Tiểu luận Triết học: Tư tuởng Triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa - Tinh thần của người Việt

Chia sẻ: Hgfch Hgfch | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:29

1
363
lượt xem
204
download

Tiểu luận Triết học: Tư tuởng Triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa - Tinh thần của người Việt

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận Triết học "Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa - Tinh thần của người Việt" nhằm trình bày tiền đề sự xuất hiện của Phật giáo trong đó về điều kiện kinh tế, tự nhiên và xã hội của Ấn Độ, sơ lược về sự hình thành và phát triển của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa - tinh thần của người Việt.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận Triết học: Tư tuởng Triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa - Tinh thần của người Việt

  1. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt I. Giới thiệu Việt Nam là một nước nhỏ ở Đông Nam Á nhưng lại ấp ủ một nền văn hóa khá phong phú và đặc sắc, tại đó được dung hòa bởi nhiều hệ tư tưởng khác nhau bắt nguồn từ nhiều nền văn minh lớn trong khu vực như Trung Quốc và Ấn Độ. Từ những cái nôi này Nho gia, Đạo gia,.v.v…đã cùng với Phật giáo theo dòng lịch sử lần lượt tuôn chảy vào nền văn minh Đại Việt. Phật giáo –một triết lý đi sâu vào cái “khổ” đã tồn tại cùng dân Việt được gần 20 thế kỷ. Thời gian cứ trôi qua nhưng Phật giáo vẫn giữ được vai trò nhất định trong đời sống văn hóa tinh thần dân tộc. “Ở hiền gặp lạnh”, “ác lai ác báo”, “từ bi”, “hỷ xả”….rất nhiều và còn rất nhiều tư tưởng khác nữa đã được ông cha truyền từ đời này sang đời khác mãi đến tận hôm nay nhằm răn dạy cháu con biết tu nhơn tích đức sống hòa thuận lành mạnh… dần dần hình thành ở người Việt ta lòng yêu chuộng hòa bình, tình tương thân tương ái.. Cái “khổ” là gì? Nó xuất phát từ đâu? Làm thế nào để diệt “khổ”? Ngoài lý luận về cái “khổ” thì Phật giáo còn có các triết lý nào khác mà có thể tồn tại lâu dài đến vậy trong đời sống văn hóa tinh thần người Việt? Trả lời các câu hỏi này và việc đi sâu vào tìm hiểu Phật giáo, cũng như xem xét ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống tư tưởng văn hóa tinh thần của người Việt là hết sức quan trọng và cần thiết trong bối cảnh hiện nay do những lý do sau: - Việc hiểu biết sâu sắc hơn và rõ ràng hơn các tư tưởng Phật giáo giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn hơn và hoàn chỉnh hơn để tiếp tục phát huy những mặt tích cực và hạn chế các mặt tiêu cực của nền triết học này - Vấn đề xem xét ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống tư tưởng văn hóa tinh thần của dân tộc một mặt giúp chúng ta thấy được sự phong phú của đời sống tín ngưỡng của nhân dân đồng thời giúp nhân dân xây dựng đời sống tinh thần lành mạnh, hạn chế tệ nạn mê tín dị đoan do hiểu không đúng, không cặn kẽ về triết lý nhà Phật. Mặt khác sẽ giúp cấp quản lý xây dựng hoạch định chính sách tôn giáo phù hợp nhằm ổn định chính trị xã SV: N.A.Khoa Trang 1/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010
  2. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt hội, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, và xa hơn sẽ làm phong phú hơn nền văn minh nhân loại II. Tiền đề cho sự xuất hiện của Phật giáo II.1. Tiền đề về điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội của Ấn Độ Ấn Độ cổ là một đất nước rộng lớn thuộc bán đảo Nam Á. Khắp vùng từ Đông Bắc đến Tây Bắc núi non trùng điệp với dãy Himalaya nổi tiếng kéo dài 2600km. Dãy núi Vinđya phân chia Ấn Độ thành hai miền: Bắc và Nam. Miền Bắc có hai con sông lớn là sông Ấn ở phía Tây và sông Hằng ở phía Đông, chúng tạo nên hai đồng bằng màu mỡ -cái nôi của nền văn minh cổ Ấn Độ. Trước khi đổ ra biển, sông Ấn chia làm 5 nhánh, và biến lưu vực của mình thành đồng bằng Pungiap. Đối với người Ấn Độ, sông Hằng là dòng sông linh thiêng có thành phố Varanaddi (Bênaret) bên bờ; nơi đây, từ ngàn xưa, người Ấn Độ rất đa dạng và phức tạp với nhiều bộ tộc khác nhau, nhưng về chủng tộc, có hai loại chính là người Đraviđa cư trú chủ yếu ở miền Nam, và người Arya chủ yếu sông ở miền Bắc. Kinh tế tiểu nông nghiệp kết hợp với thủ công nghiệp gia đình mang tính tự cung, tự cấp, lấy gia đình, gia tộc của người Arya làm cơ sở, đã tạo nền tảng vững chắc cho các “công xã nông thôn “ ra đời và sớm được khẳng định.Trong mô hình “công xã nông thôn”, toàn bộ ruộng đất đều thuộc quyền sở hữu Nhà nước của các đế vương; Nhà nước kết hợp với tôn giáo thống trị nhân dân và bóc lột nông nô công xã; tôn giáo bao trùm mọi mặt đời sống xã hội; con người sống nặng về tâm linh tinh thần và khao khát được giải thoát. Cũng trong mô hình này đã hình thành 4 đẳng cấp với sự phân biệt hết sức khắc nghiệt và dai dẳng. Đó là: Tăng lữ -đẳng cấp cao quí nhất trong xã hội – bao gồm nhữn người hành nghề tế lễ; quí tộc –đẳng cấp thứ hai trong xã hội – bao gồm vua chúa, tướng lĩnh; bình dân tự do –đẳng cấp thứ ba trong xã hội – bao gồm những người có chút ít tài sản, ruộng đất; Tiện nô hay nô lệ -đẳng cấp thấp nhất và đông đảo nhất –bao gồm những người tận cùng không có SV: N.A.Khoa Trang 2/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010
  3. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt quyền lợi gì trong xã hội. Ngoài sự phân biệt đẳng cấp như trên, xã hội Ấn Độ cổ đại còn có sự phân biệt về chủng tộc, dòng dõi, tôn giáo, nghề nghiệp… Những sự phân biệt này đã tạo ra những xung đột ngấm ngầm trong xã hội nhưng bị kìm giữ bởi sức mạnh vật chất và tinh thần của Nhà nước –tôn giáo. Xã hội vận động, phát triển một cách chậm chạp và nặng nề. II.2. Tiền đề lý luận (các trường phái triết học Ấn Độ cổ và trung đại) Nhìn chung các tư tưởng trong Upanisad là mạch suối ngầm phát nguyên ra các dòng chảy của các trường phái triết học Ấn Độ gồm có: - Tư tưởng về brátman, nghiệp báo, luân hồi, số kiếp - Tư tưởng về tính bất biến của chế độ đẳng cấp - Tư tưởng về thượng trí và hạ trí Upanisad Các trường phái triết học Ấn Độ cổ-trung đại Các trường phái chính thống Các trường phái không chính thống Đó thường là giáo lý của các tôn giáo lý giải đời sống tâm linh, tìm kiếm sức mạnh của linh hồn con người và nền triết học này mang tính duy tâm chủ quan và thần bí. Bên cạnh đó nó cũng mang tính thâm trầm, đồ sộ, nó đã đặt ra và cố giải quyết nhiều vấn đề, song những vấn đề được ưu tiên giải quyết là nhóm thuộc về nhân sinh, nhằm tìm kiếm con đường giải thoát chúng sinh ra khỏi thực tế xã hội đẳng cấp khắc nghiệt của Ấn Độ cổ-trung đại. SV: N.A.Khoa Trang 3/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010
  4. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt III. Phật giáo Phật giáo là một trường phái triết học-tôn giáo lớn của nền văn hóa Ấn Độ cổ đại. Nó ảnh hưởng rộng rãi và lâu dài đến đời sống tinh thần của nhiều dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam III.1. Sơ lược sự hình thành và phát triển Phật giáo Theo truyền thuyết, người sáng lập ra Phật giáo là Xítđácta Gôtama (Siddhartha Gautama, 563-483 trCN), con vua Sutđôđana (Suddhodana), thuộc bộ tộc Thích Ca (Shakya) của nước Capilavaxu- Một nước nhỏ ở miền Đông –Bắc Ấn Độ, nằm dưới chân dãy Himalaya, nay thuộc đất Nêpan. Năm 29 tuổi, Thái tử Xítđácta xuất gia đi tu để tìm kiếm con đường cứu vớt những nỗi khổ của loài người. Nhưng qua 7 năm, theo các bậc chân tu khổ hạnh của truyền thống tu luyện Ân Độ mà Ngài vẫn chưa tìm ra chân lý. Cuối cùng, Ngài lang thang đến cánh rừng thiêng Uravela (Gaya, thuộc tỉnh Bihar, miền Bắc Ấn Độ) và ngồi thiềng dưới gốc cây bồ đề. Sau 3 ngày đêm suy ngẫm, Ngài phát hiện ra bản tính “vô ngã”, “vô thường” của thế giới. Ngài tiếp tục ngồi dưới gốc cây bồ đề thêm 49 ngày nữa để chiêm nghiệm tâm linh và giải thích thấu đáo bản chất của tồn tại, nguồn gốc của mọi khổ đau. Ngài cho rằng mình đã tìm được con đường cứu vớt chúng sinh. Từ đó trở đi, người ta gọi Ngày là “Phật” (Buddha), nghĩa là “người đã giác ngộ - thấu hiểu chân lý”. Sau khi thành Phật, Ngài xây dựng “Giáo đoàn Phật giáo” để rao giảng giáo lý của mình và được đệ tử tôn xưng là “Thích Ca Mâuni” – nghĩa là bậc hiền triết của dòng tộc Thích Ca. Đầu thế kỷ I, đạo Phật triệu tập đại hội 4 ở nước Cusan để thông qua giáo lý của đạo Phật cải cách gọi là “Đại thừa”, còn giáo lý của đạo Phật cũ gọi là “Tiểu thừa”. “Kinh điển” của Phật giáo có khỏang 5000 quyển chia thành “tam tạng”. Tạng Kinh ghi lại những lời giảng của Phật Thích ca nhằm giúp chúng sinh loại trừ phiền não, đạt đến niết bàn. Tạng Luật ghi lại những giới luật đòi hỏi các đệ tử phải tuân theo để cho thân-tâm thanh tịnh.Tạng Luận ghi lại những lời bàn của các bậc cao tăng, trưởng lão nhằm làm sáng tỏ SV: N.A.Khoa Trang 4/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010
  5. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt ý nghĩa của những lời kinh, giúp người đời phân biệt được phải –trái, chính – tà.Tam tạng lại chia làm hai loại là Đại thừa và Tiểu thừa. Tiểu thừa: như là một cỗ xe nhỏ, con đường cứu vớt hẹp. Phái tiểu thừa cho rằng: chỉ có một Phật duy nhất là Phật Thích Ca, và chỉ có Phật Thích Ca mới cứu độ chúng sinh được; chỉ có những người xuất gia đi tu mới được Phật Thích Ca cứu vớt đưa đến Niết bàn –cảnh giới yên tĩnh gắn liền với giác ngộ sáng suốt, không có phiền não khổ đau. Đại thừa: như là một cỗ xe lớn, con đường cứu vớt rộng. Phái đại thừa cho rằng: Phật Thích Ca là Phật cao nhất, ngoài ra còn các Phật khác như Phật A Di Đà –vị Phật hiện đang giáo hóa ở cõi cực lạc phương Tây, Phật Di Lặc – vị Phật tương lai sẽ nối nghiệp Phật Thích Ca để giáo hóa cõi đời này (cõi Tabà), Phật Đại Dược Sư –vị Phật hiện đang giáo hóa ở cõi cực lạc phương Đông (cõi Tĩnh lưu li); không chỉ có những người tu hành mà cả những người trần tục quy y Phật pháp cũng đều có thể được cứu vớt đưa đến niết bàn, nghĩa là có thể thành Phật, đó là các vị Bồ tát như: Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm, Địa Tạng…, dù đã thành Phật nhưng họ tự nguyện ở lại cõi trần để cứu độ chúng sinh. Phái đại thừa đề cao tầng lớp tăng ni –người trung gian giữa tín đồ và Bồ tát, coi trọng nghi thức cúng bái và chủ trương thờ tượng Phật. Ngày nay, sự chia rẽ giáo lý tiểu thừa và đại thừa đã được Phật giáo thống nhất ra sức khắc phục. III.2. Một số tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo nguyên thủy Tư tưởng triết học của Phật giáo nguyên thủy –tức tư tưởng của Phật Thích Ca –chủ yếu nói về thế giới quan và nhân sinh quan của Phật Thích Ca, và được trình bày trong bộ Kinh. A. Thế giới quan Thế giới quan của Phật giáo nguyên thủy được phản ánh trong thuyết “duyên khởi” và được làm sáng tỏ qua phạm trù “vô ngã” và “vô thường” Duyên khởi: là nói tắt câu “Chư pháp do nhân duyên nhi khởi” có nghĩa là các “pháp” đều do “nhân duyên” mà có. Pháp là tất cả mọi sự vật, SV: N.A.Khoa Trang 5/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010
  6. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt bao gồm cả vật chất và tinh thần, kể cả giáo lý. Còn “nhân duyên” là nguyên nhân và điều kiện. “Duyên” giúp cho “nhân” biến thành “quả”. Phật giáo cho rằng mọi sự vật, hiện tượng đều do “nhân duyên” hòa hợp mà thành. Duyên khởi từ “tâm” mà ra. “Tâm” là cội nguồn của vạn vật. Từ đây, Phật giáo nguyên thủy chủ trương “vô tạo giả” tức không có vị thần linh tối cao nào tạo ra thế giới. “Vô tạo giả” gắn liền với quan niệm “vô ngã”, “vô thường”. Vô ngã: là không có một thực thể tối thượng tồn tại vĩnh hằng nào cả. Trong thế giới, vạn vật và con người được cấu tạo từ các yếu tố “sắc” , tức vật chất như đất, nước, lửa, gió và “danh”, tức tinh thần như: thụ, tưởng, hành, thức mà không có “đại ngã” hay “tiểu ngã” gì cả. Vô thường: là không có cái gì trường tồn và vĩnh cửu cả. Trong thế giới, sự xuất hiện của vạn vật, kể cả con người cũng chỉ là kết quả hội tụ tạm thời giữa “sắc” và “danh”; khi sắc và danh tan ra, chúng sẽ mất đi. Điều này có nghĩa là, vạn vật luôn nằm trong chu trình “sinh –trụ -dị -diệt”; chúng luôn bị cuốn vào dòng biến hóa hư ảo vô cùng theo luật nhân quả. “Nhân” nhờ “duyên” mới sỉnh ra “quả”, “quả” nhờ “duyên” mà thành “nhân” mới, “nhân” mới lại nhờ “duyên” mà thành “quả” mới…; cứ như thế vạn vật biến đổi, hợp –tan, tan –hợp mà không có nguyên nhân đầu tiên và kết quả cuối cùng nào cả. Như vậy, thế giới quan của Phật giáo nguyên thủy mang tính vô thần, nhị nguyên luận ngả về phía duy tâm chủ quan và có chứa những tư tưởng biện chứng chất phác. B. Nhân sinh quan: Nhân sinh quan là nội dung chủ yếu của triết lý Phật giáo nguyên thủy. Nó thể hiện cô đọng trong câu nói của Phật Thích Ca: “ Hỡi chúng sinh, ta chỉ dạy cho các người chỉ có một điều, đó là điều khổ và diệt khổ; Nếu nước biển có một vị là vị mặn thì học thuyết của ta cũng có một vị là vị giải thoát. Nhân sinh quan của Phật giáo được trình bày trong thuyết “Tứ diệu đế” với bốn bộ phận: khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế. SV: N.A.Khoa Trang 6/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010
  7. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt a. Khổ đế ((Duhkka satya): Là lý luận về những nỗi khỗ rõ ràng ở thế gian. Theo Phật có 8 nỗi khổ trầm luân bất tận mà bất cứ ai cũng phải gánh chịu là: sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, sở cầu bất đắc khổ, oán tăng hội khổ), ngũ uẩn khổ (sự hội tụ và xung đột của ngũ uẩn –sắc, thụ, tưởng, hành, thức). 1. Sắc uẩn: Tổng thể của vật chất, có tính cách chướng ngại, trước hết là bốn nguyên tố Địa, Thủy, Hỏa, Phong, sau là do sự kết hợp của bốn nguyên tố thành ngũ quan là Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân và đối cảnh của ngũ quan là ngũ trần: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc. 2. Thụ uẩn : Sự cảm thụ của ngũ căn đối với ngũ trần sinh ra mọi cảm giác như khổ, sướng, vui, buồn... 3. Tưởng uẩn: Sự tưởng tượng và tư duy về hình dáng của sự vật, sau tác dụng của căn đối với cảnh. 4. Hành uẩn: Sự quan hệ tác dụng của tâm và tâm bất tương ứng hành, khởi ra mọi hành động thiện, ác. 5. Thức uẩn:Thức uẩn là tác dụng của tinh thần, để nhận thức và phân biệt mọi trạng thái của tâm đối với cảnh, tức là ý thức, bản thể của tâm. b. Nhân đế: (Samudaya satya) Là lý luận về những nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ nơi cuộc sống con người. Phật giáo cho rằng con người còn chìm đắm trong bể khổ khi không thoát ra khỏi dòng sông luân hồi. Mà luân hồi là do “nghiệp” tạo ra. Sở dĩ có “ nghiệp” là do lòng ham muốn, tham lam (ham sống, ham lạc thú, ham giàu sang…), do sự ngu dốt và si mê, nói ngắn gọn là do “Tam độc” (tham, sân, si) gây ra. Ngoài ra, nhân đế được diễn giải một cách lôgích và cụ thể trong thuyết “Thập nhị nhân duyên” (12 nguyên nhân dẫn đến bể khổ): vô minh, hành, thức, danh –sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão –tử. Trong 12 nguyên nhân ấy thì “vô minh” là nguyên nhân thâu tóm tất cả. Vì vậy, diệt trừ vô minh là diệt trừ tận gốc sự đau khổ nhân sinh. SV: N.A.Khoa Trang 7/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010
  8. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt Thế giới vạn hữu hết thảy đều y vào sự quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả mà sinh hay diệt, ngay cả đến sự tượng nhỏ bé li ti chăng nữa cũng không tránh khỏi luật nhân quả. Con người vì sinh trong thế giới vô thường, nên tất cả mọi sinh hoạt của con người thường gặp những điều không như ý, nhiều khổ não. Tất cả mọi hiện tượng khổ não không phải là ngẫu nhiên, mà đều lệ thuộc vào Tập nhân rồi theo luật nhân quả chi phối. Tập nhân tức là “vô minh”, vì y vào vô minh nên sinh ra chấp trước, vì chấp trước sinh ra dục vọng, tạo thành các nghiệp ác về Thân, Khẩu, Ý và các nghiệp khác, nên trở thành “nghiệp”. Nghiệp (Karma) tức là nghiệp lực, nó có cái sức tích tập, nên trở thành nghiệp nhân, các nghiệp tương ứng với nghiệp nhân gọi là nghiệp quả, đưa đến khổ báo, gây thành khổ quả. Tóm lại, cận nhân của quả khổ là nghiệp, và viễn nhân của quả khổ là vô minh, hay là “hoặc”. Mười hai nhân duyên là giáo lý nội quán của Đức Phật khi thành đạo. Sau khi thành đạo, Ngài căn cứ vào lẽ sinh khởi của khổ giới là Khổ đế và Nhân đế mà lần lượt nói ra sự nhân quả quan hệ của nó có mười hai thứ, được gọi là mười hai duyên khởi. Đối với giáo lý của Phật giáo, mười hai nhân duyên chiếm một vị trí rất quan trọng. Khổ, Hoặc và Nghiệp cũng quan hệ lẫn nhau, nên tạo thành một vòng tròn tuần hoàn không ngừng, mười hai nhân duyên cũng nương vào nhau để tạo nhân kết quả, chắp thành mối dây liên lạc vô cùng vô tận. c. Diệt đế (Nirodha satya): Là lý luận về khả năng tiêu diệt được nỗi khổ nơi cuộc sống thế gian để đạt tới niết bàn. Khi vô minh được khắc phục thì tam độc sẽ biến mất, luân hôì sẽ chấm dứt…, tâm sẽ thanh thản, thần sẽ minh mẫn, niết bàn sẽ xuất hiện… Diệt đế bộc lộ tinh thần lạc quan của Phật giáo ở chỗ nó vạch ra cho moị người thấy cái hiện taị đen tối, xấu xa của mình, để cải đổi, kiến tạo laị nó thành một cuộc sống xán lạn, tốt đẹp hơn. Phật giáo thể hiện khát vọng nhân bản, muốn hướng con người đến cõi hạnh phúc “tuyệt đối”, muốn hướng khát vọng chân chính của con người tới chân –thiện –mỹ. SV: N.A.Khoa Trang 8/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010
  9. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt Diệt đế là Giải thoát luận, và cũng là Lý tưởng luận của Phật giáo. Khổ đế và Nhân đế là nguyên nhân và kết quả của khổ não. Diệt đế là phương pháp diệt trừ khổ quả và khổ nhân, đưa chúng sinh tới chỗ Niết-bàn thường trụ. Căn cứ vào giáo lý của Đức Phật, thì khổ quả của con người là do nghiệp làm cận nhân, nghiệp nương vào hoặc mà sinh, hoặc lấy vô minh làm nguyên nhân căn bản. Từ vô minh sinh ra ngã tưởng, y vào ngã tưởng sinh ra chấp trước, nhận thế giới vô thường là thực tại, nên sinh ra vọng tưởng, vọng tưởng là cơ bản để sinh ra mọi phiền não, gây ra mọi nghiệp nhân, tạo thành cái quả khổ sinh tử. Vì vậy, nếu muốn diệt khổ quả, trước hết phải đừng tạo nghiệp nhân, muốn không tạo nghiệp nhân, trước hết cần phải diệt ngã tưởng. Ngã tưởng đã đoạn, thì nhận được chân tướng của thế giới là “Bản lai vô ngã”. Biết được chân tướng của thế giới là Bản lai vô ngã, tức là ngã tưởng đoạn diệt, cắt đứt được xiềng xích luân hồi, thoát mọi khổ não trong bể sinh tử, không bị luân hồi trong lục thú, tới chốn giải thoát Niết-bàn, đó là Diệt đế. d. Đạo đế (Màrga satya).: Là lý luận về con đường diệt khỏ, giải thoát. Nội dung cơ bản của nó thể hiện trong thuyết “ Bát chính đạo” (tám con đường đúng đắn) đưa chúng sinh đến niết bàn, đó là: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tấn, chính niệm, chính định. Chung quy, bát chính đạo là suy nghĩ, nói năng, hành động đúng đắn…; nhưng về thực chất, thực hành bát chính đạo là khắc phục “tam độc” bằng các thực hiện “tam học (giới, định, tuệ). Trong đó, “tham” được khắc phục bằng “giới” (chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh); “sân” được khắc phục bằng “định” (chính tinh tấn, chính niệm, chính mệnh); “si” được khắc phục bằng “tuệ” (chính kiến, chính tư duy). 1. Giới (Sila). - Ý nghĩa của giới là sự tích cực làm điều thiện, ngăn điều ác, để tránh mọi lỗi lầm của ba nghiệp: Thân, Khẩu, Ý. Tại gia Phật tử thì giữ các điều giới là Ngũ giới và Thập thiện. Ngũ giới: Không được sát sinh; không được trộm cắp; không được tà dâm; không được uống rượu; và không được vọng ngữ. SV: N.A.Khoa Trang 9/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010
  10. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt Thập thiện.:Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, là ba thiện nghiệp thuộc về thân nghiệp; không nói dối, không nói lưỡi đôi chiều, không ác khẩu, không nói thêu dệt, là bốn thiện nghiệp thuộc khẩu nghiệp; không tham, không sân, không tà kiến, ba thiện nghiệp này thuộc về ý nghiệp. 2. Định (Samàdhi)Định còn gọi là Đẳng trì, hay là Thiền-na . Tâm tập trung vào một cảnh, không để cho tán loạn, không thiên về lạc quan hay bi quan, thân tâm khinh an, quán suốt mọi pháp, để phát sinh ra trí tuệ vô lậu. 3.Tuệ (Prajnà). - Nhờ ở kết quả của tu định, dần dần chân tâm được sáng tỏ, trí tuệ đại vô lậu được hiển hiện, phân biệt được phần tự tướng tính đặc hữu và cộng tướng (tính cộng thông) của mọi pháp, chứng ngộ được lý Tứ đế, đoạn trừ được mọi hoặc Sau hết là phép tu tổng quát cho tất cả các hàng Phật tử là Lục độ tức là Bố thí,Trì giới, Nhẫn nhục,Tinh tiến, Thiền định, Trí tuệ Ngoài ra, Phật giáo còn khuyên chúng sinh thực hành “Ngũ giới” (không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không ẩm tửu); rèn luyện “Tứ đẳng” (từ, bi, hỉ, xả)…Phật giáo phản đối chế độ đẳng cấp, tố cáo xã hội bất công, đòi bình đẳng công bằng xã hội, khuyên chúng sinh luôn suy nghĩ về điều thiện và làm điều thiện… Ý nghĩa niết bàn: (Nirvàna) –có nghĩa là diệt độ. Tức là đã đoạn diệt hết mọi khổ sinh tử tới cõi hoàn toàn yên vui giải thoát. Nguyên lai ý nghĩa đó có hai phương diện là tiêu cực và tích cực. Cần phải đoạn hết phiền não là nghĩa tiêu cực, cần phải đạt tới chỗ an lạc giải thoát là nghĩa tích cực. Vậy bậc tu hành đã chứng tới Niết-bàn, thời không còn phải sinh tử, tới chốn đại an lạc. Niết-bàn còn có nghĩa là hết mọi vọng động tới chỗ tịch tĩnh, lìa mọi pháp hữu vi tới chỗ vô vi, lìa mọi hư vọng tới chỗ chân như, lìa mọi giả tướng tới chỗ thực tướng, siêu việt mọi nghĩa đoạn thường của thế gian tới chỗ trung đạo, vượt mọi ngã và phi ngã của thế gian thường kiến tới chỗ chân ngã. Người đời thường ngộ nhận về nghĩa Niết-bàn là hư vô, là tiêu cực. Nhưng thực ra chỉ vì người đời ngộ nhận, chấp trước vào mọi hiện tượng sinh SV: N.A.Khoa Trang 10/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010
  11. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt diệt biến hóa ở thế gian, nhận là thực hữu, vì mục đích phá ngộ nhận đó, nên Đức Phật nói có Niết-bàn. Như vậy, Niết-bàn không phải là nghĩa tiêu cực, hư vô, mà là nghĩa tích cực, chân thật. Tức là, đối với thường thì thường trụ, đối với Khổ là Lạc, đối với Ngã là Chân ngã, đối với Bất tịnh là Thanh tịnh, đối với Hư vọng là Chân thực, đối với Sai biệt là Bình đẳng, đối với Hiện tượng là Bản thể thực tại. Tóm lại, Niết-bàn phải là cái đích tối cao, để con người quy y, là nơi an lạc cho từng cá nhân, nơi hiệp đồng trụ xứ cho trăm ngàn vạn người, cho toàn thể chúng sinh. Như vậy, dù nhân sinh quan của Phật giáo nguyên thủy mang tính nhân bản sâu sắc; nhưng, nó cũng chứa đầy tinh chất duy tâm chủ quan thể hiện qua các quan niệm bi quan yếm thế, không tưởng về đời sống xã hội, và thần bí về đời sống con người. III.3. Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đến xã hội Ấn Độ cổ -trung đại Xã hội Ấn Độ thời kỳ này chịu ảnh hưởng của chế độ phân chia đẳng cấp và chủng tộc. Tầng lớp thống trị gồm Tăng lữ và quí tộc đã sử dụng công cụ tinh thần của mình là đạo Bàlamôn và sức mạnh vật chất tiến hành thống trị xã hội. Tầng lớp bị trị gồm người bình dân và đặc biệt là nô lệ chiếm một tỷ lệ rất lớn trong xã hội. Họ không có sức mạnh vật chất để tiến hành cách mạng giải phóng bản thân. Họ bi ru ngủ bởi các tư tưởng giáo lý của đạo Bàlamôn và mất đi sức mạnh về tinh thần và thật sự lún sâu dưới đáy xã hội. Nhằm đáp ứng đơn đặt hàng của lịch sử, Phật giáo xuất hiện và cố gắng trở thành công cụ tinh thần nhằm giúp cho tầng lớp bình dân và nô lệ thoát khỏi sự thống trị hiện tại. Triết lý Phật giáo xét cho cùng cũng là lý luận về cái “khổ” tìm hiểu về cái khổ và đưa ra cách diệt khổ. Nhờ có Phật giáo mà các giai cấp bị trị trong xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ đã có thể giải phóng ít nhất về mặt tinh thần. Tuy nhiên Phật giáo chỉ đưa ra các lý luận về tinh thần giúp con người thoát khỏi “bể khổ”, nhưng lại không đưa ra đường lối đấu tranh bằng sức mạnh vật chất nên bản thân các tầng lớp bị trị vẫn chưa thoát ra khỏi sự áp bức bóc lột của tăng lữ và vua chúa. SV: N.A.Khoa Trang 11/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010
  12. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt Với chủ trương bình đẳng, xóa bỏ giai cấp, triết học Phật giáo đã được tầng lớp bình dân và nô lệ đón nhận nồng nhiệt và phát triển nó đặc biệt là ở khu phía Đông Ấn Độ. Các tầng lớp này đã tìm thất được sức mạnh tinh thần cùng với cơ sở vật chất tích lũy được nhằm cố gắng xóa bỏ sự bất bình đẳng trong xã hội lúc bấy giờ. Tuy nhiên sau một thời gian tồn tại khá lâu, thì triết học Phật giáo nguyên thủy đã không đáp ứng được yêu cầu mà thời đại tại Ấn Độ đặt ra nên đã dần mai một và biến mất khỏi Ấn Độ. Tuy nhiên, nó vẫn được truyền bá sang các nước Đông Á và Đông Nam Á và lưu truyền đến ngày hôm nay, đặc biệt là tại Việt Nam. IV. Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt IV.1. Khái quát lịch sử Phật giáo Việt Nam Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, ngay từ đầu Công nguyên với truyện cổ tích Chử Đồng Tử (ở Hưng Yên ngày nay) học đạo của một nhà sư Ấn Độ. Luy Lâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh) là trị sở của quận Giao Chỉ sớm trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng. Do tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ nên từ Buddha (bậc giác ngộ) được phiên âm trực tiếp thành "Bụt", từ "Bụt" được dùng nhiều trong các truyện dân gian. Phật giáo Việt Nam lúc ấy mang màu sắc của Tiểu thừa, Bụt được coi như một vị thần chuyên cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu. Sau này, vào thế kỷ thứ 4-5, do ảnh hưởng của Đại thừa đến từ Trung Quốc mà từ "Bụt" bị mất đi và được thay thế bởi từ "Phật". Trong tiếng Hán, từ Buddha được phiên âm thành "Phật đà", "Phật đồ" rồi được rút gọn thành "Phật". Lịch sử Phật giáo Việt Nam có thể chia thành bốn giai đoạn: - Từ đầu công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc là giai đoạn hình thành và phát triển rộng khắp - Thời Nhà Lý - Nhà Trần là giai đoạn cực thịnh - Từ đời Hậu Lê đến cuối thế kỷ 19 là giai đoạn suy thoái - Từ đầu thế kỷ 20 đến nay là giai đoạn phục hưng. SV: N.A.Khoa Trang 12/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010
  13. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt Khi Phật giáo được truyền vào Việt Nam đã được các vị thiền sư người Việt bản địa hóa, khiến Phật giáo hòa mình vào lòng dân tộc tạo nên một sắc thái đặc biệt của riêng Việt Nam. Dù được bản địa hóa để quyện mình vào lòng dân tộc nhưng tam tạng kinh điển Phật giáo Việt Nam vẫn được truyền thừa trong suốt hơn 2000 năm lịch sử Phật giáo Việt Nam. IV.2. Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt 1..Ảnh hưởng của Phật giáo đến tư tưởng triết học và đạo lý a. Ảnh hưởng của Phật giáo đến tư tưởng triết học của dân tộc Tư tưởng căn bản của Phật Giáo là đạo lý Duyên Khởi, Tứ Diệu Đế và Bát chánh đạo. Ba đạo lý này là nền tảng cho tất cả các tông phái Phật giáo nguyên thủy cũng như Đại Thừa đã ăn sâu vào lòng của người dân Việt. Có thể nói mọi người dân Việt đều ảnh hưởng ít nhiều qua giáo lý này. Vì thế, lý nghiệp báo luân hồi đã in dấu đậm nét trong văn chương bình dân, trong văn học chữ nôm, chữ hán, từ xưa cho đến nay để dẫn dắt từng thế hệ con người biết soi sáng tâm trí mình vào lý nhân quả nghiệp báo mà hành động sao cho tốt đẹp đem lại hòa bình an vui cho con người. Mặt khác họ hiểu rằng nghiệp nhân không phải là định nghiệp mà có thể làm thay đổi, do đó họ tự biết sửa chữa, tu tập cải ác tùng thiện. Sống ở đời, đột nhiên những tai họa, biến cố xảy ra cho họ, thì họ nghĩ rằng kiếp trước mình vụng đường tu nên mới gặp khổ nạn này. Không than trời trách đất, cam chịu và tự cố gắng tu tỉnh để chuyển hóa dần ác nghiệp kia. Như Nguyễn Du đã viết: “Cho hay muôn sự tại trời. Trời kia đã bắt làm người có thân. Bắt phong trần phải phong trần. Cho thanh cao mới được phần thanh cao” “Có trời mà cũng có ta. Tu là cội phúc, tình là dây oan ” Nếu ta nắm vững nguyên tắc nhân quả nghiệp báo như trên, thì chúng ta có thể chuyển nghiệp ngay trong hiện kiếp. Khởi đầu của việc chuyển nghiệp là bắt đầu thay đổi hành nghiệp thiện và ác từ ba nghiệp Thân, Khẩu SV: N.A.Khoa Trang 13/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010
  14. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt và Ý của chính mỗi cá nhân. Hành nghiệp thiện, giảm bớt điều ác, dần dần ta sẽ chuyển hóa và tạo cho ta có một cuộc sống yên vui cho hiện tại và mai sau. b. Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đến nền đạo lý dân tộc Giáo lý từ bi, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh của Phật giáo đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn của người Việt. Như Nguyễn Trãi: « Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn. Đem chí nhân để thay cường bạo » « Thần vũ chẳng giết hại. Thuận lòng trời ta mở đường hiều sinh » Tinh thần thương người này đã biến thành ca dao tục ngữ rất phổ biến trong quần chúng Việt Nam như "lá lành đùm lá rách", hay: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng” Đó là những câu ca dao, tục ngữ mà bất cứ người Việt Nam nào cũng đều thấm nhuần và thuộc nằm lòng, nói lên lòng nhân ái vị tha của dân tộc. Ngoài đạo lý Từ Bi, người Việt còn chịu ảnh hưởng sâu sắc một đạo lý khác của Phật giáo là đạo lý Tứ Ân, gồm: ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân chúng sanh. Đạo lý này được xây dựng theo một trình tự phù hợp với bước phát triển của tâm lý về tình cảm của dân tộc Việt. Tình thương ở mọi người bắt đầu từ thân đến xa, từ tình thương cha mẹ, họ hàng lan dần đến tình thương trong các mối quan hệ xã hội với thầy bạn, đồng bào quê hương đất nước và mở rộng đến cuộc sống của nhân loại trên vũ trụ này. Đặc biệt trong đạo lý tứ ân, ta thấy ân cha mẹ là nổi bật và ảnh hưởng rất sâu đậm trong tình cảm và đạo lý của người Việt. Vì đạo Phật rất chú trọng đến hiếu hạnh, và Đức Phật đã thuyết giảng đề tài này trong nhiều kinh khác nhau như Kinh Báo Phụ Mẫu Ân, kinh Thai Cốt, kinh Hiếu Tử, kinh Nhẫn Nhục, kinh Vu Lan.. nhắc đến công lao dưỡng dục của cha mẹ, Phật dạy: "muôn việc ở thế gian, không gì hơn công ơn nuôi dưỡng lớn lao của cha mẹ" (Kinh Thai Cốt), hay kinh Nhẫn Nhục dạy: "cùng tốt điều thiện không gì hơn hiếu, cùng tốt điều ác không gì hơn bất hiếu". Bởi Phật Giáo đặc biệt chú trọng chữ hiếu như thế nên thích hợp với nếp sống đạo lý truyền thống của dân tộc Việt. SV: N.A.Khoa Trang 14/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010
  15. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt Nhìn chung, đạo lý hiếu ân trong ý nghĩa mở rộng có cùng một đối tượng thực hiện là nhắm vào người thân, cha mẹ, đất nước, nhân dân , vũ trụ, đó là môi trường sống của chúng sanh gồm cả mặt tâm linh nữa. Đạo lý Tứ Ân còn có chung động cơ thúc đẩy là Từ Bi, Hỷ Xã khiến cho ta sống hài hòa với xã hội, với thiên nhiên để tiến đến hạnh phúc chân thực và niên trường. Từ cơ sở tư tưởng triết học và đạo lý trên đã giúp cho Phật Giáo hình thành được một bản sắc đặc thù rất riêng tại Việt Nam, góp phần làm phong phú và đa dạng hóa nền văn hóa tinh thần của dân tộc Việt. 2. Ảnh hưởng của thuyết nhân quả: Nói đến giáo lý nhân quả là nói đến một quy luật tất yếu của nhân sanh và vũ trụ. Nó không chỉ dành riêng cho những người tu sĩ hay cho những tín đồ Phật giáo mà còn dành chung cho toàn xã hội. Điều này đã khiến cho Phật giáo có được những ảnh hưởng sâu sắc đối với gia giáo cổ truyền của người Việt trong xã hội trước đây. Không biết từ bao giờ, con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã biết đến tính chất nhân quả như một nếp sống đạo đức được thiết lập từ bên trong gia đình cho đến ngoài xã hội. Phải chăng cha ông ta đã tiếp nhận những điều hay lẽ phải trong tinh thần cầu tiến để phục vụ cho cuộc sống của nhân dân. Vả lại, giáo lý nhân quả lại rất phù hợp với bản chất con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, một dân tộc vốn hiền hòa dễ mến. Đất nước Việt Nam, một trong những đất nước nằm trong nền văn hóa chung của khu vực Đông Nam Á, đó là nền văn hóa lúa nước. Do vậy, cuộc sống sinh hoạt xã hội Việt Nam lúc bấy giờ dường như gắn liền với thiên nhiên, gắn liền với những lễ hội sinh hoạt cộng đồng. Con người luôn đặt niềm tin và hy vọng vào sự chở che và giúp đỡ của một đấng thần linh nào đó. Trên quan niệm đó, trong xã hội đã bắt đầu có sự xuất hiện của những khái niệm về các vị thần linh như: thần mưa, thần gió, thần sông, thần biển, thiên lôi, hà bá…Nên một khi nói điều gì, làm một việc gì con người hết sức dè dặt và cẩn trọng trước sự uy hiếp vô hình của các đấng thần linh. Nhờ SV: N.A.Khoa Trang 15/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010
  16. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt vậy, con người đã biết chọn lựa những cái hay cái đẹp xử sự lẫn nhau, lấy cái thiện làm chất liệu cho cuộc sống. Bấy giờ, con người tin rằng một khi gây nên điều gì làm Phật lòng đến các đấng thần linh thì con người sẽ bị trừng phạt bằng những hình thức như: hạn hán, mất mùa, lũ lụt, bão tố, dịch bệnh… Đặc biệt trong sinh hoạt xã hội xưa ông cha ta rất coi trọng và tôn kính đối với những người đã khuất. Đây là nhân tố quan trọng, là tiền đề cho sự ra đời của tục lệ thờ cúng ông bà sau này. Dựa trên những sinh hoạt, phong tục, tập quán của người Việt xưa, ta dễ dàng nhận thấy sự gắn bó mật thiết giữa triết lý nhân quả của Đạo Phật với đời sống xã hội thông qua những giá trị đạo đức chuẩn mực. Bởi triết lý nhân quả của Đạo Phật rất phù hợp với nếp sống, với quan niệm nhân sanh và vũ trụ xưa nay của dân tộc. Trong quảng đại quần chúng thì dấu ấn của thuyết nhân quả được thể hiện rõ nét qua những bài học giáo dục đạo đức làm người, đó là phải “ăn hiền ở lành”. Bài học giá trị đạo đức ấy đã được phản ánh tích cực trong đời sống sinh hoạt từ gia đình cho đến xã hội. Đúc kết từ những kinh nghiệm sống thiết thực, cha ông ta đã nhắn gởi cho thế hệ con cháu những bài học luân lý mang tính giáo dục rất lớn. Từ xa xưa, ông cha ta đã ý thức được giá trị cao quý của con người không phải ở địa vị và danh vọng mà chỉ có nơi những con người đức hạnh. Thời gian qua đi mọi sự vật đều đổi thay, địa vị, tiền tài, danh vọng kia rồi cũng tan biến, duy chỉ có danh thơm tiếng tốt của những con người đức hạnh sẽ còn lưu mãi với thời gian. “Hương của các loài hoa. Không thể bay ngược gió Hương người đức hạnh đó. Ngược gió bay muôn phương.” Từ đây chúng ta đã thấy được mức độ ảnh hưởng to lớn và sâu sắc của triết lý nhân quả đối với tư tưởng văn hóa tinh thần dân tộc. 3. Ảnh hưởng của tư tưởng Phật Giáo qua góc độ nhân văn và xã hội: a. Qua ca dao, dân ca: Ca dao dân ca phổ biến dưới dạng thơ lục bát bao gồm nhiều đề tài khác nhau, tư tưởng đạo lý của Phật giáo cũng thường được ông cha ta đề cập SV: N.A.Khoa Trang 16/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010
  17. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt đến trong ca dao dân ca dưới đề tài này hay khía cạnh khác để nhắc nhở, khuyên răng dạy bảo, với mục đích xây dựng một cuộc sống an vui phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam. Có thể nói trong tâm hồn của mỗi con người Việt Nam đều có chứa đựng ít nhiều triết lý nhà Phật và những hình ảnh về ngôi chùa, về Phật, trải qua hàng ngàn năm gắn bó mật thiết với làng xã Việt Nam: “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” Đất vua, chùa làng là một hình ảnh gần gũi với dân, với làng, vơí nước như vậy, nếu ai xúc phạm đến chùa, đến Phật thì cũng có thể hiểu là xúc phạm đến đạo lý, đến quốc gia. Trên tinh thần đó người dân Việt Nam quyết một lòng bảo vệ ngôi chùa quê hương của mình: “Bao giờ cạn nước Đồng Nai. Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền” Đôi khi đâu đó ta có thể thấy được hình ảnh chuông chùa trong cách định thời gian của người Việt: “Gió đưa cành trúc la đà. Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà thọ Xương”. “Trên chùa đã động tiếng chuông. Gà Thọ Xương đã gáy, chim trên nguồn đã kêu” Khi đã là người Việt Nam không thể không hiếu kính cha mẹ, niềm tri ơn và báo ơn ấy đã trở thành bản tính tự nhiên, ăn sâu vào tâm khảm của người dân Việt. Tinh hoa và tinh thần cao đẹp này không phải tự nhiên mà có, mà chính là nhờ ảnh hưởng của cả một nền giáo dục, một tổ chức văn hóa từ ngàn xưa để lại, tương xứng với tư tưởng và phong tục của dân tộc Việt. Trong tất cả những ảnh hưởng, lớn nhất và sâu rộng nhất cũng vẫn là sự ảnh hưởng của đạo Phật, một tôn giáo, một nền giáo dục đã có mặt với dân tộc từ buổi đầu của công nguyên, mà đạo Phật là đạo hiếu, lời dạy của Phật về việc nhớ ơn và báo ơn cha mẹ là những cảm giác suy tư in đậm trong lòng của người Việt, và đã thể hiện linh động và triền miên ngang qua ca dao dân ca, mà chúng ta thấy tràn ngập khắp dân gian Việt Nam: “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con” SV: N.A.Khoa Trang 17/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010
  18. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt Hay:“Núi cao biển rộng mênh mông. Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi” Mến cảnh chùa chiền, Phật tượng, nhưng hiếu hạnh của người con vẫn đặt lên trên vì công ơn trời biển của cha mẹ trong suốt quá trình dưỡng dục sinh thành, biết bao nhọ nhằn, gian khổ đối với con. Do đó: “Vô chùa thấy Phật muốn tu. Về nhà thấy mẹ công phu chưa đành.” Cũng vì thương kính cha mẹ, nên người con luôn luôn cầu nguyện Phật trời gia hộ cho hai đấng từ thân: “Đêm đêm khấn nguyện Phật trời. Cầu cho cha mẹ sống đời với con” Người Việt Nam thường nhắn nhủ nhau chớ có vì danh lợi phù hoa, làm ác hại người để rồi chuốc lấy đau khổ. Hãy ăn ở cho lương thiện rồi thế nào cũng gặp điều tốt lành, may mắn và hạnh phúc: “Ai ơi hãy ở cho lành. Kiếp này chẳng gặp đề dành kiếp sau” Cha mẹ lại càng tu nhân tích đức cho con cháu về sau được nhờ: “Cây xanh thì lá cũng xanh. Cha mẹ hiền lành để đức cho con” Ngang qua các câu ca dao về hình ảnh của ngôi chùa, về quan niệm hiếu hạnh, quan niệm nhân quả, ta thấy sự ảnh hưởng của Phật giáo đã ăn sâu vào đời sống của dân tộc Việt Nam. b. Qua tác phẩm văn học Bên cạnh ca dao bình dân, trong các tác phẩm văn học của các nhà thơ, nhà văn chúng ta cũng thấy ít nhiều chịu ảnh hưởng của Phật giáo. Ở đây chúng ta không đề cập đến dòng văn học chính thống của Phật giáo, tức là tác phẩm do các thiền sư sáng tác trong quá trình tu tập của mình, mà chỉ nói đến các thơ văn Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của triết lý Phật giáo mà thôi. Cái ảnh hưởng đó có ngay từ khi Phật giáo du nhập vào nước Việt, nghĩa là khi chữ Hán còn thịnh hành, nhưng để thấy rõ ràng hơn, ta chỉ đề cập đến sự ảnh hưởng của Phật giáo trong thơ văn từ khi người Việt Nam đã viết chữ Nôm, chữ Việt thành thạo nghĩa là bắt đầu thừ thế kỷ thứ 18 trở về sau. Tác phẩm chữ nôm nổi tiếng trong thế kỷ thứ mười tám là Cung Oán Ngâm Khúc của nhà thơ Việt Nam Nguyễn Gia thiều (1741-1798). Nội dung SV: N.A.Khoa Trang 18/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010
  19. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt tác phẩm chịu nhiều ảnh hưởng của Phật giáo, nhất là triết lý ba pháp ấn Vô Thường, Khổ, Vô Ngã. Khi diễn tả thân phận con người vốn khổ đau và mang tính vô thường, ông viết: « Gót danh lợi bùn pha sắc xám. Mặt phong trần nắng rám mùi dâu Nghĩ thân phù thế mà đau. Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê. » Qua thế kỷ thứ mười chín, với thi hào Nguyễn Du ta có được một án văn bất hủ là Truyện Kiều. Đây là một truyện thơ chịu nhiều ảnh hưởng của Phật Giáo, trong đó ta thấy nổi bật nhất là thuyết về Khổ Đế, một phần quan trọng của giáo lý Tứ Diệu Đế, kế đó là tinh thần về hiếu đạo và thuyết về nhân quả và nghiệp báo. Điều đó có lý, vì lẽ chính Nguyễn Du đã tự nhận mình là một Phật tử và từng đọc Kinh Kim Cang Bát Nhã đến cả ngàn lần. « Đã mang lấy nghiệp vào thân. Thì đừng trách lẫn trời gần trời xa » Nhưng theo Phật Giáo thì nghiệp không phải là định nghiệp, là bất khả chuyển, cho nên ông mới tự tin: « Sư rằng phúc họa đạo trời.Cội nguồn cũng bởi lòng người mà ra Có trời mà cũng có ta. Tu là cội phúc, tình là dây oan » Điểm qua một số thơ văn Việt nam có những ảnh hưởng của Phật Giáo như trên ta thấy tư tưởng, triết học Phật Giáo đã để lại dấu ấn của mình sâu đậm trên diễn đàn tư tưởng của Việt Nam. c. Qua phong tục, tập quán : Phong tục tập quán thể hiện đặc sắc và tính đặc thù về văn hóa của mỗi dân tộc. Thông qua việc tìm hiểu phong tục tập quán, người ta tìm lại được những giá trị văn hóa mang bản chất truyền thống của các dân tộc. Đối với người Việt Nam, những phong tục tập quán chịu ảnh hưởng Phật giáo khá nhiều. Song ở đây người viết chỉ đề cập đến những tập tục phổ biến trong đời sống hằng ngày của người Việt. SV: N.A.Khoa Trang 19/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010
  20. Tư tuởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống VH-TT của người Việt c.1. Ảnh hưởng Phật giáo qua tập tục ăn chay, thờ Phật, phóng sanh và bố thí: Về ăn chay, hầu như tất cả người Việt Nam đều chịu ảnh hưởng nếp sống văn hóa này. Ăn chay hay ăn lạt xuất phát từ quan niệm từ bi của Phật giáo. Vì khi đã trở về với Phật pháp, mỗi người Phật tử phải thọ giới và trì giới, trong đó giới căn bản là không sát sanh hại vật, mà trái lại phải thương yêu mọi loài. Trong hành động lời nói và ý nghĩa, người Phật tử phải thể hiện lòng từ bi. Điều không thể có được khi con người còn ăn thịt, còn uống máu chúng sanh. Để đạt được mục đích đó, người Phật tử phải dùng đến phương pháp ăn chay. Cố nhiên người xuất gia ăn chay trường, còn Phật tử tại gia còn nhiều trở ngại nên chỉ ăn chay kỳ. Ăn chay và thờ Phật là việc đi đôi với nhau của người Việt Nam. Việc thờ Phật trong dân gian cũng có nhiều điều thú vị. Người Phật tử, người mộ đạo thờ Phật đã đành, nhiều người không phải là Phật tử cũng dùng tượng Phật hay tranh ảnh có yếu tố Phật giáo để chiêm ngưỡng và trang trí cho cảnh nhà thêm đẹp và trang nghiêm. Theo quan niệm của nhóm người này, Phật giáo là một thành tựu về tư tưởng văn hóa của dân tộc và nhân loại. Cũng xuất phát từ tinh thần từ bi của đạo Phật tục lệ bố thí và phóng sanh đã ăn sâu vào đời sống sinh hoạt của quần chúng. Đến ngày rằm và mùng một, người Việt thường hay mua chim, cá, rùa….để đem về chùa chú nguyện rồi đi phóng sanh. Người Việt cũng thích làm phước bố thí và sẵn sàng giúp đỡ kẻ nghèo khó, hoạn nạn, vào các ngày lễ hội lớn họ tập trung về chùa. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại những biểu hiện mang tính chất hình thức trên này càng bị thu hẹp. Thay vào đó mọi người tham gia vào những đợt cứu trợ, tương tế cho các đồng bào gặp thiên tai, hoạn nạn, hoàn cảnh sống gặp khó khăn đúng với truyền thống đạo lý của dân tộc: lá lành đùm lá rách. c.2 Ảnh hưởng Phật giáo qua tập tục cúng rằm, mùng một và lễ chùa. Theo đúng truyền thống tập tục cúng rằm, mùng một là tập tục cúng sóc vọng, tức là ngày mặt trời mặt trăng thông suốt nhau, cho nên thần thánh, SV: N.A.Khoa Trang 20/29 GVHD: TS. B.V.Mưa Hoàn thành: 02/2010

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản