Tiêu chuẩn hạch toán Mark-To-Market:
những điều cần biết
Tháng 10/2008, vào lúc danh sách các ngân hàng thương mi
Hoa Kỳ thua lỗ cứ ngày mt dài ra, đã có những áp lực mạnh m
yêu cầu Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) cân nhắc việc tạm
thời chấm dứt cách hạch toán ”mark-to-market” (MTM) trong h
thống ngân hàng.
Hạch toán MTM buộc các ngân hàng phải ghi nhận hàng tỷ USD
thua lỗ với các khoản đầu tư chứng khoán có tài sản đảm bảo và
vì thế, nhiều người cho rằng cách hạch toán này s khiến tình thế
của cuộc khủng hoảng tín dụngng thêm tồi tệ.
Đầu tháng 4/2009, mt lần nữa MTM lại được nhắc tới. FASB
(Financial Accounting Standards Board) nới lỏng quy định yêu
cầu các ngân hàng hạch toán MTM để giới hạn các khoản thua
lỗ. Mặc dù có những ý kiến phản biện khác nhau về tác động của
điều chỉnh này những thị trường chứng khoán Hoa Kỳ đã có câu
trả lời bằng những mức giá tăng rõ ràng.
Vậy MTM là gì? Và những điều chỉnh về quy tc hạch toán này có
tác động ra sao tới giá của tài sản tài chính? Phân tích Alex
Dumortier cung cấp những hiểu biết hữu ích.
Hạch toán mark-to-market là gì? Các khoản cho vay chứng
khoán chiếm một lượng lớn tài sản tại các ngân hàng. Do đó,
phương pháp sử dụng để định giá các tài sản này trong quá trình
chuẩn bị các báo cáo tài chính sảnh hưởng tới giá trị vốn góp
cổ phần của c đông. Cần nhớ rằng vốn góp cổ phần của cổ
đông bằng tổng tài sản trừ đi các nghĩa vụ nợ. Và như vậy, sẽ
tiếp tc ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh (lỗ hay lãi) của ngân
hàng.
Mart-to-market (hch toán theo giá thị trường) đặt ra mức giá của
tài sản trên bảng cân đối phản ánh giá trị của chúng khi bán trên
thị trường tại thời điểm hạch toán. Về lý thuyết, cách làm này
nghe thật sạch sẽ và hợp lý. Nhưng trong thực hành, mọi chuyện
có thể trở nên lộn xộn hơn.
Mọi ngả đường đều dẫn xuống tầng 3 của đa ngục Không
phải mọi chứng khoán đều có khả năng thanh khoản tốt tới mức
vào bất kỳ lúc nào một nhà đầu tư cũng có thể xác định mức giá
sẵn sàng giao dịch của chứng khoán đó. (Mặc dù vẫn có những
cổ phiếu hoàn toàn đảm bảo điều kiện này, như Microsoft là một
ví dụ). Với những chứng khoán bất động sản được rao bán mà
chẳng thấy ai đưa ra đề nghị mua thì sẽ xác định mức giá thế
nào???
Theo mức độ thanh khoản, các tài sản được phân thành ba
nhóm:
Nhóm 1: tài sàn có giá giao dịch trên thị trường (thanh
khoản rất tốt)
Nhóm 2: Tài sản không có gtrên thị trường và được xác
định một mức giá hợp da trên một mô hình định giá đáng
tin cậy. Mô hình này thường có vô vàn biến số đầu vào có
giá trị được xác định dễ dàng trên thị trường như lãi suất,
giá của các chứng khoán tương đương v.v..
Nhóm 3: Thật đáng sợ là nhóm y gồm những tài sản
không thể nào xác định được giá hợp lý với các mô hình đầu
vào đầy đủ, buộc những người chuẩn bị các báo cáo tài
chính phải đưa ra giả thiết về các giá trị đầu vào. Và như
vậy, thật dễ dàng hình dung việc định giá các tài sản thuộc