intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Tiểu luận Triết học số 40 - Vận dụng quan điểm toàn diện của triết học Mác _ Lê Nin để giải thích nguyên nhân của vấn đề thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường

Chia sẻ: Phuc Nguyen | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:14

0
68
lượt xem
8
download

Tiểu luận Triết học số 40 - Vận dụng quan điểm toàn diện của triết học Mác _ Lê Nin để giải thích nguyên nhân của vấn đề thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận cung cấp cho người học các kiến thức: Tiểu luận triết học, triết học Mac Lenin, vận dụng quan điểm toàn diện của triết học Mác _ Lê Nin để giải thích nguyên nhân của vấn đề thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường,... Hi vọng đây sẽ là một tài liệu hữu ích dành cho các bạn sinh viên đang theo học môn dùng làm tài liệu học tập và nghiên cứu. Mời các bạn cùng tham khảo chi tiết nội dung tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận Triết học số 40 - Vận dụng quan điểm toàn diện của triết học Mác _ Lê Nin để giải thích nguyên nhân của vấn đề thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường

  1. LỜI NÓI ĐẦU        Từ ngày đất nước ta có sự  đổi mới về kinh tế , chuyển từ kinh tế tập   trung sang cơ  chế  thị  trường nhiều thành phần, tự  do hoạch động và hạch  toán nên đất nước cũng có nhiều thay đổi. Sự  thay đổi này đã mang lại cho   đất nước nhiều thành tựu về kinh tế cũng như xã hội. Nhưng xét đến tính hai   mặt của vấn đề thì cơ chế thị  trường bên cạnh những mặt được thì cũng còn  những mặt chưa được : Một trong những mặt chưa được đó là những mặt đó  là tình trạng sinh viên ra trường thất nghiệp ngày càng tăng, vấn đề xã hội mà   gần như không có trong nền kinh tế bao cấp. Đất nước muốn phát triển thì phải đi lên từ  lao động, mà sinh viên là   lực lượng lao động trẻ, năng động, dồi dào và được đào tạo. Vì vậy đây là  nguồn nhân lực rất quan trọng cần được sử dụng một cách hợp lý hiệu quả.       Tình trạng sinh viên thất nghiệp sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình  phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Vấn đề này nguyên nhân do đâu, phải  chăng là:       ­   Trình độ của sinh viên không đáp ứng được yêu cầu ngày một cao của  công việc, do chất lượng đào tạo thấp của các trường đại học,cao đẳng ? - Do lượng cung lớn hơn cầu về nguồn lao động ? - Do chính sách của nhà nước chưa hợp lý trong việc sử dụng lao động ? - Do sự chủ quan của sinh viên không muốn công tác tại những vùng xa,  khó khăn ?      Vấn đề này được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau vì mỗi người có  một quan điểm khác nhau. Điều này xảy ra là vì về  mặt nhận thức chủ  thể   chưa nhìn nhận vấn đề  một cách toàn diện, tổng thể mà chỉ nhìn ở  một phía  nhất định.Do vậy bài tiểu luận này em sẽ "Vận dụng quan điểm toàn diện 
  2. của triết học Mác _ Lê Nin để  giải thích nguyên nhân của vấn đề  thất  nghiệp của sinh viên sau khi ra trường".      Phần nội dung của bài tiểu luận sẽ gồm các mục sau : Chương I : Phần nội dung I. Quan điểm toàn diện của triết học Mác _ Lê Nin  II. Thực trạng của vấn đề sinh viên ra trường thất nghiệp. III. Nguyên nhân của vấn đề  Chương II : Kết luận và một số giải pháp          Trong lần viết này bài tiểu luận của em chắc chắn còn nhiều khiếm  khuyết. Em kính mong nhận được nhiều ý kiến phê bình của các thầy cô giáo  để em có thể hoàn thiện tốt hơn trong những lần viết sau. Em cũng xin chân  thành cảm  ơn sự  giúp đỡ  của các thầy cô giáo trong khoa đã giúp em hoàn  thành tốt bài tiểu luận này.
  3. Chương I : Phần nội dung I. Quan điểm toàn diện của triết học Mac _ Lê Nin     Trong sự  tồn tại của thế giới quanh ta, mọi sự vật và hiện tượng đều có  mối liên hệ  và tác động qua lại với nhau chứ  không tách rời nhau, cô   lập  nhau.      Như chúng ta đã biết “ Quan điểm toàn diện” là quan điểm được rút ra từ  nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.      Muốn nhận thức hoặc hoạt động thực tiễn đúng về đối tượng nào đó phải  tính đến những mối liên hệ  trong sự  tồn tại của đối tượng, đề  phòng khắc  phục quan điểm phiến diện       Mối liên hệ giữa các sự  vật , hiện tượng là mối liên hệ  của bản thân thế   giới vật chất, không do bất cứ ai quy định và tồn tại độc lập với ý thức. Trên  thế giới này có rất nhiều mối liên hệ chẳng hạn như mối liên hệ giữa sự vật  và hiện tượng vật chất, giữa cái vật chất và cái tinh thần. Các mối liên hệ  đều là sự  phản ánh những tác động qua lại, phản ánh sự  quy định lẫn nhau   giữa các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan.      Không chỉ có vậy, các mối liên hệ còn có tính nhiều vẻ ( đa dạng)                              + Mối  liên hệ bên trong và bên ngoài                               + Mối liên hệ cơ bản và không cơ bản                              + Mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu                              + Mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp        ở thế giới của các mối liên hệ, mối liên hệ  bên ngoài tức là sự  tác động  lẫn nhau giữa các sự vật, mối liên hệ bên trong tức là sự tác động qua lại lẫn   nhau của các mặt, các yếu tố, các bộ phận bên trong của sự vật. Có mối liên   hệ  cơ  bản thuộc về  bản chất của sự  vật, đóng vai trò quyết định, còn mối  liên hệ  không cơ  bản chỉ  đóng vai trò phụ  thuộc, không quan trọng. Đôi khi 
  4. lại có mối liên hệ  chủ  yếu hoặc thứ  yếu.  ở  đó còn có mối liên hệ  trực tiếp   giữa hai hoặc nhiều sự  vật và hiện tượng, có mối liên hệ  gián tiếp trong đó  có các sự  vật và hiện tượng tác động lẫn nhau thông qua nhiều khâu trung   gian.      Khi nghiên cứu hiện tượng khách quan, chúng ta có thể phân chia các mối   liên hệ ra thành từng loại như trên tuỳ  theo tính chất đơn giản hay phức tạp,  phạm vi rộng hay hẹp, vai trò trực tiếp hay gián tiếp, nghiên cứu sâu hay sơ   qua….            Phân chia các mối liên hệ  phải phụ  thuộc vào việc nghiên cứu cụ  thể   trong sự biến đổi và phát triển của chúng. Hay nói khác đi, khi xem xét sự vật   thì phải có quan điểm toàn diện tức  là nhìn nhận sự việc, vấn đề ở mọi góc   cạnh, mọi phương diện. Theo Lê _ Nin “Muốn thực sự hiểu được sự vật cần  phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các  mối quan hệ và quan hệ gián tiếp  của sự vật đó”. Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy  đủ, nhưng sự  vật cần thiết phải xét đến tất cả  mọi mặt sẽ  đề  phòng cho   chúng ta khỏi phạm phải sai lầm và cứng nhắc” ( Lê Nin toàn tập – NXB tiến   bộ)     Khi xem xét sự vật hiện tượng thì luôn phải chú ý đến quan điểm toàn diện   tức là khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nghiên cứu mọi mối liên hệ  và sự   tác động qua lại giữa chúng, sự  tác động qua lại của các yếu tố, kể  cả  khâu  trung gian, gián tiếp cấu thành sự  vật đó, phải đặt nó trong một không gian,  thời gian cụ  thể, nghiên cứu quá trình phát triển từ  quá khứ, hiện tại và dự  đoán cho tương lai. Thế  nhưng xem xét toàn diện không có nghĩa là xem xét  tràn lan mà phải xem xét từng yếu tố cụ thể nhưng có tính chọn lọc. Có như  thế chúng ta mới thực sự nắm được bản chất của sự vật.
  5.       Và cả khi nghiên cứu xã hội thì cũng rất cần đến quan điểm toàn diện vì   các mối quan hệ  trong xã hội không cô lập nhau, tách rời nhau mà trái lại  chúng đan xen tác động qua lại với nhau .      Tình trạng sinh viên ra trường thất nghiệp cũng là một vấn đề  xã hội mà  nguyên nhân gây ra là tập hợp của nhiều yếu tố  tác động  ảnh hưởng đến  nhau. Chính vì vậy, trong bài tiểu luận này em sẽ  dùng quan điểm toàn diện  của triết học Mác – Lê Nin để phân tích tình trạng này. II . Thực trạng về  sự  thất nghiệp của sinh viên sau khi thất nghiệp ra   trường         Từ khi đất nước ta có chính sách mở cửa giao lưu hợp tác với các nước   trong khu vực cũng như các nước trên thế giới, kinh tế chuyển sang nền kinh  tế nhiều thành phần tự do cạnh tranh phát triển đã phát huy rất nhiều mặt tích  cực. Mặt tích cực đáng chú ý là sự cố gắng vươn lên của lớp thanh niên mới   để  có thể  đáp  ứng được yêu cầu, đòi hỏi của công việc.Sự  mở  rộng phát  triển kinh tế  thị  trường thực sự đã mang lại những cơ  hội việc làm cho sinh   viên có khả năng, có năng lực, linh hoạt. Nhưng không phải mọi sinh viên ra   trường đều có việc làm và đây là một vấn đề đang được quan tâm của xã hội.  Căn cứ vào điều tra mới nhất của bộ GD­ ĐT thì  “năm 2000 cả nước có 126  trường đại học, cao đẳng với hơn 73000 sinh viên chính qui tốt nghiệp thì  đến năm học 2001­2003 đã có 157 trường đại học, cao đẳng với gần 12200  sinh viên ra trường’’(nguồn tin trên mạng Internet). Kết quả  cho thấy tỷ  lệ  chung của sinh viên có việc làm sau khi ra trường hiện nay là 72,47%, trong đó  khối kĩ thuật công nghiệp chiếm 79,43% nông lâm ngư chiếm 71,55%, kinh tế  luật chiếm 74,8%, sư phạm chiếm 81,5%(báo tiền phong số 115 ra ngày 24­3­ 2002). Và theo số liệu mới của viện kinh tế phát triển thì sinh viên khối kinh   tế ra trường năm 2002 thất nghiệp 87% hoặc làm việc trái nghề.
  6.        Bên cạnh những sinh viên có đủ  những yêu cầu mà nhà tuyển dụng đòi  hỏi hoặc những người có người thân, xin việc hộ thì số còn lại phải chật vật   chạy đi chạy lại với các trung tâm giới thiệu việc làm. Cũng phải nói thêm   rằng chính dựa vào sự khan hiếm việc làm này mà nhiều trung tâm giới thiệu   việc làm “ ma ” mọc lên vài ba bữa để thu tiền lệ phí, tiền môi giới việc làm  rồi biến mất. Hoặc một số sinh viên ra trường chấp nhận làm trái nghề hoặc   bất cứ nghề gì miễn là có thu nhập.       Đó là về phía sinh viên, còn về phía nhà tuyển dụng thì họ vẫn ‘ than’ là  thiếu lao động mà theo họ là thiếu những người có kinh nghiệm và khả năng  làm việc độc lập cũng như một số yêu cầu khác. Vậy nguyên nhân của vấn đề này do đâu? III. Nguyên nhân của vấn đề 1. Từ phía nền kinh tế­ xã hội.      Trong những năm nước ta còn thực hiện chính sách bao cấp thì không có  hiện tượng sinh viên ra trường thất nghiệp. Phần lớn là vì ngày đó sinh viên   còn ít số  lượng các trường đại học không nhiều nhưng chủ  yếu là sinh viên   sau khi tốt nghiệp thường được nhà nước phân công tác. Nhìn bề ngoài thì có  thể là đủ việc làm nhưng đôi khi những vị trí được sắp xếp vào chỉ cho đủ vị   trí, cho có hình thức, nhiều lúc ‘chơi dài ngày’ hết tháng thì nhận lương nhà  nước.       Nhưng từ  khi nhà nước có chính sách mở  cửa kinh tế  nhà nước chuyển   sang kinh tế  thị trường, các doanh nghiệp phải tự lo cho mình, tự  tính toán “  lời ăn, lỗ chịu” không có sự  bao cấp của nhà nước thì vấn đề  việc llàm thực  sự  trở  nên bức bách. Cũng từ  đây cơ  cấu bộ  máy trong các cơ  quan gọn nhẹ  hơn nhiều do số lao động tuyển vào được cân nhắc kỹ lưỡng theo khối lượng   và mức độ  đòi hỏi của công việc. Hiện nay, sau khi tốt nghiệp thì đa số  sinh 
  7. viên phải tự đi tìm việc cho mình ngoại trừ một số trường thuộc nghành quân  đội hay công an thì nghành chủ quản sẽ phân công công tác.      Ngày nay, chúng ta có thể thấy một hiện tượng là sinh viên tốt nghiệp ra   trường chỉ  muốn trụ  lại thành phố  để  làm việc kể  cả  những sinh viên xuất  thân và lớn lên từ  những miền quê. Họ  chấp nhận  ở  lại thành phố  để  làm  việc dù là việc không đúng với nghành được đào tạo hoặc có thu nhập. Như   vậy một số  nơi như  hải đảo, vùng sâu, vùng xa thì vẫn thiếu trầm trọng   nguồn nhân lực trong khi thành phố vẫn phải đương đầu với sức ép của tình  trạng thất nghiệp.       Đến đây ta có thể thấy được tính hai mặt của nền kinh tế thị trường. Một mặt nó tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế có khả năng phát triển   mạnh hơn, nó cũng tạo ra sự cạnh tranh và chính sự  cạnh tranh cũng là động  lực thúc đẩy kinh tế phát triển, đi lên. Hơn nữa kinh tế thị trường sẽ làm cho  mọi người phải cố gắng nỗ lực để  trang bị  cho mình vốn kiến thức đầy đủ   thì mới có thể tìm được việc làm.         Nhưng mặt khác nền kinh tế  thị  trường cũng có những tác động không   lớn đến vấn đề  xã hội là việc gây ra sự  thiếu thừa “ giả  ”về  lực lượng lao   động, mất cân đối về  nguồn lao động và cũng làm nẩy sinh một số  vấn đề   tiêu cực trong việc làm  2. Về phía đào tạo               Tình trạng sinh viên ra trường không có việc làm một phần cũng có  nguyên nhân  ở  phía đào tạo. Nhiều chương trình đào tạo quá cũ kỹ, lạc hậu  từ  nội dung đến phương pháp giảng dậy. Đôi khi được học là học chạy còn  vào thực tiễn thì như  mới hoàn toàn vì học nhưng không có thực hành trang   thiết bị phục vụ cho việc giảng dậy, học tập thì không có vì vậy không phát  huy được khả  năng sáng tạo của sinh viên. Tại một số  nước nền giáo dục  hiện đại thì sinh viên sau khi học hết năm thứ 3 thì có thể làm việc được tại  
  8. một cơ  quan theo một ngành nghề  đã được đào tạo. Phần đông ngoài các   chương trình đào tạo ở trường đại học họ còn phải học thêm các khoá học ở   ngoài như ngoại ngữ tin học để có thể đáp ứng được yêu cầu của công việc. a. Cơ cấu đào tạo        Có thể nói cơ cấu đào tạo của nước ta còn quá lạc hậu và chưa bám sát   thực tế. Trong khi một đất nước đang phát triển như  Việt Nam rất cần đến  đội ngũ kỹ  sư  về  kỹ thuật, công nghệ, xây dựng cơ  bản thì nguồn cung cấp  nhân lực từ  phía đào tạo lại chưa đáp  ứng được hết  nhu cầu .Trong khi đó   sinh viên trong khối kinh tế thì đang quá dư thừa “ 90 % sinh viên  khối kinh   tế ra trường không có việc làm ” là một phần do bên đào tạo nắm  được nhu  cầu thực tế  về  nguồn nhân lực, chưa thông tin đầy đủ  cho sinh viên về  việc  chọn nhóm ngành học, nhiều sinh viên chọn trường chỉ  theo cảm tính chứ  không tính đến mục đích phục vụ tương lai và khả năng xin việc làm sau này. b. Chất lượng đào tạo             Hiện nay chất lượng đào tạo và thực tế  còn có khoảng cách quá xa.   Những gì sinh viên được học phần lớn chưa đáp ứng được yêu cầu của công   việc. Nguyên nhân một phần là do học không đi đôi với hành, thiếu cơ sở vật   chất, trang thiết bị  phục vụ  cho việc giảng dậy và học tập hoặc nếu có thì   quá xa so với thực tế công việc. Phần khác là do xã hội ngày càng phát triển   với tốc độ  cao và vì vậy sản xuất cũng thay đổi theo.Phương thức sản xuất   thay đổi trong khi đó đào tạo không bắt kịp được những thay đổi này vì vậy   nó thường bị  tụt hậu. Khi không có sự  cân bằng, đồng bộ  giữa đào tạo và  thực tế  công việc đã làm cho sinh viên sau khi ra trường không đủ  khả  năng  phục vụ cho công việc. Họ cảm thấy rất lúng túng trước những yêu cầu của  đơn vị sử dụng lao động .       Chính vì sự  phát triển của khoa học – kỹ  thuật ngày càng cao nên công   việc cũng đòi hỏi đội ngũ người lao động phải có trình độ, năng lực. Điều này 
  9. đòi hỏi ngành GD ­ ĐT phải phương pháp đào tạo mới, cải thiện chất lượng   đào tạo để có thể bắt kịp được sự phát triển của thời đại. 3. Về phía chính sách của nhà nước       Bên cạnh những nguyên nhân về kinh tế, xã hội, đào tạo thì nguyên nhân  về  chính sách của nhà nước cũng là yếu tố đáng kể tác động đến vấn đề này.       Trong những năm gần đây, nhà nước cũng có rất nhiều quan tâm đến sự  nghiệp đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng cùng với những khuyến  khích để sử dụng sinh viên sau khi tốt nghiệp; ví dụ như sinh viên thuộc khối  sư  phạm được miễn học phí. Nhưng về  cơ  bản thì nhà nước vẫn chưa có  chính sách hợp lí để  khuyến khích cũng như  tạo điều kiện cho sinh viên sau   khi ra trường yên tâm công tác và phát huy hết khả năng; chẳng hạn như chính  sách đối với những người về  công tác tại những vùng sâu, vùng xa, hải đảo  chưa hợp lí cho lắm nên không thu hút được sinh viên sau khi ra trường tự  nguyện về đây công tác. Vậy nên chăng nhà nước cần có chính sách hợp cũng như thoả đáng hơn nữa   cả  về  mặt vật chất cũng như  tinh thần để  sinh viên sau khi ra trường sẵn   sàng có công tác  ở  bất cứ  nơi đâu để  góp phần vào sự  nghiệp công nghiệp  hoá và đổi mới đất nước. 4/ Về phía bản thân và gia đình đối tượng được đào tạo       Bên cạnh những nguyên nhân được nêu ở trên thì nguyên nhân từ phía bản   thân sinh viên cũng là một yếu tố  gây ra tình trạng sinh viên thất nghiệp sau  khi ra trường .      Chúng ta có thể nhận thấy một thực tế rằng hiện nay sinh viên ra trường   đều muốn bám trụ  lại thành phố  để  làm việc dù công việc đó không đúng  ngành được đào tạo hoặc thậm chí là công việc phổ  thông miễn sao có thu  nhập .Nhóm sinh viên xuất thân từ  các tỉnh lẻ  ra thành phố   học cũng không  muốn trở về quê hương để phục vụ, điều này đang làm cho các thành phố lớn 
  10. như  Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đang quá tải về dân số cũng như sức ép  về nhu cầu việc làm. Tình hình này đã và đang gây ra những  ảnh hưởng xấu  đến chủ trương phát triển kinh tế­ xã hội ở miền núi ,nông thôn của Đảng và   nhà nước.
  11. Chương II/ Kết luận chung và một số kiến nghị  giải pháp I/ Kết luận chung        Qua việc phân tích những nguyên nhân gây ra hiện tượng sinh viên thất   nghiệp sau khi ra trường  bằng việc vận dụng “quan điểm toàn diện của triết  học Mác­ Lênin” phần nào cũng cho ta thấy được góc cạnh của vấn đề  mặc  dù phần phân tích ở trên chỉ là rất khái quát. Chúng ta đều nhận thấy rằng tình   trạng thất nghiệp ở sinh viên sau khi ra trường không phải do lỗi toàn bộ của   bất cứ ban ngành nào mà nó do nhiều yếu tố tác động đến, nguyên nhân khách  quan như tình hình kinh tế xã hội, nguyên nhân chủ quan là về hệ thống giáo  dục đào tạo,chính sách sử  dụng và đãi ngộ  lao động chưa hợp lý cũng như  tâm lý chủ  quan về  phía bản thân sinh viên. Nhưng dù nói gì đi nữa thì thất  nghiệp ngày càng tăng sẽ   ảnh hưởng không tốt đến tình hình phát triển kinh  tế  xã hội của đất nước nhất là Việt Nam, một nước đang phát triển với dân  số  trẻ  rất cần mọi tài năng, nỗ  lực và sự  đóng gópcủa lớp trẻ, những chủ   nhân tương lai của đất nước. Vì   vậy để  giải quyết vấn đề  này thì không  phải một sớm một chiều mà cần phải có thời gian và sự  kết hợp từ  nhiều  phía. Với tư cách là một sinh viên cũng đang băn khoăn và lo lắng về vấn đề  xã hội này nên trong phần giải pháp của bài tiểu luận này em xin phép được   đưa ra một số giải pháp sau.   II. Giải pháp 1. Phát triển cả  về  chiều sâu lẫn chiều rộng các ngành nghề  sản  xuất – kinh doanh     Với số dân gần 80 triệu người và chắc chắn sẽ còn tăng trong những năm   tới, lượng sinh viên ra trường ngay càng nhiều vì vậy việc làm là một vấn đề 
  12. cấp bách của xã hội. Để  tạo thêm được công ăn việc làm thì không còn cách  nào khác là phải mở  rộng các ngành nghề  sản xuất – kinh doanh. Muốn làm   được   điều   này   thì   nhà   nước   cần   có   những   chính   sách   nhằm   đẩy   mạnh,   khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào đầu tư, phát triển mở rộng   sản xuất cũng như tạo ra các điều kiện thuận lợi về môi trường để họ có thể   hoạt động thuận tiện hơn. Bên cạnh đó nhà nước cũng phải là người đi đầu,  chủ trương trong việc thực hiện các chương trình quốc gia về khoa học – kỹ   thuật cũng như đưa nó vào thực tiễn sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản  phẩm, tăng năng suất lao động, nâng cao điều kiện sống cho người lao động.  Nếu các chính sách này được đưa vào thực tiễn thì người lao động sẽ phải cố  gắng hơn để  nâng cao trình độ  chuyên môn cho công việc và đơn vị sử dụng   cũng sẽ có điều kiện để  thu hút nhiều hơn lực lượng lao động được đào tạo  với chất lượng cao. 2.Về phía ngành đào GD ­ ĐT       Đào tạo chính là nền tảng, là cơ  sở  để  cho “ra lò” những lao động có kĩ  năng, có tay nghề, vì vậy đào tạo cần phải đổi mới nâng cao chất lượng để   làm sao khi tốt nghiệp sinh viên có khả  năng đáp  ưng những nhu cầu ngày  một cao của công việc. Bên cạnh đó nhà nước và bộ  giáo dục   cũng cần có  sự phối hợp để tính toán để cân đối tỷ lệ hợp lý giữa các ngành nghề đào tạo,   đáp ứng được nhu cầu của thực tế, tránh hiện tượng thừa thì vẫn cứ thừa còn  thiếu thì vẫn cứ thiếu. Nghành đào tạo cũng có mối liên hệ với thị trường lao  động để luôn cập nhập được xu hướng của nhu cầu để  đào tạo cho phù hợp  cả về chất lượng  cũng như số lượng.  3.Về phía chính sách của nhà nước.       Nhà nước là người quản lý ở tầm vĩ mô do vậy nhà nước cần đưa ra các  chính sác hợp lý để thu hút và tạo điều kiện cho sinh viên vào học các nghành   nghề  kỹ  thuật nghành mà hiện nay một đất nước đang trên con đường công  
  13. nghiệp hoá hiện đại hoá ráat cần đến. Cùng với việc vào học nhà nước cũng   nên có chính sách quan tâm đến những người làm việc, công tác tại những   vùng xa, vùng khó khăn để  động viên họ  cả  về  mặt vật chất cũng như  tinh  thần để họ có thể yên tâm đem hết tâm huyết và năng lực ra để phục vụ đất   nước.       Nhà nước cũng cần tạo cơ hội để  các trường đào tạo có điều kiện tiếp   cận được với thị trường lao động để biết đươc tình hình thực tế cũng những   thay đổi về khoa học – công nghệ ,các loại máy móc hiện đại để từ đó có thể  cập nhập cho sinh viên một cách  liên tục và kịp thời những sự thay đổi đó.  4.Về phía sinh viên        Hiện nay rất nhiều đói tượng chọn trường đại học nhưng không có sự  định hướng cho khả năng của đầu ra sau này mà chỉ chọn như một cái “mốt”   với những nghành đang “nổi” như  tài chính, ngân hàng,  ưu chính viễn thông  …Đây là một tư  tưởng tiêu cực có  ảnh hưởng không tốt tới quá trình phát  triển kinh tế  –xã hội gây ra tình trạng thừa thiếu bất hợp lý. Và lại tâm lý  hiện nay của nhiều bậc phụ huynh là bắt buộc phải vào được đại học. Phải  nói rằng có được tấm bằng đại học để  ra nghề  là một điều rất cần và quan  trọng. Nhưng chúng ta cũng cần biết rằng đại học chưa phải là con đường  duy nhất để  lập nghiệp. Vì vậy bản thân đối tượng được đào tạo cũng như  các bậc phụ huynh cần phải đánh giá lại cách nhìn nhận làm sao để chọn cho  con em mình và hoàn cảnh gia đình mà vẫn có ích cho xã hội. Những sinh viên  ra trường cũng cần có cách nhìn nhận đúng đắn hơn trong việc chọn cho mình  một nơi làm việc. Một môi trường đúng với chuyên ngành được đào tạo sẽ có  lợi cho cả hai bên; người lao động sẽ làm tốt hơn công việc của mình, bên sử  dụng lao động sẽ  được những người có trình độ  chuyên môn phù hợp, có  năng lực làm việc.Sự kết hợp hài hoà và hợp lý này sẽ giúp cho công việc đạt   hiệu quả cao hơn.
  14. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1/     Giáo trình triết học của trường Đại Học Quản Lý – Kinh Doanh   Hà Nội 2/     Báo tiền phong số135 ra ngày 24­3­ 2002 3/     Sách Lê Nin toàn tập – nhà xuất bản Tiến Bộ  4/     Tạp chí lao động và xã hội tháng 3 ­2002 5/     Nguồn tin từ Internet : www.tinvan.com

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản