a solution to promote the export of goods such as agricultural, forestry and aquatic products, textiles, and footwear, electronics, communication... The article will analyze the current trade protection situation, the export of goods in the context of trade protection and propose some solutions to promote the export of goods by Vietnam. Keywords: trade protection; economic development; export of goods. 1. Đặt vấn đề Hiện nay, với chính sách thương mại xung đột giữa hai cường quốc trên thế giới là Hoa Kỳ và Trung Quốc đã ảnh hưởng rất lớn đến các quốc gia đang phát triển, làm cho nhiều quốc gia lựa chọn biện pháp phát triển kinh tế của nước mình bằng cách chú trọng thúc đẩy sản xuất công nghiệp để dần dần thay thế cho các mặt hàng nhập khẩu như là sắt, thép, phân bón... Chính vì vậy, các quốc gia này đã sử dụng các biện pháp như là thắt chặt quy định về tỷ lê nội địa hóa, trợ giá hàng xuất khẩu, tăng thêm quy định cho các biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ ngành sản xuất trong nước. Bên cạnh đó, hàng loạt các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA) ra đời với những quy định mang tính WTO + 50
  2. thì đòi hỏi mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam cần có những chiến lược, giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng hóa trong giai đoạn 2021 - 2030. 2. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu về giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong bối cảnh bảo hộ thương mại hiện nay có rất nhiều các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp như: nhóm tác giả Lê Quang Thuận và Nguyễn Thị Phương Thúy năm 2018 với bài viết: Xu hướng bảo hộ thương mại trên thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam; nhóm tác giả Ngô Tuấn Anh, Nguyễn Cẩm Tú, Ngô Anh Thái năm 2019 với bài viết: Xu hướng mới trong bảo hộ thương mại trên thế giới và những khuyến nghị đối với Việt Nam; tác giả Doãn Công Khánh năm 2019 với bài viết Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực: Thực tiễn và giải pháp; hay bài viết Hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn 2011-2019 và một số đề xuất của tác giả Phạm Hồng Nhung năm 2019; tác giả Lê Thị Thanh với công trình Xuất khẩu hàng hóa Việt Nam trong bối cảnh mới và những vấn đề đặt ra năm 2019... Những công trình nghiên cứu này đã phân tích xu hướng bảo hộ thương mại, những tác động tích cực, tiêu cực, thách thức của bảo hộ thương mại đối với nền kinh tế Việt Nam, đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa. Điểm chung của bài viết này so với các công trình nghiên cứu trước là đều có sự phân tích đánh giá tình hình bảo hộ thương mại hiện nay, sự tác động của bảo hộ thương mại đến việc xuất khẩu hàng hóa, đề xuất giải pháp tăng cường xuất khẩu hàng hóa. Bài viết này, tác giả sẽ dựa theo hướng nghiên cứu, cách tiếp cận đó để tiếp tục có nội dung bổ sung, sẽ nghiên cứu phân tích cụ thể các tác động tích cực và tiêu cực của bảo hộ thương mại đến xuất khẩu hàng hóa, có những bảng minh họa nội dung phân tích. Bên cạnh đó, tác giả cũng có những giải pháp đề xuất tập trung vào cơ quan chính phủ Việt Nam và các doanh nghiệp Việt Nam trong việc thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến bài viết là: Bảo hộ thương mại là gì? Xuất khẩu hàng hóa là gì? Theo đó, bảo hộ thương mại là thuật ngữ kinh tế là việc một quốc gia sẽ ban hành áp dụng các tiêu chuẩn hàng rào kỹ thuật về chất lượng, vệ sinh, an toàn lao động, môi trường, xuất xứ, áp đặt thuế nhập khẩu cao đối với một hoặc một số mặt hàng mà quốc gia có lợi thế để tiến tới việc hạn chế nhập khẩu, qua đó bảo vệ nền sản xuất hàng hóa, dịch vụ trong nước. Hay nói cách khác, bảo hộ thương mại là tổng hợp các chính sách thương mại của chính phủ nhằm bảo vệ các nhà sản xuất trong nước chống lại nhà sản xuất nước ngoài trong một ngành cụ thể. Bốn công cụ chính là thuế quan, trợ cấp, hạn ngạch và kiểm soát tiền tệ. Chiến lược bảo hộ phổ biến nhất là ban hành thuế quan nhập khẩu, điều này ngay lập tức làm tăng giá hàng nhập khẩu và hàng này sẽ trở nên ít cạnh tranh hơn khi so sánh với hàng hóa nội địa. Biện pháp thứ hai là trợ cấp cho các ngành công nghiệp trong nước để giúp ngành này cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Điều này cho phép các nhà sản xuất hạ giá hàng hóa và dịch vụ của mình, làm cho sản phẩm rẻ hơn ngay cả khi vận chuyển ra nước ngoài. Biện pháp thứ ba là áp đặt hạn ngạch đối với hàng hóa nhập khẩu, cho dù nước ngoài có định giá thấp như thế nào như thông qua các khoản trợ cấp thì không thể vận chuyển được nhiều hàng hóa hơn. Biện pháp cuối cùng là kiểm soát tiền tệ, hạ thấp giá trị tiền tệ, sẽ làm cho xuất khẩu rẻ hơn và nâng cao tính cạnh tranh hơn. Bên cạnh đó, 51
