intTypePromotion=1

Tiểu luận Triết học số 70 - Trong thời kỳ đổi mới khẳng định phải đổi mới tư duy lý luận trước khi đổi mới thực tiễn

Chia sẻ: Phuc Nguyen | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:33

0
20
lượt xem
4
download

Tiểu luận Triết học số 70 - Trong thời kỳ đổi mới khẳng định phải đổi mới tư duy lý luận trước khi đổi mới thực tiễn

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận cung cấp cho người học các kiến thức: Tiểu luận Triết học, triết học Mac Lenin, trong thời kỳ đổi mới khẳng định phải đổi mới tư duy lý luận trước khi đổi mới thực tiễn, vận dụng những tư tưởng cơ bản của triết học Macxit để giải thích cho luận điểm,... Hi vọng đây sẽ là một tài liệu hữu ích dành cho các bạn sinh viên đang theo học môn dùng làm tài liệu học tập và nghiên cứu. Mời các bạn cùng tham khảo chi tiết nội dung tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận Triết học số 70 - Trong thời kỳ đổi mới khẳng định phải đổi mới tư duy lý luận trước khi đổi mới thực tiễn

  1. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  LỜI MỞ ĐẦU Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận   hành theo cơ chế  thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội  chủ  nghĩa  ở  nước ta hiện nay, lý luận nhận thức, vấn đề  cải tạo thực tiễn nền   kinh tế luôn thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng.      Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của  bất cứ  hình thái kinh tế  nào. Những vấn đề  triết học về  lý luận nhận thức và  thực tiễn, phương pháp biện chứng... luôn là cơ  sở, là phương hướng, là tôn chỉ  cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội. Nếu xuất phát từ một lập   trường triết học đúng đắn, con người có thể  có được những cách giải quyết phù   hợp với các vấn dề  do cuộc sống đặt ra. Việc chấp nhận hay không chấp nhận   một lập trường triết học nào đó sẽ không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận một thế  giới quan nhất định, một cách lý giải nhất định về  thế  giới, mà còn là sự  chấp  nhận một cơ sở phương pháp luận nhất định chỉ đạo cho hoạt động. Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ  phận cấu thành của chủ  nghĩa Mác. Lênin đã chỉ  rõ rằng chủ  nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triết  học của chủ  nghĩa Mác. Cho đến nay, chỉ  có triết học Mác là mang tính  ưu việt  hơn cả. Trên cơ sở nền tảng triết học Mác ­ Lênin, Đảng và Nhà nước ta đã học   tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề  ra những mục tiêu, phương  hướng chỉ  đạo  chính xác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đất  nước. Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi  đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước ta   tiến kịp trình độ  các nước trong khu vực và thế  giới về  mọi mặt. Chính những   thành tựu của xây dựng chủ nghĩa xã hội và qua mười năm đổi mới là minh chứng  xác đáng cho vấn đề nêu trên. Hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với   sự nắm bắt các quy luật khách quan trong vận hành nền kinh tế ở nước ta là một   vấn ềề còn nhiều xem xét và tranh cãi, nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay.Vì  vậy, em quyết định chọn đề  tài “Trong thời kỳ đổi mới chúng ta khẳng định  Vò Ngäc Khoa  1
  2. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  phải đổi mới tư duy lý luận trước khi đổi mới thực tiễn. Anh hay vận dụng   những tư  tưởng cơ  bản của triết học Macxit để  giải thích cho luận điểm   trên”. Vò Ngäc Khoa  2
  3. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  GIỚI THIỆU TIỂU LUẬN I, TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU  Sự tất thắng của chủ nghĩa cộng sản, sự thay thế xã hội tư bản chủ nghĩa  bằng xã hội cộng sản chủ nghĩa trong tiến trình lịch sử  của nhân loại là một quy  luật khách quan. Việt Nam hiện nay đang  ở  vào thời kỳ  quá độ, chúng ta đã bỏ  qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy trong quá   trình phát triển, luôn luôn nảy sinh những mâu thuẫn cần giải quyết. Với sự lãnh  đạo đúng đắn của Đảng và Chính phủ, chúng ta đã có những chiến lược và sách   lược đúng đắn. Trên cơ sở nền tảng của chủ nghĩa Mác­ Lênin, đặc biệt là lý luận triết học  Mác­ Lênin, chúng ta đã vạch rõ được con đường phát triển kinh tế  đúng đắn đó  là: ”luôn luôn xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng và hoạt động theo quy luật khách  quan.’(Trích’Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  VI”).   Từ  năm 1986,  chúng ta đã tổng kết được những bài học kinh nghiệm quý báu để đổi mới và cải  cách kinh tế. Xây dựng một nền kinh tế thị trường, một nền kinh tế nhiều thành   phần, lành mạnh chính là sự vận dụng sáng tạo quan điểm chỉ đạo của Đảng vào  thực tiễn hoàn cảnh trong nước và trên thế giới. Những quan điểm đổi mới, tiến   bộ đó là sự tôn trọng hoàn toàn những lý luận nhận thức và thực tiễn chi phối nền  kinh tế. Đứng trên quan điểm triết học Mác­ Lênin, ta càng có cơ sở để khẳng định   những khởi sắc trong mười năm đổi mới cho dến nay từ  sau Đại hội Đảng lần  thứ VI là những thành công mang tính tất yếu do chúng ta đã vận dụng đúng đắn  các quy luật khách quan vào cải tạo thực tiễn. Chúng ta đã tôn trọng những bước  phát triển có tính quy luật của lịch sử, không đi ngược lại “guồng quay” của lịch   sử. II, MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ  Luôn luôn gắn lý thuyết với thực hành, nắm vững kiến thức thông qua sự  hiểu biết sâu rộngvấn đề là một phương châm hành động của sinh viên trong thời   Vò Ngäc Khoa  3
  4. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  đại mới. Nghiên cứu lý luận nhận thức và thực tiễn là một sự  nghiên cứu sâu   rộng của triết học trong mối liên quan với phát triển kinh tế và phát triển xã hội. Hơn thế  nữa, đứng trước ngưỡng cửa thế  kỷ  21, khi mà xu thé hội nhập   đang tăng cao, nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ  thì các hành động đều   xuất phát từ quá trình nhận thức và cải tạo thực tiễn là phương châm chỉ đạo và   hoạt động của Đảng, Nhà nước ta. Muốn phát triển kinh tế vững mạnh thì phải luôn đặt nó với mối quan hệ  với những khoa học khác, đặc biệt là triết học. Sự thành công hay thất bại, phát  triển hay lạc hậu của bất cứ nền kinh tế nào là do có lập trường triết học đúng   đắn. Bởi vì xuất phát từ một lập trường triết học đúng đắn, con người có thể có  được cách giải quyết phù hợp với những vấn đề do cuộc sống đặt ra. Còn ngược  lại, xuất phát từ  một lập trường triết học sai lầm, con ngưòi khó có thể  tránh   khỏi hành động sai lầm. Trong hoạt dông kinh tế, một lập trường triết học đúng  đắn là tối cần thiết. Chỉ có triết học Mác ­ Lênin mới có được những tính ưu việt   này. Đối với một sinh viên ngân hàng nói riêng và những cán bộ  kinh tế  nói  chung, viếc nắm vững triét học với những quy luật, lý luận, phương pháp của nó   là không thể  thiếu được. Vì khi giải quyết những vấn đề  phức tạp cụ  thể  như:   các cán bộ  làm công tác thực tiễn này không thể  tìm thấy được  ở  những cán bộ  thuộc lĩnh vực chuyên ngành triết học một câu trả lời cụ thể về vấn đề đó dược,  nhưng trong hoạt động thực tiễn, những vấn đề phức tạp này lại luôn nảy sinh.      III, PHẠM VI NGHIÊN CỨU        Triết học Mác ­ Lênin về vật chất, vận động trong không gian, thời gian và  về sự thống nhất vật chất của thế giới đã góp phần xác lập thế giới quan duy vật   khoa học và có ý nghĩa về phương pháp luận to lớn trong nhận thức khoa học và   hoạt động thực tiễn. Triết học không phải là một cái gì quá xa xôi, viển vông,  ngược lại nó gắn bó hết sức chặt chẽ với cuộc sống, thực tiễn, chỉ đạo cho con   Vò Ngäc Khoa  4
  5. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  người hành động. Nắm vững được mọi nội dung của triết học, đặc biệt là lý  luận nhận thức và cải tạo thực tiễn sẽ làm cho con người làm chủ thế giới, chinh  phục thiên nhiên, cải tạo được xã hội, phát triển kinh tế mạnh mẽ. Vấn đề  đã nêu trong văn kiện Đại hội Đảng VI có tác dụng tích cực đối  với sự phát triển của nền kinh tế hiện nay. Sau hơn mười năm đổi mới với những  thành tựu nhất định ta càng thấy rõ sự  đúng đắn và cần thiết của bài học kinh  nghiệm đó. Trong bài viết này, chỉ  tập trung phân tích vấn đề  lý luận nhận thức  và cải tạo thực tiễn của nền kinh tế  Việt Nam trong quá trình phát triển. Cùng   với sự  tổng kết của đại hội Đảng toàn quốc lần thứ  VI trong văn kiện đã đánh  dấu một mốc son lịch sử của Việt Nam chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu, bao   cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự  quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ  nghĩa. Hoạt động xây dựng   kinh tế, đổi mới kinh tế những năm gần đây và mối liên hệ  của nó với thực tiễn  và các quy luật triết học là trung tâm của nội dung này.  IV, CƠ  SỞ LÝ LUẬN   Đại hội Đảng lần thứ VI đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá  trình phát triển kinh tế  của Việt Nam. Trước văn kiện này, những bài học kinh  nghiệm đã được rút ra trong triết học Mác ­ Lênin và Đảng ta lấy đó làm “kim chỉ  nam’ cho hoạt động của mình. Triết học là một bộ phận cấu thành của chủ nghĩa  Mác­ Lênin đã chỉ  rõ; triết học của chủ nghĩa Mác là chủ  nghĩa duy vật. Nhưng   Mác không dừng lại  ở  chủ  nghĩa duy vật thế  kỷ  XVIII mà những thiếu sót chủ  yếu nhất của nó là máy móc, siêu hình và duy tâm khi xem xét các hiện tượng xã   hội. C.Mác và F.Enghen đã khắc phục những thiếu sót ấy, đẩy triết học tiến lên  hơn nữa bằng cách tiếp thu một cách có phê phán và có chọn lọc những thành quả  của triết hoc cổ điển Đức và nhất là của hệ thống triết học Hêghen. Trong những   thành quả đó thì thành quả  chủ  yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về  sự  phát triển dưới hình thức toàn diện nhất, sâu sắc nhất và thoát hẳn được tính  phiến diện. Nhưng phép biện chứng của Heeghen là phép biện chứng duy tâm nên  Mác và Enghen đã cải tạo nó. Chính trong quá trình cải tạo này, Mác và Enghen đã   gắn phép biện chứng Hêghen với thực tiễn, phát triển tiếp tục chủ nghĩa duy vật   Vò Ngäc Khoa  5
  6. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  cũ, đẩy nó lên thành chủ  nghĩa duy vật bịên chứng.Vì vậy chính Mác và Enghen   đã xây dựng một triết học mới với thế  giới quan duy vật nhất quán trong việc   nhận thức xã hội. Cơ sở của những lí luận trong học thuyết đó là những quy luật   khách quan và thực tiễn xã hội (“Triết học Mác­ Lênin”­ Chương trình cao cấp.  Tập I;Tập san triết học). Vậy trong quá trình xây dựng nên triết học Mác, C.Mác và Enghen đã luôn  đi từ thực tiễn và những quy luật khách quan để  định hướng lý luận nghiên cứu.  Những lý luận đó vì thế có cơ sở khoa học vững chắc, không sa vào siêu hình hay  nhị nguyên luận như các nhà triết học đi trước. Để  chỉ  đạo hoạt động được đúng đắn, triết học Mác­ Lênin chính là nền   tảng bền vững cho mọi mục tiêu, phương hướng phát triển mọi mặt của Đảng và  Nhà nước ta.        MỘT SỐ KHÁI NIỆM  LIÊN QUAN ĐẾN CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU I. THỰC TIỄN 1. Khái niệm Hoạt động con người chia làm hai lĩnh vực cơ  bản. Một trong hai lĩnh vực  quan trọng đó là: hoạt động thực tiễn.  Thực tiễn: (theo quan điểm triết học Mác xít): Là những hoạt động vật chất cảm tính, có mục đích, có tính lịch sử ­ xã hội   của con người nhằm cải tạo, làm biến đổi tự nhiên và xã hội. 2. Tính vật chất trong hoạt động thực tiễn Đó là hoạt động có mục đích của xã hội, phải sử dụng những phương tiện   vật chất đề  tác động tới đối tượng vật chất nhất định của tự  nhiên hay xã hội,   làm biến đổi nó, tạo ra sản phẩm vật chất nhằm thoả  mãn nhu cầu của con   người. Vò Ngäc Khoa  6
  7. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  Chỉ có thực tiễn mới trực tiếp làm thay đổi thế giới hiện thực, mới thực sự  mang tính chất phê phán và cách mạng. Đây là đặc điểm quan trọng nhất của thực   tiễn, là cơ  sở  đề  phân biệt hoạt  động thực tiễn khác với hoạt động lý luận của   con người. 3. Tính chất lịch sử xã hội Ở  những giai đoạn lịch sử  khác nhau, hoạt động thực tiễn diễn ra là khác   nhau, thay đổi về phương thức hoạt động. Thực tiễn là sản phẩm lịch sử  toàn thế  giới, thể  hiện những mối quan hệ  muôn vẻ và vô tận giữa con người với giới tự nhiên và con người với con người   trong quá trình sản xuất vật chất và tinh thần, là phương thúc cơ bản của sự tồn   tại xã hội của con người. 4. Thực tiễn của con người được tiến hành dưới nhiều hình thức Trong quá trình hoạt động cải tạo thế giới, con người tạo ra một hiện thực   mới, một ”thiên nhiên thứ hai”. Đó là thế giới của văn hóa tinh thần và vật chất,   những điều kiện mới cho sự  tồn tại của con người, những điều kiện này không  được giới tự  nhiên mang lại dưới dạng có sẵn. Đồng thời với quá trình đó, con  người cũng phát triển và hoàn thiện bản thân mình. Chính sự  cải tạo hiện thực   thông qua hoạt động thực tiễn là cơ  sở  của tất cả  những biểu hiện khác có tính  tích cực, sáng tạo của con người. Con người không thích nghi một cách thụ động  mà thông qua hoạt động của mình, tác động một cách tích cực để biến đổi và cải   tạo thế giới bên ngoài. Hoạt động đó chính là thực tiễn. a,Hoạt động sản xuất vật chất Là hoạt động thực tiễn quan trọng nhất của xã hội.Thực tiễn sản xuất vật  chất là tiền đề  xuất phát để  hình thành những mối quan hệ  đặc biệt của con   người đối với thế  giới, giúp con người vượt ra khỏi khuôn khổ  tồn tại của các  loài vật. b.Hoạt động chính trị xã hội Vò Ngäc Khoa  7
  8. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  Là hoạt dộng của con người trong các lĩnh vực chính trị  xã hội nhằm phát   triển và hoàn thiện các thiết chế xã hội, các quan hệ  xã hội làm địa bàn rộng rãi   cho hoạt động sản xuất và tạo ra những môi trường xã hội xứng đáng với bản  chất con người bằng cách đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội. c. Hoạt động thực nghiệm khoa học Là hoạt động thực tiễn đặc biệt vì con người phải tạo ra một thế giới riêng   cho thực nghiệm của khoa học tự nhiên và cả khoa học xã hội. II, THỰC TIỄN CÓ VAI TRÒ RẤT TO LỚN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC Hoạt động thực tiễn là cơ  sở  , là nguồn gốc, là động lực, là mục đích, là   tiêu chuẩn của nhận thức. 1.Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức Trong hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi thế  giới khách quan,  bắt các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan phải bộc lộ những thuộc tính   và quy luật của chúng. Trong quá trình hoạt động thực tiễn luôn luôn nảy sinh các   vấn đề đòi hỏi con người phải giải đáp và do đó nhận thức được hình thành. Như  vậy, qua hoạt động thực tiễn mà con người tự  hoàn thiện và phát triển thế  giới   quan( tạo điều kiện cho nhận thức cao hơn). Qua hoạt động thực tiễn, não bộ con người cũng ngày càng phát triển hơn,  các giác quan ngày càng hoàn thiện hơn. Thực tiễn là nguồn tri thức, đồng thời cũng là đối tượng của nhận thức.   Chính hoạt động thực tiễn đã đặt ra các nhu cầu cho nhận thức, tạo ra các  phương tiện hiện đại giúp con người đi sâu tìm hiểu tự nhiên. 1,Thực tiễn là động lực của nhận thức Ngay từ  đầu, nhận thức đã bắt nguồn từ  thực tiễn, do thực tiễn quy định. Mỗi   bước phát triển của thực tiễn lại luôn luôn đặt ra những vấn đề  mới cho nhận   thức, thúc đẩy nhận thức tiếp tục phát triển. Như  vậy thực tiễn trang bị  những  phương tiện mới, đặt ra những nhu cầu cấp bách hơn, nó rà soát sự  nhận thức.  Vò Ngäc Khoa  8
  9. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  Thực tiễn lắp đi lắp lại nhiều lần, các tài liệu thu thập được phong phú, nhiều  vẻ, con người mới phân biệt được đâu là mối quan hệ  ngẫu nhiên bề  ngoài, đâu   là mối liên hệ bản chất, những quy luật vận động và phát triển của sự vật. 2,Thực tiễn là mục đích của nhận thức Những tri thức khoa học chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi nó được vận dụng vào thực  tiễn. Mục đích cuối cùng của nhận thức không phải là bản thân các tri thức mà là   nhằm cải tạo hiện thức khách quan, đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần  xã hội. Sự  hình thành và phát triển của nhận thức là bắt nguồn từ  thực tiễn, do   yêu cầu của thực tiễn.  Nhận thức chỉ  trở  về  hoàn thành chức năng của mình khi nó chỉ  đạo hoạt  động thực tiễn, giúp cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả  hơn. Chỉ  có thông qua   hoạt động thực tiễn, thì tri thức con người mới thể  hiện được sức mạnh của   mình, sự hiểu biết của con người mới có ý nghĩa. 3,Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức Bằng thực tiễn mà kiểm chứng nhận thức đúng hay sai. Khi nhận thức đúng thì  nó phục vụ thực tiễn phát triển và ngược lại. 4,Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý a.Chân lý Là những tri thức phản ánh đúng đắn thế  giới khách quan được thực tiễn   khẳng định ( nội dung khách quan, có ý nghĩa giá trị đối với đời sống con người) Chân lý mang tính khách quan, nó không phụ thuộc vào số đông (ví dụ: chân  lý tôn giáo). Chân lý mang tính hai mặt ( tuyệt đối và tương đối ) vì tính hai mặt trong  quá trình nhận thức của nhân loại. b.Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tiêu chuẩn để kiểm tra   chân lý không phải là ý thức tư tưởng, tư duy mà là thực tiễn. Bởi vì chỉ có thông   Vò Ngäc Khoa  9
  10. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  qua hoạt động thực tiễn, tri thức mới trở lại tác động vào thế  giới vật chất, qua  đó nó được ”hiện thực hoá”, “vật chất hơn” thành các khách thể cảm tính. Từ đó   mới có căn cứ để đánh giá nhận thức của con người đúng hay sai, có đạt tới chân   lý hay không. Thực tiễn có rất nhiều hình thức khác nhau, nên nhận thức của con người  cũng được kiểm tra thông qua rất nhiều hình thức khác nhau. +Thực tiễn của xã hội luôn luôn vận động và phát triển. +Thực tiễn trong mỗi giai đoạn lịch sử  đều có giới hạn. Nó không thể  chứng minh hay bác bỏ hoàn toàn một tri thức nào đó của con người mà nó được   thực tiễn tiếp theo chứng minh, bổ sung thêm.  Như vậy tiêu chuẩn thực tiễn cũng mang tính chất biện chứng và như  vậy  mới có khả năng kiểm tra một cách chính xác sự phát triển biện chứng của nhận   thức.  c.Ý nghĩa: Thực tiễn lớn nhất ở nước ta hiện nay là thực tiễn xây dựng nền kinh tế thị  trường mới, nền văn hoá mới đậm đà bản sắc dân tộc và chế độ xã hội mới: công   bằng, bình đẳng, tién bộ. Trong lĩnh vực kinh tế, đường lối, chính sách hay các giải pháp kinh tế  cụ  thể  muốn biết đúng hay sai đều phải thông qua vận dụng chúng trong sản xuất,  kinh doanh cũng như quản lý các quá trình đó. Đường lối chính  sách cũng như các   giải pháp kinh tế  chỉ  đúng khi chúng mang lại hiệu quả  kinh tế, thúc đẩy sản  xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã  hội công bằng, văn minh.  Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội sau những bước tiến và những thành  tựu to lớn mang lại ý nghĩa lịch sử, giờ  đây lại đặt ra nhiều vấn đề  cần giải  quyết. Những hoạt động nghiên cứu lý luận chính là nhằm tìm ra lời giải đáp cho   những vấn đề  của giai đoạn cách mạng hiện nay. Công cuộc đổi mới ở nước ta   vừa là mục tiêu, vừa là động lực mạnh mẽ  thúc đẩy hoạt động nhận thức nói  Vò Ngäc Khoa  10
  11. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  chung và công tác lý luận nói riêng, nhất định sẽ đem lại cho chúng ta những hiểu  biết mới, phong phú hơn và cụ  thể  hơn về  mô hình chủ  nghĩa xã hội, về  con   đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.  III.  MỐI QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lý luận a. Khái niệm Là một hệ  thống những tri thức được khái quát từ  thực tiễn. Nó phản ánh  những quy luật, của từng lĩnh vực trong hiện thực khách quan. b. Đặc điểm Lý luận mang tính hệ  thống, nó ra đời trên cơ  sở  đáp ứng nhu cầu của xã  hội nên bất kỳ một lý luận nào cũng mang tính mục đích và ứng dụng. Nó mang tính hệ thống cao, tổ chức có khoa học. 2. Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn Được thể hiện bằng mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn. GIữa   lý luận và thực tiễn thống nhất biện chứng với nhau. Sự thống nhất đó bắt nguồn  từ  chỗ: chúng đều là hoạt động của con người, đều nhằm mục đích cải tạo tự  nhiên và cải tạo xã hội để thoả mãn nhu cầu của con người. a. Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn Lý luận dựa trên nhu cầu của thực tiễn và lấy được chất liệu của thực  tiễn. Thực tiễn là hoạt động cơ bản nhất của con người, quyết định sự tồn tại và  phát triển xã hội. Lý luận không có mục đích tự  nó mà mục đích cuối cùng là   phục vụ  thực tiễn. Sức sống của lý luận chính là luôn luôn gắn liền với thực  tiễn, phục vụ cho yêu cầu của thực tiến.  b. Lý luận mở đường và hướng dẫn hoạt động của thực tiễn Ví dụ: lý luận Mác ­ Lênin hướng dẫn con đường đấu tranh của giai cấp vô  sản. Sự thành công hay thất bại của hoạt động thực tiễn là tuỳ thuộc vào nó được   hướng dẫn bởi lý luận nào, có khoa học hay không? Sự  phát triển của lý luận là  Vò Ngäc Khoa  11
  12. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  do yêu cầu của thực tiễn, điều đó cũng nói lên thực tiễn không tách rời lý luận,  không thể thiếu sự hướng dẫn của lý luận. Vai trò của lý luận khoa học là ở chỗ: nó đưa lại cho thực tiễn các tri thức   đúng đắn về  các quy luật vận động, phát triển của hiện thực khách quan, từ  đó  mới có cơ  sở  để  định ra mục tiêu và phương pháp đúng đắn cho hoạt động thực   tiễn. Quan hệ lý luận và thực tiễn mang tính chất phức tạp, quan hệ đó có thể là  thống nhất hoặc mâu thuẫn đối lập. c. Lý luận và thực tiễn là thống nhất Lý luận và thực tiễn thống nhất khi giai cấp thống trị còn mang tinh thần   tiến bộ và còn giữ sứ mệnh lịch sử. Khi lý luận và thực tiễn thống nhất thì chúng  sẽ  tăng cường lẫn nhau và phát huy vai trò của nhau. Sự  thống nhất đó là một   trong những nguyên lý căn bản của triết học Mác­ Lênin. d. Sự mâu thuẫn của lý luận và thực tiễn Xảy ra khi giai cấp thống trị trở nên phản động, lỗi thời, lạc hậu. Khi mâu  thuẫn nảy sinh, chúng sẽ  làm giảm  ảnh hưởng của nhau. Điều đó dẫn đến mọi  đường lối, chính sách xã hội trở nên lạc hậu và phản động. *Ý nghĩa: Cần phải tăng cường, phát huy vai trò của lý luận đối với xã hội, đặc biệt   là lý luận xã hội mà quan trọng là lý luận Mác ­ Lênin và các lý luận về kinh tế. Trước chủ nghĩa Mác, trong lý luận nhận thức, phạm trù thực tiễn hầu như  không có chỗ đứng nào. Nhiều người còn hình dung thực tiễn với bộ mặt xấu xí   của con buôn (Phơ­Bách). Trong “Chủ  nghĩa duy vật và chủ  nghĩa kinh nghiệm   phê phán”, sau khi phê phán E. Ma Khơ và một số ngươi khác đã ”cố gạt thực tiễn  ra khỏi lý luận nhận thức, coi thực tiễn như một cái gì không đáng nghiên cứu về  mặt nhận thức luận, đã ”đem cái tiêu chuẩn thực tiễn là cái giúp cho mỗi người   Vò Ngäc Khoa  12
  13. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  phân biệt được ảo tưởng với hiện thực đặt ra ngoài giới hạn của khoa học, của  lý luận nhận thức... để dọn chỗ cho chủ nghĩa duy tâm và thuyết bất khả tri”.  V.I.Lênin đã khẳng định: quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan  điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức. (“V.I.Lênin toàn tập” – 1980) Chính vì sự quan trọng của mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn nên đối   với nước ta trong giai đoạn này cần đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và hoạt  động. Hiện nay, nước ta đang tiến hành đổi mới một cách toàn diện các mặt của   đời sống xã hội, mà trong đó đổi mới kinh tế là trung tâm. Đổi mới từ nền kinh tế  tập trung quan liêu sang nền kinh tế  thị  trường có sự  quản lý của Nhà nước là  một vấn đề  hết sức mới mẻ  chưa có lời giải đáp sẵn. Và chúng ta cũng không   bao giờ có thể có một lời giải sẵn sau đó mới đi vào tiến hành đổi mới. Quá trình   đổi mới nói chung, đổi mới kinh tế nói riêng và việc nhận thức quá trình đổi mới   đó không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau cùng phát triển. Vậy trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, phải xuất phát từ  thực tế  khách quan, phải lấy hiện thực khách quan làm cơ  sở  cho hoạt động của mình.   Gắn lý luận vào thực tiễn để  hoạt động trở  nên khoa học, có cơ  sở  vững chắc.   Tinh thần  ấy chính là vấn đề  cần nghiên cứu trong văn kiện Đại hội Đảng lần   thứ VI. e. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của   chủ nghĩa Mác­ Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng đẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý  luận mà không liên hệ  với thực tiễn là lý luận suông. Vì vậy cho nên trong khi  nhấn mạnh sự quan trọng của lý luận, đã nhiều lần Lênin nhắc đi nhắc lại rằng  lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nang cho hành động cách  mạng, và lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo. Lý  luận luôn luôn cần được bổ  sung bằng những kết luận mới rút ra từ  trong thực   tiễn sinh động. Những người cộng sản các nước phải cụ thể hoá chủ nghĩa Mác  Vò Ngäc Khoa  13
  14. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  _ Lênin cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh từng lúc và từng nơi (“Hồ  Chí   Minh: toàn tập”­1996) *Con đường biện chứng của sự nhận thức: Nhận thức của con người diễn ra trên cơ sở thực tiễn và không ngừng vận   động, phát triển. Sự vận động và phát triển của nhận thức diễn ra một cách biện  chứng: ­ “Từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng và từ tư duy trìu tượng đến  thực tiễn ­ đó là con đường biện chứng của sự  nhận thức chân lý, của sự  nhận   thức thực tại khách quan”. +Trực quan sinh động (hay nhận thức cảm tính) là giai đoạn đầu của quá  trình nhận thức, được hình thành trong quá trình thực tiễn.Giai đoạn này được  hình thành thông qua các hình thức cơ bản nối tiếp nhau: cảm giác, tri giác, biểu  tượng... +Tư  duy trì tượng (hay nhận thức lý tính) là giai đoạn cao của quá trình  nhận thức dựa trên cơ  sở  những tài liệu do giai đoạn trực quan sinh động mang   lại. ­ Nhận thức của con người phát triển đến giai đoạn tư duy trìu tượng chưa  phải là chấm dứt, mà nó lại tiếp tục vận động trở  về  với thực tiễn. Nhận thức   phải trở về với thực tiễn vì: + Mục đích của nhận thức là phục vụ hoạt động thực tiễn. Vì vậy nó phải  trở về chỉ đạo hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới.  +Đến giai đoạn tư  duy trìu tượng vẫn có khả  năng phản ánh sai lạc hiện  thực. Vì vậy, nhận thức phải quay trở  về  thực tiễn để  kiểm tra kết quả  nhận   thức, phân biệt đâu là nhận thức đúng, đâu là nhận thức sai lầm. +Thực tiễn luôn luôn vận động, phát triển. Vì vậy nhận thức phải trở  về  với thực tiễn để trên cơ sở thực tiễn mới tiếp tục bổ sung, phát triển nhận thức. Vò Ngäc Khoa  14
  15. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  ­ Từ trực quan sinh động dến tư duy trìu tượng, và từ tư duy trìu tượng đến   thực tiễn là một vòng khâu của quá trình nhận thức. Nó cứ lặp đi lặp lại làm cho   nhận thức của con người phát triển không ngừng, ngày càng phản ánh sâu sắc   bản chất, quy luật của thế giới khách quan.         Vò Ngäc Khoa  15
  16. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­   QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM I,VỊ TRÍ ĐỊA LÝ ­Việt Nam nằm ở phía đông của bán đảo Đông Dương, gần trung tâm Đông   Nam Á, có một vùng biển rộng, giàu tiềm năng.  ­Vị trí tiếp giáp trên đất liền và trên biển tạo điều kiện cho nước ta có thể  dễ dàng giao lưu với các nước trên thế giới. +Trên đất liền, nước ta giáp Trung Quốc, Lào, Campuchia. Thông qua các  tuyến giao thông (đường bộ, đường sắt...) với các cửa khẩu quan trọng, Việt   Nam có thể liên hệ với nhiều nước trên thế giới. + Nước ta nằm gần các tuyến đường biển quốc tế. Thông qua đường biển,   có thể quan hệ với nhiều quốc gia. +Vùng biển rộng lớn, giàu tiềm năng cho phép phát triển kinh tế biển. ­Việt Nam là nơi giao thoa của các nền văn hoá khác nhau. Điều đó góp   phần làm giàu bản sắc văn hoá.  ­Việt Nam nằm  ở khu vực đang diễn ra những hoạt động kinh tế sôi động   của thế giới. Từ đó cho phép nước ta có thể dễ dàng hội nhập với các nước trong  khu vực và trên thế  giới. Ta có thể  tiếp thu và chọn lọc những bài học, kinh   nghiệm thành công cũng như thất bại về phát triển kinh tế của các nước và vận  dụng vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta.  II, QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 1.Tình hình: ­ Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, dựa vào kinh nghiệm của các  nước xã hội chủ nghĩa lúc đó, nước ta bắt đầu xây dựng một mô hình kinh tế kế  hoạch hoá tập trung dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Các hình thức   tổ  chức sản xuất và dịch vụ  quốc doanh được phát triển. Cùng với quốc doanh,  hợp tác xã được tổ  chức rộng rãi  ở  nông thôn và thành thị. Với hai hình thức sở  hữu toàn dân và  tập thể, sở hữu tư nhân bị  thu hẹp lại, không còn cơ  sở  cho tư  Vò Ngäc Khoa  16
  17. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  nhân phát triển. Cùng với quốc doanh, hợp tác xã được tổ  chức rộng rãi vì ta đã   học tập được mô hình tổ chức kinh tế của Liên Xô cũ. Với sự nỗ lực cao độ của   nhân dân ta, cùng với sự  giúp đỡ  tận tình của các nước xã hội chủ  nghĩa lúc đó,  mô hình kế hoạch hoá tập trung đã phát huy được những tính ưu việt đó. ­ Từ  một nền kinh tế  nông nghiệp lạc hậu, phân tán và manh mún, bằng   công cụ kế hoạch hóa, ta đã tập trung được vào trong tay một lực lượng vật chất   quan trọng về cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng thành thị và nông thôn, đất  đai, máy móc, tiền vốn để ổn định và phát triển kinh tế. Vào những năm sau của thập niên 60,  ở  Miền Bắc đã có những chuyền  biến về kinh tế, xã hội. Trong thời kỳ đầu, nền kinh tế tập trung bao cấp đã tỏ ra  phù hợp với nền kinh tế tự cung, tự cấp, phù hợp với điều kiện hai nhiệm vụ sản   xuất và chiến đấu trong chiến tranh lúc đó. ­ Năm 1975, sau ngày giải phóng miền Nam, một bức tranh mới về  hiện   trạng kinh tế Việt Nam đã  thay đổi. Đó là sự  duy trì một nền kinh tế tồn tại cả  ba loại hình: +Kinh tế cổ truyền (tự cung tự cấp) +Kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp (ở miền Bắc) +Kinh tế thị trường  (đặc trưng ở miền Nam). Mặc dù đây là một tồn tại khách quan sau năm 1975 nhưng chúng ta vẫn  tiếp tục xây dựng nền kinh tế  tập trung theo cơ chế kế hoạch hoá trên phạm vi   cả nước. Đó là sự áp đặt rất bất lợi. 2. Hậu quả:  Do chủ  quan nóng vội, cứng nhắc, chúng ta đã không quản lý được hiệu   quả các nguồn lực dẫn tới việc sử dụng lãng phí nghiêm trọng các nguồn lực của  đất nước. ­ Tài nguyên bị  phá hoại, sử  dụng khai thác không hợp lý, môi trường bị ô  nhiễm.  Vò Ngäc Khoa  17
  18. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  ­ Nhà nước bao cấp và tiến hành bù lỗ phổ biến gây hậu quả nghiệm trọng  cho nền kinh tế. + Sự tăng trưởng kinh tế chậm lại, tăng trưởng kinh tế trên lý thuyết, giấy  tờ. +Hàng hoá, sản phẩm trở  nên khan hiếm, không đáp  ứng được nhu cầu  trong nước. +Ngân sách thâm hụt nặng nề. Vốn nợ đọng nước ngoài ngày càng tăng và  không có khả năng cho chi trả. +Thu nhập từ  nền kinh tế  quốc dân không đủ  chi dùng, tích luỹ  hầu như  không có. +Vốn đầu tư cho sản xuất và xây dựng chủ yếu là dựa vào vay và viện trợ  nước ngoài. ­ Cùng với đó là sự thoái hoá về mặt con người và xã hội. ­ Đến năm 1979, nền kinh tế  rất suy yếu, sản xuất trì trệ, đời sống nhân  dân khó khăn, nguồn trợ giúp từ bên ngoài giảm mạnh. ­ Từ năm 1975 đến năm 1985, các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, cá thể  bị tiêu diệt hoặc không còn điều kiện phát triển dẫn đến thực trạng tiềm năng to  lớn của các thành phần kinh tế này không được khai thác và phục vụ cho mục tiêu   chung của nền kinh tế. Ngược lại, thành phần kinh tế quốc doanh đã phát triển ồ  ạt, tràn lan trên mọi lĩnh vực trở thành địa vị đọc tôn trong hầu hết các ngành công  nghiệp, xây dựng, dịch vụ (trừ ngành nông nghiệp, thành phần kinh tế tập thể là  chủ  yếu).Thời điểm cao nhất, thànhphần kinh tế  quốc doanhđã cõ gần 13 nghìn  doanh nghiệp với số tài sản cố định chiếm 70% tổng số  tài sản cố  định của nền   kinh tế. Thời kỳ  này, kinh tế  nước ta tuy có đạt được tốc độ  tăng trưởng nhất   định nhưng sự  tăng trưởng đó không có cơ  sở  để  phát triển vì đã dựa vào điều  kiện bao cấp, bội chi ngân sách, lạm phát và vay nợ nước ngoài. ­ Do phát triển tràn lan lại quản lý theo cơ  chế  bao cấp, kế hoạch hoá tập   trung nên nhà nước gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý, điều hành các doanh  Vò Ngäc Khoa  18
  19. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  nghiệp quốc doanh, nhiều doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ, lực lượng   sản xuất không được giải phóng, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng và  tụt hậu. 3.Nguyên nhân Trong nhận thức cũng như  trong hành động, chúng ta chưa thật sự  thừa  nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần còn tồn tại trong thời gian tương đối dài,  chưa nắm vững và vận dụng đúng lý luận và thực tiễn vào tinh hình nước ta. Đến năm 1986, cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp về căn bản vẫn chưa bị  xoá bỏ. Cơ chế  mới chưa được thiết lập đồng bộ, nhiều chính sách, thể  chế  lỗi  thời chưa được  thay đổi. Tình trạng tập trung quan liêu còn nặng, đồng thời   những hiện tượng vô tổ chức, vô kỷ luật còn khá phổ biến. Việc đổi mới cơ chế và bộ máy quản lý, việc điều hành không nhạy bén, là  những nguyên nhân quan trọng dẫn   tới hành  động không thống nhất từ  trên   xuống dưới. Chúng ta mới nêu ra được phương hướng chủ  yếu của cơ  chế  mới, hình  thức, bước đi, cách làm cụ  thể  thì còn nhiều vấn đề  chưa giải quyết được thoả  đáng cả về lý luận và thực tiễn. 4. Tư tưởng chỉ đạo   Ta   đã   bộc   lộ   sự   lạc   hậu   về   nhận   thức   lý   luận   trong   thời   kỳ   quá   độ:”Khuynh hướng tư  tưởng chủ  yếu của những sai lầm  ấy,đặc biệt là những  chính sách kinh tế  là bệnh chủ  quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản   đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan” (Đảng công sản Việt nam ­ Văn   kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  VI­1986).  Chúng ta đã có những thành  kiến không đúng, trên thực tế, chưa thừa nhận thật sự  những quy luật của sản   xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan. Chúng ta đã ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách quá mức mà hiệu  quả  kinh tế  phát triển chậm. Hơn thế nữa, ta chưa chú ý đúng mức tới sản xuất   Vò Ngäc Khoa  19
  20. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  nông nghiệp và sản xuất hàng tiêu dùng nên đời sống nhân dân gặp nhiều khó   khăn. ­ Bên cạnh đó, sự tan rã của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa vào những   năm cuối thập kỷ  80, đầu thập kỷ  90 làm cho chúng ta mất đi một thị  trường  truyền thống, nguồn viện trợ quan trọng, gây nhiều khó khăn đối với sản xuất và   đời sống. ­ Chính sách cấm vận của Hoa Kỳ kéo dài, sự thù địch của các thế lực phản   động cũng có tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế ­ xã hội của đất nước. Tất cả  những nguyên nhân trên cộng với thiên tai, mất mùa liên tiếp vào  những năm 1979 ­ 1980 đã đưa nước ta vào tình trạng khủng hoảng, công nghiệp   chỉ  tăng 0,6%, nông nghiệp tăng 1,9% trong khi lạm phát  ở  mức siêu cấp năm  1986 : 74% Chính vì vậy, bài học kinh nghiệm được rút ra trong “ Văn kiện Đại hội   Đại biểu toàn quốc lần thứ VI về phát triển kinh tế  phải xuất phát từ  thực tiễn,  tôn trọng và hoạt động theo quy luật khách quan là hoàn toàn đúng đắn. Chính từ  những khó khăn trên đòi hỏi phải đổi mới nền kinh tế,  xã hội. Đại hội Đảng toàn  quốc lần thứ  VI đã đánh dấu một mốc phát triển quan trọng trong quá trình phát  triển của đất nước. III. BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT TÌNH HÌNH ĐỂ  PHÁT TRIỂN KINH  TẾ  Để  khắc phục khuyết điểm, chuyển biến được tình hình, Đảng ta trước   hết phải thay đổi nhận thức , đổi mới tư duy. Phải nhận thức và hành động đúng  đắn, đề  ra những chủ  trương, chính sách phù hợp với hệ  thống quy luật khách  quan, trong đó các quy luật đặc thù của chủ nghĩa xã hội ngày càng chi phối mạnh  mẽ phương hướng phát triển chung của xã hội. Mọi chủ trương, chính sách, biện  pháp kinh tế gây tác động ngược lại đều biểu hiện sự vận dụng không đúng quy  luật khách quan, phải được sửa đổi hoặc huỷ bỏ. Vò Ngäc Khoa  20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản