
Tiểu luận
Nội dung Hiệp định Paris

Hiệp định Paris
Nội dung hiệp định được chia thành chín "chương", nói về các chủ đề về cơ bản giống
như trong bản dự thảo 9 điểm mà Hoa Kỳ và Việt nam Dân chủ Cộng hoà đã thống nhất
với nhau vào tháng 10 năm 1972. Đó là:
1. Hoa Kỳ tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như được
công nhận bởi hiệp định Geneva. Đây là lập trường có tính nguyên tắc mà phía
Bắc Việt Nam kiên quyết giữ vững. Phía Việt Nam Cộng Hòa coi đây là điều
khoản nguy hại cho mình nên đã ra sức bác bỏ. Hoa Kỳ thuyết phục tổng thống
Thiệu rằng điều khoản này chỉ có tính nguyên tắc trên lý thuyết, thực tế không
trực tiếp gây nguy hại cho an ninh của Việt Nam Cộng hoà; rằng ngoài ra trong
hiệp định còn có điều khoản quy định Nhân dân Miền Nam Việt Nam có quyền tự
định đoạt chế độ chính trị của mình thông qua bầu cử có giám sát quốc tế, là điều
khoản vô hiệu hoá được mối đe doạ của điều khoản thứ nhất này.
Năm 1973, sau khi ký chính thức hiệp định trong một chuyến đi hội đàm đến Hà
Nội ông Kissinger có đến thăm Bảo tàng lịch sử Việt Nam tại Hà Nội, Khi nghe
cán bộ bảo tàng dịch nghĩa các câu thơ chữ Hán của bài thơ "Nam quốc sơn hà"
của Lý Thường Kiệt trên tường nhà bảo tàng, ông Kissinger nhận xét: "Điều 1
khoản 1 của Hiệp định Paris!"[1]
2. Ngừng bắn trên toàn Việt Nam sẽ bắt đầu từ 27 tháng 1 năm 1973: với tất cả các
đơn vị quân sự ở nguyên vị trí. Mọi tranh chấp về quyền kiểm soát lãnh thổ sẽ
được giải quyết bởi uỷ ban quân sự liên hợp giữa hai lực lượng của Việt Nam
Cộng hòa và Việt Cộng. Trong vòng 60 ngày, sẽ có cuộc rút lui hoàn toàn của
quân đội Mỹ và đồng minh cùng các nhân viên quân sự Mỹ ra khỏi Việt Nam
Cộng hòa. Các bên không được tăng cường binh lính, nhân viên quân sự, vũ khí,
đạn dược hoặc vật liệu chiến tranh vào Nam Việt Nam, trong trường hợp để thay
thế thì phải theo nguyên tắc một-đổi-một. Hoa Kỳ sẽ không tiếp tục can thiệp
quân sự vào "các vấn đề nội bộ" của Nam Việt Nam. Đây là vấn đề quan trọng số
một là thực chất của hiệp định nó quy định quân đội Hoa Kỳ và đồng minh phải
rút hết khỏi Việt Nam chấm dứt mọi can thiệp vào công việc nội bộ của Việt
Nam, trong khi đó quân đội Bắc Việt Nam tiếp tục được ở lại trên chiến trường
miền Nam đây là nhượng bộ lớn nhất mà qua 4 năm đấu tranh trên chiến trường
và bàn hội nghị cuối cùng Hoa Kỳ đã thoả hiệp. Đây là điều khoản mà Việt Nam
Cộng hoà cương quyết bác bỏ vì thấy trước là mối hiểm hoạ nhất định nổ ra sau
khi Hoa Kỳ rút hết quân. Trong chương này có điều khoản về thay đổi quân số và
binh bị theo nguyên tắc một-đổi-một: đây là nhượng bộ của phía Bắc Việt Nam
nhưng thực ra điều khoản này trên thực tế sẽ nhanh chóng bị vô hiệu hoá vì không
có một lực lượng nào có thể kiểm chứng số lượng, trang bị của quân Bắc Việt
Nam trên chiến trường và trên đường tiếp tế.
3. Tất cả tù binh chiến tranh của các bên sẽ được trao trả không điều kiện trong vòng
60 ngày. Các tù nhân chính trị sẽ được trả tự do sau đó theo thoả thuận chi tiết của
các phía Việt Nam. Điều khoản trao trả tù binh không điều kiện trong vòng 60
ngày có tầm quan trọng rất lớn và cực kỳ nhạy cảm đối với chính phủ của Tổng

thống Nixon. Uy tín chính quyền Nixon trong con mắt người dân Mỹ phụ thuộc
lớn vào việc có nhanh chóng đưa được các tù binh Mỹ về nước như đã hứa khi
bầu cử tổng thống hay không và điều rất quan trọng nữa là điều này tạo ra được
ấn tượng tâm lý "ra đi trong danh dự". Việc giải phóng tù binh không điều kiện,
còn tù nhân dân sự sẽ được giải quyết sau phản ánh nguyên tắc của phía Hoa Kỳ
là tách các vấn đề thuần tuý quân sự ra khỏi các vấn đề rất phức tạp về chính trị.
Chính vì vấn đề tù binh Mỹ quá quan trọng với chính quyền của Tổng thống
Nixon nên đây cũng là một lý do giải thích cho phản ứng rất dữ dội của Nixon
bằng chiến dịch Linebacker II khi phía Bắc Việt Nam đặt lại vấn đề phóng thích
tù binh phải gắn liền với vấn đề tù chính trị.
4. Miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát. Các
bên tạo điều kiện cho dân chúng sinh sống đi lại tự do giữa hai vùng. Nhân dân
Nam Việt Nam sẽ quyết định tương lai chính trị của mình qua "tổng tuyển cử tự
do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế". Điều khoản này phản ánh thực tế hai
chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát. Phía Mỹ yêu cầu phải có điều
khoản bảo đảm cho quyền của nhân dân miền Nam quyết định tương lai chính trị
của mình thông qua bầu cử tự do dân chủ dưới sự giám sát quốc tế là để ngăn
ngừa về mặt pháp lý sự thôn tính bằng vũ lực của Bắc Việt Nam đối với Nam Việt
Nam. Đối với yêu cầu này Bắc Việt Nam không có phản đối gì đặc biệt.
5. Sự tái thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng các biện pháp hòa
bình.
Chương này khẳng định ranh giới và khu phi quân sự tại vĩ tuyến 17 chỉ là tạm
thời theo như quy định tại Hiệp định Genève. Hai bên Việt Nam sau này tiến hành
đàm phán để đi đến thống nhất Việt Nam... cụ thể vấn đề thống nhất chỉ mang
tính nguyên tắc không có cơ chế thi hành: các biện pháp đó là gì, tiến hành như
thế nào thì hiệp định chưa xem xét đến.
6. Để giám sát việc thực hiện hiệp định, một uỷ ban kiểm soát và giám sát quốc tế và
phái đoàn quân sự liên hợp bốn bên (gồm Bắc Việt, Hoa Kỳ, Mặt trận Dân tộc
Giải phóng Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hoà) sẽ được thành lập.
Cơ chế giám sát thi hành này trong thực tế không có hiệu lực gì đáng kể.
7. Lào và Campuchia giữ vị trí trung lập và tự chủ, không cho nước ngoài được phép
giữ các căn cứ quân sự trong lãnh thổ của hai nước này. Đây là trói buộc của Hoa
Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đối với các căn cứ và tuyến vận chuyển của Bắc Việt
Nam và cộng sản miền Nam trên đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào và
Campuchia. Đây là một nhượng bộ của phía cộng sản nhưng trên thực tế thì phía
Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa không có cách gì để bắt buộc đối phương thi hành
điều khoản này một phần vì ngay tại các nước này cũng đang nội chiến không có
một chính quyền trung ương mạnh.
8. Hoa Kỳ có nghĩa vụ sẽ giúp đỡ việc tái thiết sau chiến tranh, đặc biệt là ở Bắc
Việt Nam và trên toàn Đông Dương, để hàn gắn các thiệt hại do chiến tranh.
Điều khoản tái thiết sau chiến tranh sau này không được thi hành. Sau này trong
thập niên 1990 khi bình thường hoá quan hệ giữa hai nước thì một yêu cầu của
phía Hoa Kỳ là Việt Nam phải chấm dứt đòi hỏi Hoa Kỳ nghĩa vụ tái thiết sau
chiến tranh mà như hiệp định đã quy định.
9. Tất cả các bên đồng ý thi hành hiệp định. Và hiệp định được sự bảo trợ của quốc
tế thông qua việc các quốc gia ký nghị định thư quốc tế về chấm dứt chiến tranh

lập lại hoà bình ở Việt nam. Điều khoản cuối của hiệp định và cũng không có điều
khoản cưỡng chế: hiệp định không đưa ra được biện pháp và lực lượng cưỡng chế
nếu một bên vi phạm hiệp định.
Vai trò và kết quả
Hiệp định Paris là hiệp định được Bắc Việt Nam và Hoa Kỳ soạn thảo để đảm bảo cho
việc Hoa Kỳ ra khỏi chiến tranh. Đối với Hoa Kỳ đây là cách họ ra khỏi cuộc chiến mệt
mỏi này một cách chính đáng. Đối với Bắc Việt Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng thì
hiệp định này là bước thứ nhất trong hai bước để đi đến thắng lợi cuối cùng. Đối với Việt
Nam Cộng hoà thì hiệp định này là một tai ương lớn đối với chính thể của họ và đặt sự
tồn tại của Việt Nam Cộng hoà trước một nguy hiểm trong một tương lai gần.
Để trấn an Việt Nam Cộng hoà, Tổng thống Nixon đã hứa riêng bằng lời với Tổng thống
Nguyễn Văn Thiệu là trong trường hợp Bắc Việt Nam phát động chiến tranh tiêu diệt
Việt Nam Cộng Hòa thì Hoa Kỳ sẽ phản ứng bằng cách thích hợp để bảo đảm an ninh
cho Việt Nam Cộng hòa. Tất nhiên lời hứa này sẽ không có giá trị thực tế vì sau đó Quốc
hội Hoa Kỳ đã ra nghị quyết không cho phép đưa lực lượng vũ trang trở lại Đông Dương
mà không được phép của Quốc hội và quy định khuôn khổ viện trợ cho Việt Nam Cộng
hòa. Với các áp đặt như vậy thì dù không có sự kiện Watergate, dù Tổng thống Nixon có
tại vị thì cũng không thể giữ lời hứa một cách hữu hiệu được. Đối với người Mỹ họ thực
sự muốn đóng lại cuộc chiến, quên nó đi và mở sang một trang sử mới.
Chính vì vậy trong hiệp định có những điều khoản có vẻ là nhượng bộ của Bắc Việt Nam
nhưng chẳng có ai có thể kiểm chứng và cưỡng chế được; ví dụ điều khoản quy định
quân đội Bắc Việt Nam được quyền thay quân và trang bị vũ khí theo nguyên tắc một-
đổi-một. Số quân Bắc Việt trên chiến trường lúc đó, số quân của họ trên đường mòn Hồ
Chí Minh, số vũ khí họ mang vào và mang ra là những dữ liệu không thể kiểm chứng
được. Còn vũ khí Mỹ vào Việt Nam qua các cảng và cầu hàng không thì dễ dàng được
quản lý. Tương tự, điều khoản về ngăn cấm các bên lập căn cứ quân sự trên đất Lào và
Campuchia trung lập là nhượng bộ của Bắc Việt Nam nhưng phía đối phương không thể
có biện pháp áp chế hữu hiệu gì. Điều khoản uỷ ban kiểm soát và giám sát quốc tế cũng
chỉ là hình thức vì quyền lực của uỷ ban này không có đủ để can thiệp gì vào các tiến
trình sự việc. Các điều khoản về quy chế chính trị như thành lập chính phủ hoà hợp dân
tộc tiến tới thống nhất cũng không có cơ chế thi hành mà chỉ là ý tưởng đẹp...
Nói chung hiệp định này chỉ được thi hành nghiêm chỉnh ở những điều khoản rút quân
Mỹ (cùng các đồng minh khác) và trao trả tù binh Mỹ mà thôi. Hoa Kỳ thực sự muốn rút
khỏi cuộc chiến và miền Bắc sẵn sàng tạo điều kiện cho việc đó.
Sau khi quân đội Hoa Kỳ rút hết vào cuối tháng 3 năm 1973, Bắc Việt Nam và Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam chuẩn bị cho việc đánh dứt điểm chính quyền Việt Nam Cộng
hoà, còn Việt Nam Cộng Hòa cố gắng xoay trở chống đỡ chẳng kể gì đến hiệp định. Vai
trò của Hiệp định Paris, trên thực tế, đến đây là đã hết.

Thuyết domino
Một cách hiểu khác về hiệu ứng domino là khi có một lực tác động lên một vật mà vật đó
là một bộ phận trong một hệ thống thì sẽ đưa đến một tác động lên toàn bộ dây chuyền.
Cách giải thích này dựa theo nguyên tắc của các quân cờ domino khi được xếp thẳng
đứng liên tục với nhau, dưới tác động bên ngoài làm các quân cờ đổ lần lượt lên nhau.
Thuyết domino là một học thuyết chính trị – đối ngoại của chính phủ Hoa Kỳ trong cao
trào của Chiến tranh Lạnh và chủ nghĩa chống cộng sản để ngăn chặn sự phát triển của
chủ nghĩa cộng sản tại châu Á. Thuật ngữ "thuyết domino" (domino theory) lần đầu tiên
xuất hiện dưới thời của Tổng thống Dwight D. Eisenhower để chỉ về nguy cơ phát triển
của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Dương mà trọng tâm là tại Miền Nam Việt Nam, theo
đó: nếu Hoa kỳ không can thiệp để phe cộng sản chiếm cứ Nam Việt Nam thì đó sẽ là
quân bài domino chìa khóa làm cho Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Điện sụp đổ rơi
vào tay cộng sản và sẽ tạo lợi thế lớn cho phong trào cộng sản tại châu Á đe dọa các khu
vực sống còn còn lại của "thế giới tự do" như Philippines, Malaysia, Nhật Bản, Úc, New
Zealand...
Do đó, theo hệ quả của thuyết domino, Hoa Kỳ có nghĩa vụ phải giúp đỡ các đồng minh
bản địa chặn đứng chủ nghĩa cộng sản tại Miền Nam Việt Nam và Đông Dương. Đó là
tiền đề để giải thích cho sự can thiệp ngày càng sâu của Hoa Kỳ vào Chiến tranh Đông
Dương và Chiến tranh Việt Nam và sau này dẫn đến sự tham chiến trực tiếp của Quân đội
Hoa Kỳ tại chiến trường Đông Dương.
Hiệp định Genève 1954
Là hiệp định về khôi phục hòa bình ở Đông Dương. Hiệp ước bãi bỏ quyền cai trị của
người Pháp trên bán đảo Đông Dương, công nhận nền độc lập của các quốc gia bản xứ,
chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương.
Nguyên ủy, Hội nghị Genève khai mạc ngày 26 tháng 4 năm 1954 để bàn về vấn đề khôi
phục hoà bình tại Triều Tiên và Đông Dương. Do vấn đề Triều Tiên không đạt được kết
quả nên từ ngày 8 tháng 5 vấn đề Đông Dương được đưa ra thảo luận.
Lập trường 8 điểm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
1. Pháp công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và
Campuchia.
2. Ký một hiệp định về việc rút quân đội nước ngoài ra khỏi 3 nước trong thời hạn
do các bên tham chiến ấn định. Trước khi rút quân, đạt thỏa thuận về nơi đóng
quân của lực lượng Pháp hay Việt Nam trong một số khu vực hạn chế.