  3. biện pháp áp dụng các hàng rào kỹ thuật như yêu cầu về chất lượng, an toàn lao động, môi trường, quy tắc xuất xứ đối với một hoặc một số mặt hàng mà quốc gia có lợi thế để hạn chế nhập khẩu nhằm bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa nội địa. Ưu điểm của bảo hộ thương mại là nếu như quốc gia đang phát triển ngành công nghiệp mới thì thuế quan sẽ là biện pháp hữu hiệu để bảo vệ ngành công nghiệp đó trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Mặt khác bảo hộ thương mại cũng sẽ tạo việc làm cho lao động trong nước. Tuy nhiên, việc bảo hộ thương mại gia tăng sẽ gây tổn hại cho tất cả các quốc gia, sẽ kích hoạt thuế quan trả đũa lẫn nhau và một cuộc chiến thương mại xuất hiện giữa các cường quốc lớn dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho các nhà xuất khẩu hàng hóa và cả lực lượng lao động.Còn xuất khẩu hàng hóa hiểu theo nghĩa thông thường là hoạt động kinh doanh mà sản phẩm hàng hóa của quốc gia này bán cho quốc gia khác. Hiểu theo nghĩa pháp lý tại Điều 28 Luật Thương mại năm 2005 thì xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Trong nội dung bài viết này, xuất khẩu hàng hóa là chỉ việc hàng hóa của quốc gia Việt Nam được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam sang thị trường quốc gia khác. Các lý thuyết thể hiện như Lý thuyết tư tưởng của chủ nghĩa trọng thương. Tư tưởng này xuất hiện và phát triển ở Châu Âu vào giữa thế kỷ XV, XVI, thịnh hành suốt thế kỷ XVII và tồn tại đến giữa thế kỷ XVIII. Các nhà trọng thương cho rằng chỉ có vàng bạc mới là thước đó thể hiện sự giàu có của quốc gia và quốc gia nào muốn đạt được sự thịnh vượng thì phải gia tăng được khối lượng vàng bạc tích trữ thông qua việc phát triển ngoại thương. Điều này được biểu hiện ở lợi ích thu được nếu giá trị xuất khẩu lớn hơn giá trị nhập khẩu. Như vậy xuất khẩu là có lợi cho quốc gia còn nhập khẩu là có hại. Các nhà trọng thương cũng cho rằng, chính phủ cần phải trực tiếp tổ chức xuất khẩu và đề ra các biện pháp khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu để qua đó ban hành các chính sách tăng cường xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu. Như vậy, tư tưởng trọng thương là một bước tiến đáng kể, đã đặt nền tảng cho việc khuyến khích, tăng cường các hoạt động xuất khẩu cũng như vai trò của cơ quan nhà nước trong việc điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu. Tư tưởng này góp phần quan trọng vào việc mở rộng phát triển hoạt động thương mại quốc tế như mua bán hàng hóa quốc tế được thể hiện ở hình thức như xuất khẩu hàng hóa và làm hình thành cơ sở lý luận cho chính sách thương mại quốc tế của các quốc gia hiện nay trên thế giới. Bên cạnh đó còn có Lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế như lý thuyết cổ điển, lý thuyết trường phái Keynes, lý thuyết tân cổ điển và lý thuyết hiện đại. Các lý thuyết đều nhận định các chính sách nhằm tăng trưởng kinh tế như mở cửa nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, trợ cấp cho giáo dục, nghiên cứu và triển khai công nghệ mới. Lý thuyết này cũng góp phần quan trọng trong việc mở rộng thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa nhằm tăng trưởng nền kinh tế. Ngoài ra, còn có cơ sở lý thuyết lợi thế so sánh, xác định mặt hàng có lợi thế so sánh để quốc gia đó sẽ tập trung vào sản xuất. Đặc biệt là mô hình Heckscher - Ohlin (mô hình H-O), mô hình này đưa ra hai yếu tố ảnh hưởng tới thương mại giữa các quốc gia là: (i) mức độ dồi dào và rẻ của các yếu tố sản xuất và (ii) mỗi một mặt hàng lại cần tỷ lệ các yếu tố đầu vào khác nhau. Và một quốc gia nên xuất khẩu các hàng hóa mà mình dồi dào yếu tố sản xuất cho hàng hóa đó và nhập khẩu hàng hóa còn lại. Hay nói cách khác là, một nền kinh tế có lợi thế so sánh trong việc 52
  4. sản xuất và do đó sẽ xuất khẩu, và nhập khẩu các mặt hàng mà quốc gia khan hiếm. Đây là lý thuyết được xem là một trong các lý thuyết có mức độ ảnh hưởng rộng lớn trong kinh tế học quốc tế. Bài viết đặt ra một số câu hỏi nghiên cứu chính như sau: Thứ nhất, tình hình xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong bối cảnh các nước khác trên thế giới thực hiện bảo hộ thương mại như thế nào? Thứ hai, việc bảo hộ thương mại của các quốc gia khác đã tác động tích cực và tiêu cực như thế nào đến việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam? Thứ ba, cần thiết phải có những giải pháp gì để thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong bối cảnh bảo hộ thương mại này? Từ các câu hỏi nghiên cứu chính trên, bài viết cố gắng đạt được các kết quả sau: Liệt kê kết quả đạt được trong việc xuất khẩu hàng hóa, tác động tích cực của bảo hộ thương mại đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam; Trình bày những khó khăn của việc xuất khẩu hàng hóa, tác động tiêu cực của bảo hộ thương mại đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam; Đóng góp các giải pháp cho Chính phủ Việt Nam và các doanh nghiệp Việt nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa trong bối cảnh bảo hộ thương mại hiện nay. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu như: (i) phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: tác giả sưu tầm tài liệu, nghiên cứu chính sách, thống kê, phân loại tổng hợp, so sánh đánh giá thông tin và đưa ra nhận xét (ii) phương pháp phân tích nội dung: thông qua những bài viết, chính sách về bảo hộ thương mại ở các nước trên thế giới để đánh giá thực tiễn tình hình tác động bảo hộ thương mại đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam và đề xuất những giải pháp điều chỉnh phù hợp. 3. Kết quả và thảo luận 3.1. Xu hướng bảo hộ thương mại hiện nay và tác động của chính sách bảo hộ thương mại đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam 3.1.1. Xu hướng bảo hộ thương mại hiện nay trên thế giới Cùng với sự phát triển kinh tế và xã hội, hội nhập thương mại diễn ra sâu rộng, giai đoạn 1990 - 2008, tổng thương mại hàng hóa và dịch vụ tăng từ 39% lên 61% GDP thế giới. Kể từ đó thương mại đã chậm lại trong khi sự bảo hộ thương mại đang ngày càng gia tăng do sự gia tăng của hàng rào thuế quan. Cụ thể, biểu đồ sau đây là minh chứng cho việc sử dụng các biện pháp thương mại từ năm 2009 đến 2018. 53
  5. Hình 01: Các biện pháp thương mại được công bố (Nguồn: Global Trade Alert database) Trong Hình 01 này bao gồm các biện pháp thương mại truyền thống và phi truyền thống, số lượng các hành động phân biệt đối xử mới được các nền kinh tế G20 công bố đã tăng đều đặn từ năm 2012 và tăng mạnh hơn nữa vào năm 2018. Các biện pháp chống bán phá giá và thuế nhập khẩu là hai công cụ được sử dụng rộng rãi nhất cùng nhau chiếm khoảng 30% trong tất cả các biện pháp được áp dụng. Việc sử dung các biện pháp gián tiếp như các khoản vay của nhà nước cho các nhà xuất khẩu cũng theo chiều hướng tăng dần. Cũng ở trong Hình 01, vào năm 2017, hơn 50% hàng xuất khẩu từ các nước G20 đã bị áp dụng các biện pháp thương mại có hại, tăng từ 20%. Theo đó tăng trưởng thương mại đã giảm tốc độ mạnh hơn trong các lĩnh vực mà các biện pháp phân biệt đối xử sâu rộng đã được áp dụng so với các lĩnh vực được hưởng lợi từ tự do hóa thương mại. Xu hướng bảo hộ thương mại của các nước đang ngày càng diễn ra, điển hình như Vương quốc Anh rút khỏi Liên minh Châu Âu để thiết lập lại chính sách thương mại của mình, Hoa Kỳ rút hỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương hay cuộc chiến tranh thương mại Hoa Kỳ - Trung Quốc, Hoa Kỳ - Ấn Độ để Hoa Kỳ muốn thiết lập lại chính sách thương mại có lợi cho Hoa Kỳ mà theo lời phát biểu của Tổng thống Hoa Kỳ thì bao năm nay Hoa Kỳ đã để cho các quốc gia khác có lợi khi xuất khẩu hàng hóa vào thị trường của Hoa Kỳ. Qua công cuộc thiết lập chính sách thương mại của mình, xu hướng tiếp theo mà quốc gia Hoa Kỳ có thể tiến hành là sẽ rút khỏi Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)... Kết quả dự báo diễn biến tiếp theo của cuộc chiến thương mại sẽ là các quốc gia gia tăng các biện pháp bảo hộ thương mại. Cụ thể, theo phiên bản mới nhất của Báo cáo về hàng rào thương mại và đầu tư (TIBR) xác định 45 rào cản thương mại mới được đưa ra ở các quốc gia ngoài Liên minh Châu Âu (EU) vào năm 2018, đưa tổng số lên mức cao kỷ lục 425 biện pháp tại 59 quốc gia khác nhau, gây thiệt hại hàng tỷ Euro cho doanh nghiệp EU mỗi năm. Tựu trung lại, để thực hiện chính sách bảo hộ thương mại, các nước trên thế giới đang thực hiện một số xu hướng sau trong việc điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương, 2018): - Mở rộng phạm vi điều tra, áp dụng: Số lượng thị trường áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại (PVTM) với hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng gia tăng nhanh chóng. Hiện nay, hầu hết các thị trường xuất khẩu quan trọng của nước ta như EU, Hoa Kỳ, 54
  6. Canada, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ... đều đã tiến hành điều tra PVTM. Các thị trường mới như Liên minh kinh tế Á - Âu cũng đã khởi xướng điều tra áp dụng biện pháp tự vệ với các sản phẩm thép nhập khẩu. Ngay cả các nước trong khu vực ASEAN cũng tích cực điều tra, áp dụng biện pháp PVTM. Bên cạnh đó, các nước có xu hướng điều tra áp dụng biện pháp PVTM với nhiều sản phẩm trong cùng một vụ việc và áp dụng với nhiều nước xuất khẩu. Điển hình là các vụ việc tự khởi xướng điều tra áp dụng biện pháp tự vệ với thép có phạm vi sản phẩm rất rộng (EU: 26 nhóm sản phẩm thép, Canada: 7 nhóm sản phẩm thép) và áp dụng với tất cả các nước chứ không giới hạn với một số đối tượng cụ thể như biện pháp chống bán phá giá hay trợ cấp. - Các vụ việc điều tra đặt ra yêu cầu khắt khe nhằm đưa ra mức độ bảo hộ cao hơn: Các nước đang có xu hướng thắt chặt, đòi hỏi khắt khe hơn trong quá trình điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM. Điều này thể hiện thông qua việc yêu cầu các bên tuân thủ chặt chẽ về mặt thời gian trả lời câu hỏi; yêu cầu bổ sung thêm nhiều tài liệu, thông tin, dữ liệu trong khi hạn chế thời gian trả lời; việc xin gia hạn gặp rất nhiều khó khăn. Đặc biệt, một số nước đã thay đổi tiền lệ trong việc xác định xuất xứ của sản phẩm để tiến hành điều tra và kết luận về xuất xứ đối với sản phẩm từ quốc gia khác (điển hình như vụ điều tra lẩn tránh thuế thép chống ăn mòn, thép cán nguội do Hoa Kỳ tiến hành với Việt Nam). - Gia tăng các biện pháp phi truyền thống: Năm 2018, chứng kiến sự chuyển hướng rõ rệt trong các biện pháp PVTM trên thế giới nói chung và với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam nói riêng. Điển hình là việc quay trở lại áp dụng biện pháp tự vệ của một số thành viên WTO như EU, Canada sau nhiều năm không sử dụng và việc Ấn Độ tích cực điều tra các vụ việc chống trợ cấp (trước năm 2018, Ấn Độ mới điều tra 3 vụ việc; riêng năm 2018 đã khởi xướng 6 vụ việc, trong đó lần đầu tiên khởi xướng 2 vụ việc điều tra với Việt Nam). Chủ nghĩa bảo hộ không chỉ có tác động tiêu cực đối với những nước theo đuổi xu thế này mà cả với tăng trưởng toàn cầu. Đối với các nước theo đuổi chủ nghĩa bảo hộ thương mại, người tiêu dùng không có điều kiện để lựa chọn hàng hóa chất lượng cao và giá thành cạnh tranh như ở các nước theo đuổi thương mại tự do và ngay cả các nhà sản xuất cũng không có động lực để áp dụng công nghệ kỹ thuật cao vào sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh. Các biện pháp hạn chế nhập khẩu làm tổn thương đến kinh tế các nước và người tiêu dùng, nhất là những người có thu nhập thấp. Xuất khẩu của Nhật Bản sang Mỹ đã lần đầu tiên giảm trong 17 tháng và niềm tin của các doanh nghiệp nước này suy giảm trong bối cảnh Tổng thống Mỹ Donald Trump thúc đẩy các chính sách bảo hộ thương mại. Tăng trưởng kinh tế Singapore chậm lại trong quý II/2018 và không đạt dự báo, do ngành chế tạo giảm tốc và xung đột thương mại Mỹ-Trung leo thang (Lê Quang Thuận và Nguyễn Thị Phương Thúy, 2018). 3.1.2. Tình hình xuất khẩu hàng hóa và sự tác động của chính sách bảo hộ thương mại đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam Kết quả đạt được, tích cực: Trong năm 2018, nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục thể hiện vai trò quan trọng trong tăng trưởng xuất khẩu. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công 55
  7. nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục cao hơn tốc độ tăng xuất khẩu chung và nếu tính từ năm 2012 đến năm 2018 là năm thứ 7 liên tiếp, tăng trưởng xuất khẩu của nhóm hàng công nghiệp chế biến cao hơn tăng trưởng xuất khẩu chung. Đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu của nhóm là một số nhóm hàng như: hóa chất đạt 1,89 tỷ USD, tăng 49%; hàng dệt và may mặc đạt 30,45 tỷ USD tăng 16,6%; sắt thép các loại đạt 4,56 tỷ USD, tăng 44,8%; sản phẩm từ sắt thép đạt 3,02 tỷ USD, tăng 31,6%; kim loại thường khác đạt 2,3 tỷ USD, tăng 27,6%; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện đạt 5,23 tỷ USD, tăng 37,5%; điện thoại và các loại linh kiện đạt 50 tỷ USD, tăng 10,5%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 29,45 tỷ USD, tăng 13,4%; clanhke và xi măng đạt 1,25 tỷ USD, tăng 76,3%... Nhóm hàng nông sản, thủy sản vẫn duy trì được sự tăng trưởng, trong đó có sự đóng góp của một số mặt hàng như: rau quả tăng 9,2%, gạo tăng 16%, thủy sản tăng 6,3%. Hàng nông lâm thủy sản đã xuất khẩu vào thị trường của 180 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có 10 thị trường lớn nhất là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Hà Lan, Anh, Úc, Malaysia, Italia. Đến nay, ta đã có một số mặt hàng khẳng định được vị trí trên thị trường thế giới, có khả năng cạnh tranh cao, qui mô xuất khẩu lớn, như: Việt Nam đã đứng đầu thế giới về xuất khẩu hồ tiêu, điều, cá tra; đứng thứ hai thế giới về cà phê, đứng thứ ba thế giới về gạo, tôm. Nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản với xuất khẩu dầu thô giảm mạnh, giảm 39,5% về lượng và 21,2% về kim ngạch. Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng khác trong nhóm tăng đáng kể như: Than đá tăng 13,1%, xăng dầu tăng 35,8%, quặng và khoáng sản khác tăng 6,7%. Cũng trong năm 2018, có 30 thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD (tăng thêm 1 thị trường so với năm 2017), trong đó có 4 thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch trên 10 tỷ USD. Ở tất cả các thị trường mà Việt Nam có ký kết hiệp định thương mại tự do FTA đều ghi nhận xuất khẩu tăng trưởng tốt như Hàn Quốc tăng 23,2%, ASEAN tăng 13,7%, Nhật Bản tăng 12,9%, EU tăng 11%, Mỹ tăng 14,2%, Trung Quốc tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả quan trọng trong năm 2018, xuất khẩu của khối doanh nghiệp trong nước tiếp tục tăng trưởng tốt Việt Nam đã xuất siêu chủ yếu vào thị trường các nước phát triển, có yêu cầu khắt khe đối với hàng hóa nhập khẩu như Hoa Kỳ (năm 2017 xuất siêu 32,24 tỷ USD thì tới năm 2018 đã xuất siêu 34,7 tỷ USD); EU (năm 2017 xuất siêu 26,14 tỷ USD đã tăng lên 28,7 tỷ USD vào năm 2018 (Bộ Công thương, 2018). Đến năm 2019, khác với các năm trước đây, động lực tăng trưởng xuất khẩu không đến từ nhóm nông sản, thủy sản mà đến từ các mặt hàng thuộc nhóm công nghiệp. Cụ thể, trong khi xuất khẩu nhóm nông sản, thủy sản giảm 4,5%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản giảm 9,7% thì nhóm hàng công nghiệp chế biến tăng 10% so với cùng kỳ năm 2018, qua đó đóng góp vào mức tăng trưởng xuất khẩu chung. Tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm 84,33% tổng kim ngạch xuất khẩu, cao hơn mức 82,87% của năm 2018 và 81% của năm 2017. Các mặt hàng chủ lực khác duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao như: Kim ngạch xuất khẩu máy vi tính tăng 20,4%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 18,2%; giày dép tăng 12,7%; kim loại thường khác tăng 10,3%; sản phẩm từ sắt thép tăng 9%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác tăng 11,9%. Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã vươn tới hầu hết các thị trường trên thế giới, nhiều sản phẩm đã dần có chỗ đứng vững chắc và nâng cao được khả năng cạnh tranh trên nhiều thị trường có yêu cầu cao về chất lượng như EU, Nhật Bản, Mỹ, Úc... Kim ngạch xuất khẩu sang các khu vực thị trường đều đạt mức 56
  8. tăng trưởng dương, tăng cao ở những thị trường có FTA với Việt Nam như: ASEAN (tăng 2%), Hàn Quốc (tăng 8,3%), Ấn Độ (tăng 2,1%), New Zealand (tăng 9,7%). Việt Nam đã xuất siêu chủ yếu vào thị trường các nước phát triển, có yêu cầu khắt khe về chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu như Hoa Kỳ (xuất siêu 46,4 tỷ USD); EU (xuất siêu 26,9 tỷ USD). Đặc biệt kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường là thành viên CPTPP đạt mức tăng tốt, thể hiện bước đầu tận dụng hiệu quả các cam kết từ Hiệp định này để thúc đẩy xuất khẩu, đa dạng hoá thị trường xuất khẩu (xuất khẩu sang Canađa đạt 3,86 tỷ USD, tăng 28,2%; xuất khẩu sang Mexico đạt 2,84 tỷ USD, tăng 26,8% (Bộ Công thương, 2019). Bên cạnh đó, Việt Nam đã kháng kiện thành công (không áp dụng biện pháp/không gia hạn áp dụng biện pháp) đối với 57/137 vụ việc đã kết thúc điều tra; khiếu kiện 5 vụ ra Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO, trong đó 3 vụ đã kết thúc (với kết quả tích cực) và 2 vụ đang trong quá trình xét xử. Cũng trong năm này, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký Quyết định số 824/QĐ-TTg ban hành Đề án Tăng cường quản lý nhà nước về chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại và gian lận xuất xứ (Đề án 824). Trong quý I năm 2020, do ảnh hưởng Covid-19 đến việc xuất khẩu hàng hóa, nhưng riêng đối với sản phẩm gạo là một trong ít sản phẩm không bị ảnh hưởng, sản lượng xuất khẩu gạo đạt 1,41 triệu tấn, giá trị kim ngạch 653 triệu USD, tăng 1,1% về lượng và 7,9% về giá trị (cùng kỳ giảm 18,5% về trị giá). Bên cạnh đó cũng có những kỳ vọng là: Các ưu đãi của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) được kỳ vọng sẽ có những tác động thúc đẩy sản xuất trong nước. Mức thuế chống bán phá giá vào thị trường Hoa Kỳ giảm, kết quả công nhận tương đương về hệ thống quản lý, kiểm soát an toàn thực phẩm trên cá tra do Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ công bố là cơ sở thuận lợi giúp cho sản phẩm thủy sản của Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh. Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi Luật lâm nghiệp, Quản trị rừng và Thương mại lâm sản được phê duyệt, tạo điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang EU (Bộ Công thương, 2020). Chúng ta có thể tham khảo bảng 1 và bảng 2 để thấy rõ tình hình xuất khẩu hàng hóa cũng như sự đa dạng về thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam qua các năm 2018 và 2019. Để thấy rằng cùng với xu hướng bảo hộ thương mại thì cũng có những tác động tích cực vào việc xuất khẩu hàng hóa, cụ thể: Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong các năm 2018 - 2019 Mặt hàng Năm 2018 Năm 2019 Tỷ lệ (%) Kim ngạch Kim ngạch Triệu USD Triệu USD Tổng giá trị xuất khẩu 243,697.3 263,451.2 108.1 Nhóm nông lâm thủy sản 26,578.4 25,370.2 95.5 Nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản 4,736.5 4,276.2 90.3 Nhóm công nghiệp chế biến 201,949.9 222,171.9 110.0 Hàng hoá khác 10,432.5 11,632.9 111.5 (Nguồn: Phụ lục Báo cáo tổng kết công tác ngành công thương) 57
  9. Bảng 2: Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam theo thị trường trong các năm 2018 - 2019 Thị trường Năm 2018 Năm 2019 (Triệu (Triệu Tỷ lệ USD) USD) (%) Đông Nam Á 24,876.3 25,364.0 102.0 Đông Á 89,549.8 92,876.4 103.7 Trung Nam Á 7,904.1 7,978.6 100.9 Tây Á 8,207.0 7,453.7 90.8 EU 27 41,986.0 41,674.7 99.3 Một số nước Tây Âu, Đông Âu và Bắc Âu 2,984.5 4,644.7 155.6 Bắc Mỹ 50,543.6 64,591.8 127.8 Nam Mỹ 380.3 505.1 132.8 Các nước Mỹ latinh và vùng Caribe 5,996.9 7,130.8 118.9 Bắc phi 631.8 627.9 99.4 Các nước châu phi khác 1,632.5 1,837.4 112.6 Châu đại dương 4,470.1 4,076.8 91.2 Thị trường chưa phân tổ 4,534.5 4,689.2 103.4 (Nguồn: Phụ lục Báo cáo tổng kết công tác ngành công thương) Như vậy, với các con số kết quả đạt được cho thấy, các chính sách bảo hộ thương mại của các nước trên thế giới đã tác động tích cực như sau: Thứ nhất, các doanh nghiệp Việt Nam đã có sự linh hoạt, chủ động tìm hiểu thị trường không quá tập trung vào một thị trường tiềm năng như trước đây là Trung Quốc nữa, đã có sự mở rộng tập trung sang thị trường khác như khu vực Liên Minh Châu Âu... Bên cạnh đó là sự nỗ lực trong việc đề cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm với các doanh nghiệp nước ngoài để từ đó tổng giá trị xuất khẩu trong năm 2019 với kim ngạch xuất khẩu trị giá 263,451.2 so với kim ngạch xuất khẩu năm 2018 trị giá 243,697.3, chiếm tỷ lệ 108.1%. Thứ hai, một trong những giải pháp để đối phó với xu hướng bảo hộ thương mại là tăng cường thêm sự đoàn kết giữa các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng để cùng nhau tháo gỡ khó khăn từ thị trường nước ngoài. Cho nên xu hướng bảo hộ thương mại đã mang lại điểm tích cực là gia tăng thêm sự đoàn kết giữa các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng. Thứ ba, cơ quan nhà nước Việt Nam có nhiều biện pháp thúc đẩy hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu trong bối cảnh bảo hộ thương mại, qua đó mở rộng mối quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới, thu hút thêm nhiều các dự án đầu tư nước ngoài. Khó khăn, tiêu cực: Một là, những rào cản từ các biện pháp bảo hộ thương mại ngày càng tăng của các cường quốc trên thế giới với những tiêu chuẩn nghiêm ngặt về kiểm dịch, vệ sinh an toàn thực phẩm, bao bì đóng gói, các công cụ chống bán phá giá, trợ cấp được sử dụng nhiều và thường xuyên hơn. Điển hình như, vào năm 2018, theo Báo cáo xuất nhập khẩu của Bộ Công thương, đã có 144 vụ việc phòng vệ thương mại do nước ngoài khởi xướng điều tra, áp dụng đối với 58
  10. hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam (trong đó năm 2018 đã có 19 vụ việc mới được khởi xướng). Hiện nay, Hoa Kỳ vẫn là quốc gia điều tra PVTM nhiều nhất với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam (27 vụ việc), tiếp đến là Thổ Nhĩ Kỳ (21 vụ việc), Ấn Độ (17 vụ việc) và EU (14 vụ việc). Trong số 144 vụ việc điều tra PVTM, có 81 vụ việc về chống bán phá giá, 30 vụ việc tự vệ có liên quan đến hàng hóa Việt Nam, 14 vụ việc trợ cấp và 19 vụ việc chống lẩn tránh thuế. Như vậy so với số lượng 13 vụ việc PVTM được khởi xướng năm 2017 thì số lượng các vụ việc PVTM đã tăng thêm xấp xỉ 50% trong năm 2018 với 19 vụ việc (trong đó có 6 vụ việc chống bán phá giá, 7 vụ việc tự vệ, 4 vụ việc chống trợ cấp và 2 vụ việc chống lẩn tránh thuế). Điều đáng lưu ý, trong 6 tháng đầu tiên năm 2018 mới chỉ có 8 vụ việc được khởi xướng, tuy nhiên trong 6 tháng tiếp theo đã khởi xướng thêm 11 vụ việc. Trong số 19 vụ việc PVTM mà các nước điều tra với Việt Nam năm 2018 thì có tới 10 vụ là với sản phẩm thép (chiếm 52,6%). Đặc biệt, sau khi Hoa Kỳ áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu thép theo mục 232 Đạo luật Mở rộng thương mại, các nước EU, Thổ Nhĩ Kỳ, Canada, Liên minh kinh tế Á-Âu đã tự khởi xướng điều tra tự vệ đối với một loạt các sản phẩm thép nhập khẩu để bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước nguy cơ chuyển hướng thương mại do các biện pháp của Hoa Kỳ. Thêm vào đó, các nước như Canada, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia cũng đã khởi xướng điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp với một số sản phẩm thép của Việt Nam. Bên cạnh các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp, thép cũng đang là đối tượng của nhiều vụ việc điều tra chống lẩn tránh thuế. Tính đến nay, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã bị điều tra 19 vụ việc chống lẩn tránh thuế, trong đó có 8 vụ việc liên quan đến sản phẩm sắt, thép. Ngoài đối mặt với các biện pháp phòng vệ thương mại của các quốc gia này thì những khó khăn khác như: (i) Các mặt hàng nông, thủy sản xuất khẩu còn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận những thị trường có yêu cầu cao về chất lượng và an toàn thực phẩm. Phần lớn các mặt hàng xuất khẩu đều chưa xây dựng được thương hiệu riêng và vững chắc (ii) Tỷ lệ nhập khẩu lớn về nguyên, nhiên liệu, nhất là nguyên liệu gia công sản xuất thể hiện tính gia công trong ngành còn lớn, phụ thuộc nhiều vào thị trường cung cấp ở bên ngoài, khiến cho nền kinh tế gặp bất lợi mỗi khi giá cả thế giới biến động tăng, làm tăng chi phí sản xuất trong nước, giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu (Bộ Công thương, 2018). Đến năm 2019, năng lực cạnh tranh quốc gia, hoạt động thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, phát triển công nghiệp hỗ trợ, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực chưa có sự cải thiện rõ rệt để tận dụng tối đa lợi ích mang lại. Vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa có nhận thức đúng về tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro, ứng dụng công nghệ thông tin, cải tiến mẫu mã sản phẩm, phương thức marketing trong thương mại quốc tế cũng như chưa chủ động kết nối với các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để nâng cao năng lực cạnh tranh. Với nông sản, Việt Nam đã làm tốt công tác đàm phán để nước nhập khẩu cắt giảm thuế nhập khẩu cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam (thông qua các Hiệp định FTA). Tuy nhiên, việc đàm phán để được công nhận về quản lý chất lượng, quản lý an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật còn hạn chế. Do vậy, nhiều mặt hàng dù đã được nước ngoài giảm thuế về 0% nhưng nông sản của Việt Nam vẫn chưa được phép nhập khẩu vào một số thị trường. Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đang phải đối diện với nhiều khó khăn do nhiều nước chuyển sang áp dụng nhiều hình thức mới trong phòng vệ thương mại như chống lẩn tránh phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ thay vì áp dụng các hàng rào kỹ thuật như áp thuế chống bán phá giá, chống trợ 59
  11. cấp và tự vệ thương mại... (Bộ Công thương, 2019). Cụ thể, đến hết tháng 9/2019, đã có 154 vụ việc phòng vệ thương mại được khởi xướng điều tra bởi 19 quốc gia và vùng lãnh thổ đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Trong đó, Hoa Kỳ là nước khởi xướng điều tra nhiều nhất (30 vụ, chiếm 19%); thứ hai là Thổ Nhĩ Kỳ (21 vụ, chiếm 14%); thứ ba là Ấn Độ (20 vụ, chiếm 13%) và thứ tư là EU (14 vụ, chiếm 9%).Dẫn đầu là các vụ việc điều tra chống bán phá giá (87 vụ việc, chiếm 56%); tiếp đó là các vụ việc tự vệ (33 vụ, chiếm 21%); thứ ba là các vụ việc chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá (19 vụ việc, chiếm 13%) và cuối cùng là các vụ việc chống trợ cấp (15 vụ việc, chiếm 10 %). Vào quý I năm 2020, Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế Malaysia thông báo khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với một số mặt hàng thép mạ có xuất xứ từ Việt Nam. Canada đã thông báo kết luận sơ bộ và áp thuế tạm thời trong vụ việc điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với thép chống ăn mòn từ một số nước trong đó có Việt Nam. Ủy ban chống bán phá giá Australia đã thông báo khởi xướng điều tra chống bán phá giá và trợ cấp đối với sản phẩm ống và ống dẫn bằng thép có xuất xừ từ các nước trong đó có Việt Nam. Bộ Thương mại Hoa Kỳ tiếp nhận hồ sơ yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với sản phẩm đệm mút có xuất xứ từ các nước trong đó có Việt Nam. Ngoài ra một số quốc gia đưa ra thêm những quy định nghiêm ngặt hơn như tháng 2 năm 2020, Bộ thương mại Pakistan vừa ban hành quyết định tất cả các mặt hàng lương thực thực phẩm nhập khẩu vào Pakistan phải có giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn hồi giáo cho cơ quan được chính phủ chỉ định cấp có hiệu lực từ ngày 30/5/2020. Hai là, Các vụ kiện PVTM và các rào cản bảo hộ đã gây ra những tác động tiêu cực đáng kể cho doanh nghiệp xuất khẩu nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung ở một số khía cạnh: (i) Giảm năng lực và lợi thế cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu; (ii) Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đầu tư đáng kể nguồn nhân lực, thời gian và kinh phí cho việc tham gia giải quyết toàn bộ vụ việc điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp; (iii) Khi bị khởi kiện, các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ phải thay đổi chiến lược kinh doanh, đầu tư sản xuất... để đáp ứng với những thay đổi của thị trường xuất khẩu. Trong bối cảnh đó, việc chuyển sang các thị trường khác cũng sẽ gặp khó khăn hơn; (iv) Sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam có khả năng bị kiện ồ ạt theo hiệu ứng dây chuyền; (v) Một số biện pháp phòng vệ thương mại kéo dài hàng chục năm, kéo theo chi phí theo đuổi vụ việc tốn kém (Lê Quang Thuận và Nguyễn Thị Phương Thúy (2018). Ba là, với các xung đột thương mại giữa các cường quốc lớn như Hoa Kỳ và Trung Quốc, Hoa Kỳ - Ấn Độ kéo dài, với tinh thần bảo hộ thương mại thì một hệ quả sắp tới đây có thể là sản phẩm hàng hóa của Việt Nam sẽ bị các nước lớn, thị trường tiềm năng này áp đặt các chính sách bảo hộ thương mại, kéo theo đó là xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng lớn.  Đối với Chính phủ Việt Nam: Tăng cường mở rộng mối quan hệ hợp tác với các quốc gia trên thế giới để tiếp thu kinh nghiệm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của những quốc gia này ví dụ như Chiến lược thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Đan Mạch, Hoa Kỳ, Trung Quốc. 60
  12. Xây dựng chương trình xúc tiến xuất khẩu hàng hóa đối với từng ngành hàng trong bối cảnh bảo hộ thương mại hiện nay, thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang các nước đã ký kết FTA. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về các thị trường nhập khẩu hàng hóa tiềm năng phục vụ cho việc xuất khẩu hàng hóa, có sự đánh giá quy định pháp luật, hỗ trợ thủ tục cho các doanh nghiệp, thông tin kịp thời đến các doanh nghiệp. Chẳng hạn, các nhà xuất khẩu Hoa Kỳ khi họ thực hiện xuất khẩu hàng hóa sang Vương Quốc Anh, họ sẽ phải nhận thức được những rào cản nhất định khi xuất khẩu với kế hoạch và hỗ trợ cẩn thận từ các cơ quan như Văn phòng dịch vu thương mại Hoa Kỳ sẽ phân tích những thách thức, yêu cầu, cơ hội về thị trường Vương Quốc Anh một cách chi tiết cho các doanh nghiệp. Đẩy mạnh việc thực hiện chương trình hỗ trợ tài chính, bảo hiểm xuất khẩu cho các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chính phủ có thể tham khảo chương trình hỗ trợ tài chính xuất khẩu mà nhà nước Hoa Kỳ đã thực hiện và thành công trong việc thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa. Chính phủ cần ban hành văn bản hướng dẫn về quy tắc xuất xứ trong hiệp định thương mai tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) khi hiệp định này có hiệu lực. Cơ quan nhà nước cần phải ban hành văn bản hướng dẫn về cơ chế tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa cũng như chế tài xử phạt đủ mạnh để tương xứng với hành vi gian lận. Với việc thực hiện thí điểm cơ chế tự chứng nhận theo Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN, cơ quan nhà nước cần tổng kết, có những giải pháp tháo gỡ giải được bài toán với chỉ có số lượng 02 doanh nghiệp thực hiện cơ chế tự chứng nhận xuất xứ là quá ít so với số lượng doanh nghiệp hiện nay. Vì vậy, việc tổng kết, giải đáp khó khăn này sẽ tạo ra kinh nghiệm để triển khai cơ chế tự chứng nhận xuất xứ trong hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và EVFTA được tốt hơn. Chính phủ cần tận dụng các kênh hỗ trợ tài chính, hỗ trợ kỹ thuật từ các Dự án hợp tác kinh tế - kỹ thuật trong các FTA cũng như của các đối tác nước ngoài khác để nâng cao hạ tầng công nghệ thông tin nhằm sớm thực hiện cơ chế tự chứng nhận xuất xứ để các FTA thực sự mang lại lợi ích thiết thực không chỉ cho các cơ quan quản lý nhà nước (cắt giảm thủ tục hành chính, giảm thiểu số lượng giấy tờ, chứng từ phải nộp và lưu trữ; giảm thời gian chứng nhận xuất xứ và thời gian thông quan hàng hóa; quản lý hiệu quả dữ liệu về C/O) mà còn cho cộng đồng doanh nghiệp và người dân, đối tượng chính thụ hưởng lợi ích từ các FTA (Brian Staples và cộng sự, 2017). Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, nhà nước cần tăng thêm số lượng đội ngũ để tích cực hơn nữa trong việc tìm hiểu thị trường, giới thiệu các bản tin thị trường nước ngoài; giới thiệu những mặt hàng có khả năng thúc đẩy xuất khẩu hơn nữa sang thị trường nước ngoài; cảnh báo nguy cơ thận trọng giao dịch với một số doanh nghiệp ở nước ngoài cũng như các thương vụ này sẽ góp phần chủ động kết nối với các hiệp hội ngành hàng của quốc gia sở tại và của Việt Nam nhằm tranh thủ tạo nhiều cơ hội thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam. Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tổng hợp thông tin chi tiết về nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng hóa từ các thị trường nước ngoài theo hướng các mặt hàng hóa. Ví dụ như gần đây Bộ Công thương đã 61
  13. tổng hợp thông tin chi tiết về nhu cầu nhập khẩu khẩu trang và các trang thiết bị bảo hộ y tế từ các thị trường ở châu Âu- châu Mỹ. Bên cạnh đó cần nâng cao công tác phối hợp trong việc thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng của Việt Nam sang các thị trường tiềm năng. Ngoài ra, Bộ Công thương và Tổng cục hải quan (Bộ Tài chính) cần tăng cường phối hợp trong việc thực hiện các hoạt động cảnh báo nguy cơ xảy ra các vụ kiện về PVTM cho các doanh nghiệp biết, giúp doanh nghiệp chủ động phòng ngừa và ứng phó cũng như đẩy mạnh công tác chống các hành vi gian lận thương mại về xuất xứ hàng hóa trên phạm vi toàn quốc gia; Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, phổ biến về quy định các biện pháp PVTM trong các bản FTA cho các doanh nghiệp như sổ tay về FTA. Bên cạnh đó, Tổng cục hải quan (Bộ Tài chính) cần thực hiện Cải cách thủ tục hải quan để đảm bảo thủ tục diễn ra nhanh chóng và thuận lợi. Để thực hiện thủ tục tự chứng nhận xuất xứ, phòng chống gian lận, về phía cơ quan nhà nước cần phải xây dựng nguồn nhân lực đủ giỏi để thực hiện những công việc xác minh trong những trường hợp cần thiết. Hơn nữa, cơ quan hải quan là cơ quan đóng vai trò chính trong việc thực hiện kiểm tra, xem xét chứng từ tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa của các doanh nghiệp cho nên cần tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiệm với cơ quan hải quan các nước châu Âu. Bởi đây là những quốc gia thực hiện cơ chế thủ tục tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa sớm hơn so với Việt Nam. Đối với cơ quan Cục xúc tiến thương mại (Bộ Công thương) cần đẩy mạnh việc lập danh sách các doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu tìm kiếm thị trường nước ngoài để đẩy mạnh việc xuất khẩu hàng hóa. Sau khi lập xong các danh sách này sẽ gửi cho các thương vụ Việt Nam ở nước ngoài để đẩy mạnh tìm hiểu nhu cầu đưa ra những khuyến nghị cần thiết cho doanh nghiệp Việt.  Đối với doanh nghiệp Việt Nam: Chủ động đẩy mạnh, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, không phụ thuộc vào một số thị trường có nhiều biến động, ảnh hưởng đến tình hình xuất khẩu hàng hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh cho một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như nông sản, khoáng sản, dệt may, giày dép, chế biến sản phẩm gỗ, thủ công mỹ nghệ và một số ngành đang được xác định trong định hướng phát triển xuất khẩu giai đoạn đến năm 2025. Đầu tư công nghệ để tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến, tận dụng được cơ hội của thị trường và giá cả để nhằm tăng giá trị xuất khẩu. Xây dựng chiến lược xúc tiến thương mại của từng doanh nghiệp, thúc đẩy quảng bá thương hiệu, sản phẩm của mình trên thị trường nước ngoài. Ngoài ra cần giảm chi phí kinh doanh nhằm tập trung đẩy mạnh chú trọng đến chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm ngay từ cơ sở sản xuất. Có sự chủ động nguồn nguyên liệu đầu vào nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn cung từ thị trường nước ngoài. Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực thích ứng với nhu cầu của các FTA để thực hiện. Cụ thể, tìm hiểu rõ quy định về xuất xứ, thủ tục tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa khi mà các hiệp định mới này đều có những quy định rất chặt chẽ về nguồn gốc xuất xứ như các công thức tính toán của từng quy tắc xuất xứ liên quan đến mặt hàng xuất khẩu của doanh nghiệp, cần xây dựng phương án chống gian lận xuất xứ hàng hóa để một mặt tăng thương hiệu doanh nghiệp mình và một mặt tăng cường thúc đẩy hoạt động thương 62
  14. mại. Việc đào tạo nguồn nhân lực cần chú ý đào tạo ứng dụng các kỹ năng nghiên cứu thị trường, kỹ năng đàm phán, nghiệp vụ kỹ thuật ngoại thương, nâng cao trình độ am hiểu pháp luật quốc tế, ngoại ngữ, tin học và nâng cao tay nghề. Cần xây dựng uy tín của doanh nghiệp xuất khẩu bằng cách chú trọng đặc biệt từ khâu nguyên liệu đến lúc tạo ra thành phẩm hoàn hảo, đủ tiêu chuẩn bán ra nước ngoài. Bên cạnh đó, với yêu cầu phải lưu trữ tài liệu trong việc triển khai tự chứng nhận xuất xứ ở các FTA thì hiện tại phần lớn doanh nghiệp của Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa cho nên chắc chắn sẽ gặp khó khăn trong việc xây dựng cơ chế lưu trữ hồ sơ tài liệu chứng nhận xuất xứ hàng hóa. Vì vậy, các doanh nghiệp cần ngay từ bây giờ có phương án xây dựng thiết lập cho mình một cơ chế lưu trữ hồ sơ tài liệu này vì việc không đáp ứng yêu cầu này sẽ tỷ lệ thuận với việc không thể cung cấp thông tin cho quốc gia nhập khẩu khi họ đòi hỏi thông tin cần xác minh trong trường hợp cần thiết hoặc có nghi ngờ. Thường xuyên theo dõi cảnh báo của Bộ Công thương đối với những mặt hàng có nguy cơ đối diện bị áp dung các biện pháp phòng vệ thương mại ở nước ngoài để có những biện pháp thích hợp giải quyết. 4. Kết luận Với chủ nghĩa bảo hộ thương mại đang được phần lớn các quốc gia trên thế giới thực hiện sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tình hình xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam. Cho nên việc đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa trong bối cạnh này là việc làm cần thiết đòi hỏi Chính phủ và các doanh nghiệp cùng nhau thực hiện. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Công Thương, (2018), Báo cáo xuất nhập khẩu năm 2018, NXB Công Thương. 2. Bộ Công Thương, (2018), Báo cáo tình hình sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại tháng 12 và cả năm 2018 định hướng và giải pháp thực hiện năm 2019. 3. Bộ Công Thương, (2019), Báo cáo tổng kết công tác năm 2019 và triển khai nhiệm vụ năm 2020 ngành công thương. 4. Bộ Công Thương, (2020), Báo cáo tình hình sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại 3 tháng đầu năm và giải pháp thực hiện trong thời gian tới. 5. Brian Staples và cộng sự, (2017), Sổ tay quy tắc xuất xứ trong các FTA Việt Nam là thành viên. 6. Cục phòng vệ thương mại, (2018), Báo cáo phòng vệ thương mại năm 2018, < http://chongbanphagia.vn/Modules/News/Uploaded/39/2019072510535790baocaopvt m20180522finalpdf.PDF> 7. Lê Quang Thuận và Nguyễn Thị Phương Thúy, (2018), Xu hướng bảo hộ thương mại trên thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam, Tạp chí Tài chính. 63
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2