intTypePromotion=1

Tính cách mạng trong trào lưu Triết học ánh sáng Pháp thế kỷ XVIII

Chia sẻ: Lâm Đức Duy | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
268
lượt xem
12
download

Tính cách mạng trong trào lưu Triết học ánh sáng Pháp thế kỷ XVIII

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết Tính cách mạng trong trào lưu Triết học ánh sáng Pháp thế kỷ XVIII trình bày: Đưa ra những kiến giải mới về Trào lưu Triết học Ánh sáng Pháp. Thứ nhất, trào lưu đã phủ nhận thiết chế nhà nước cũ – chế độ phong kiến, đề ra thiết chế nhà nước mới, thiết chế cộng hòa; thứ hai, đề cao quyền tự do của con người; thứ ba, tấn công trực diện vào hệ tư tưởng Thiên chúa giáo, lực lượng cản trở, kìm hãm nhận thức của con người dưới thời kỳ Trung Cổ,... Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tính cách mạng trong trào lưu Triết học ánh sáng Pháp thế kỷ XVIII

TÍNH CÁCH MẠNG TRONG TRÀO LƯU<br /> TRIẾT HỌC ÁNH SÁNG PHÁP THẾ KỶ XVIII<br /> LÊ THÀNH NAM - TRẦN THỊ DUNG<br /> Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế<br /> Tóm tắt: Dựa vào những tư liệu đã công bố, bài báo đưa ra những kiến giải<br /> mới về Trào lưu Triết học Ánh sáng Pháp. Thứ nhất, trào lưu đã phủ nhận<br /> thiết chế nhà nước cũ – chế độ phong kiến, đề ra thiết chế nhà nước mới,<br /> thiết chế cộng hòa; thứ hai, đề cao quyền tự do của con người; thứ ba, tấn<br /> công trực diện vào hệ tư tưởng Thiên chúa giáo, lực lượng cản trở, kìm hãm<br /> nhận thức của con người dưới thời kỳ Trung Cổ. Đây là những kiến giải<br /> chứng minh tính cách mạng và sự tiến bộ của Trào lưu Triết học này. Những<br /> yếu tố đó thúc đẩy Cách mạng tư sản Pháp đi đến triệt để trong thời Cận đại.<br /> <br /> Trong bất cứ một cuộc cách mạng xã hội nào, yếu tố tư tưởng luôn giữ một vai trò quan<br /> trọng và có ý nghĩa hết sức lớn lao. Nó là động lực thúc đẩy đấu tranh và có những<br /> trường hợp đã tạo nên những thay đổi lớn trong lịch sử. Bàn về vấn đề này, C. Mác cho<br /> rằng: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ<br /> khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh bại bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận<br /> cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng” [1, tr. 325].<br /> Trào lưu Triết học Ánh Sáng là một minh chứng sinh động cho lý luận nêu trên.<br /> Trong số các cuộc cách mạng nổ ra buổi đầu thời cận đại thì cuộc cách mạng tư sản<br /> Pháp được xem là Đại cách mạng, có tính chất triệt để nhất. Bởi lẽ, trước hết xã hội<br /> Pháp lúc bấy giờ là nơi hội tụ những mâu thuẫn xã hội đạt tới cực điểm. Nhu cầu một<br /> cuộc cách mạng nổ ra là tất yếu. Mặt khác, để có được sự triệt để đó, cách mạng Pháp<br /> đã được chuẩn bị kỹ lưỡng về mặt tư tưởng trong một trào lưu triết học mà lịch sử gọi là<br /> “Trào lưu Triết học Ánh Sáng” với các đại diện tiêu biểu, như: Voltaire, Montesquieu,<br /> Rousseau, Meslies, Diderot... Những tư tưởng mà các nhà triết học đưa ra trong trào lưu<br /> Triết học Ánh sáng mang ý nghĩa quan trọng không những đối với cách mạng Pháp mà<br /> còn cả đối với sự tiến bộ của nhân loại bởi tính cách mạng của nó.<br /> Trước khi tìm hiểu về tính cách mạng của Trào lưu Triết học Ánh Sáng, chúng ta cần<br /> phải hiểu được nội hàm của thuật ngữ “cách mạng” là như thế nào? Theo “Từ điển thuật<br /> ngữ lịch sử phổ thông” của Phan Ngọc Liên, thuật ngữ “cách mạng” được hiểu là : “Một<br /> sự biến đổi hẳn, sự đổi mới về bản chất và là một sự biến đổi tiến bộ nhất, phù hợp với<br /> yêu cầu phát triển của xã hội” [2, tr. 59]. Bằng tư liệu lịch sử, bài viết xin được đưa ra<br /> ba kiến giải sau đây:<br /> Thứ nhất, các nhà Triết học Ánh Sáng đã chỉ rõ tính chất lỗi thời, phản động của<br /> nền thống trị chuyên chế phong kiến, đưa ra một thiết chế nhà nước mới, tiến bộ hơn<br /> và mang tính ưu việt hơn - thiết chế nhà nước cộng hoà.<br /> <br /> Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế<br /> ISSN 1859-1612, Số 01(17)/2011: tr. 89-95<br /> <br /> 90<br /> <br /> LÊ THÀNH NAM - TRẦN THỊ DUNG<br /> <br /> Nước Pháp trước cách mạng là một nhà nước phong kiến chuyên chế. Vua là người nắm<br /> giữ mọi quyền hành của nhà nước, mọi quyền lực đều tập trung trong tay vua. Vua<br /> không bị chi phối bởi bất cứ một thế lực nào. Uy quyền của nhà vua là tuyệt đối, nắm cả<br /> quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Vua Henry IV (1594-1610) đã nói rằng: “Trẫm<br /> muốn rằng không ai được thắc mắc về những mệnh lệnh của trẫm. Trẫm là chúa tể,<br /> trẫm muốn được mọi người tuân lệnh” [5, tr. 162], còn với Louis XIV (1643-1715)<br /> được mệnh danh “Vua Mặt trời”, cũng khẳng định: “Trẫm là quốc gia” [9, tr. 71], ý chí<br /> của nhà vua là luật pháp, tự nhận mình là “đại diện của thượng đế dưới trần gian” [9,<br /> tr. 72].<br /> Nhằm chống lại nền chuyên chế trên, các nhà Triết học Ánh Sáng đả kích, phê phán chế<br /> độ phong kiến lỗi thời này mà đại diện chính là kẻ ngự trị trong ngai vàng. Trong tác<br /> phẩm “Những bức thư Ba Tư”, Montesquieu (1689-1755) đã viết: “Vua Pháp là nhà<br /> phù thuỷ vĩ đại, ông ta đặt quyền lực của mình tới cả tư duy thần dân. Ông ta buộc họ<br /> phải suy nghĩ theo ý thích của ông ta” [7, tr. 26]. Đồng thời, ông nhấn mạnh “sự tráo<br /> trở, bạo lực, phản bội, gian xảo và bất công” chính là những yếu tố mà giới thống trị<br /> phong kiến sử dụng để làm nên sự vinh quang cho mình. Sự vinh quang của chế độ<br /> phong kiến được xây dựng trên sự bất công và sự độc đoán, nó không thể dung hoà với<br /> tự do. Từ đó, ông đưa ra quan điểm, “để có tự do phải tiêu diệt chuyên chế”.<br /> Montesquieu còn đưa ra ba loại hình nhà nước: cộng hoà, quân chủ lập hiến và quân chủ<br /> chuyên chế. Trong ba loại hình nhà nước đó, ông hoàn toàn bác bỏ loại hình nhà nước<br /> quân chủ chuyên chế. Bởi theo nhãn quan của ông, chuyên chế là hình thức cầm quyền<br /> trong đó cả quốc gia nằm dưới quyền lực của một người, đó là nhà nước phụ thuộc vào<br /> sự lộng quyền của người cầm quyền, ngay cả pháp luật cũng là pháp luật của một người.<br /> Từ việc phủ nhận loại hình nhà nước chuyên chế, Montesquieu lại có thiện cảm với chế<br /> độ cộng hoà. Nếu nhà nước chuyên chế là nhà nước của sự chuyên quyền thì ngược lại<br /> nhà nước cộng hoà lại khắc phục tất cả những hạn chế trên. Theo ông, nền cộng hoà là<br /> nhà nước tốt đẹp nhất, là hình thức cầm quyền ôn hoà, trong đó thực hiện tự do chính trị<br /> với nguyên tắc bình đẳng, ái quốc, tình yêu và tự do. Trong nhà nước cộng hoà, nhân<br /> dân nắm trong tay hoàn toàn hay một phần quyền lực tối cao. Để ngăn chặn sự lạm<br /> quyền thì ông cho rằng phương án tối ưu là “quyền hành ngăn chặn quyền hành”. Mặc<br /> dù có thiện cảm với chế độ cộng hòa, song Montesquieu vẫn cho rằng nhà nước cộng<br /> hòa chưa thể áp dụng cho nước Pháp sau cách mạng mà phải mô phỏng theo nước Anh,<br /> tức áp dụng chế độ quân chủ lập hiến.<br /> Cùng với việc đưa ra các loại hình nhà nước, Montesquieu đưa ra khái niệm về “Tam<br /> quyền phân lập”, tức là quyền lực nhà nước được chia thành: lập pháp, hành pháp và tư<br /> pháp. Ba quyền này tập trung trong các cơ quan quyền lực khác nhau trong đó, nhà vua<br /> nắm giữ quyền hành pháp, nghị viện giữ quyền lập pháp và các cơ quan toà án giữ<br /> quyền tư pháp. Chính điều này làm triệt tiêu sự độc quyền, chúng hạn chế lẫn nhau, cân<br /> bằng nhau và giám sát lẫn nhau. Quan điểm về “Tam quyền phân lập” của<br /> Montesquieu đã giáng một đòn chí tử vào thiết chế nhà nước phong kiến. Đây là cống<br /> hiến to lớn của Montesquieu đối với tiến bộ nhân loại, đồng thời cũng là một trong<br /> <br /> TÍNH CÁCH MẠNG TRONG TRÀO LƯU TRIẾT HỌC ÁNH SÁNG PHÁP...<br /> <br /> 91<br /> <br /> những dấu ấn lớn nhất trong trào lưu Triết học Ánh Sáng mà cho đến ngày nay vẫn<br /> được chọn lựa, kế thừa trong lịch sử văn minh nhân loại.<br /> Khác với Montesquieu, tư tưởng của Rousseau (1712-1778) về chế độ nhà nước có<br /> những nhận thức tiến bộ hơn nhiều. Ông không đơn thuần phê phán một thiết chế nhà<br /> nước nào đó mà bác bỏ hoàn toàn cả hệ thống chế độ phong kiến áp bức nhân dân. Theo<br /> ông, chế độ cộng hoà là hình thức cầm quyền tốt nhất, trong đó các quan chức do nhân<br /> dân bầu ra. Mặt khác, Rousseau còn phân biệt giữa lập pháp và hành pháp. Chính quyền<br /> lập pháp được thành lập do “Khế ước xã hội” còn chính quyền hành pháp được thành<br /> lập bởi văn bản của quyền lực lập pháp có chủ quyền. Chính điều này đã quy định vai<br /> trò phụ thuộc của chính phủ vào quyền lập pháp. Nhằm ngăn chặn việc tiếm quyền từ<br /> phía chính phủ, Rousseau đề nghị tiến hành định kỳ các đại hội nhân dân mà ở đó chính<br /> phủ có nhiệm vụ báo cáo trước nhân dân. Vai trò của nhân dân được tăng lên, nhân dân<br /> có quyền quyết định những vấn đề quan trọng sau:<br /> 1. Họ có cần duy trì hình thức cầm quyền hiện hành không<br /> 2. Có nên tiếp tục duy trì quyền quản lý trong tay những người đang nắm quyền<br /> không?<br /> Việc đặt chính phủ dưới quyền kiểm soát của nhân dân là một tư tưởng vô cùng tiến bộ,<br /> do đó học thuyết của Rousseau về “Khế ước xã hội” tràn đầy tính cách mạng sâu sắc và<br /> cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.<br /> Cùng với dòng tư tưởng trên, Voltaire (1694-1778) trong cuốn “Từ điển triết học” cũng<br /> đã bắt đầu nói về tính hợp lý của chế độ cộng hoà và những ưu việt của nó. Những tư<br /> tưởng đó đã được ông phát triển trong cuốn “Di chúc chính trị”, ông bày tỏ thiện cảm<br /> với nền cộng hoà Thụy Sĩ mà ông cho rằng đó là “nơi ngự trị của sự bình đẳng thật<br /> sự”.<br /> Thứ hai, các nhà Triết học Ánh Sáng đã tố cáo sự bất bình đẳng trong xã hội phong<br /> kiến, khẳng định quyền tự do của con người, đặc biệt là nêu cao vai trò của quần<br /> chúng đối với sự tồn vong của một quốc gia.<br /> Xã hội Pháp trước cách mạng là một thực thể đầy rẫy sự bất công và mục ruỗng. Đó là<br /> sự hiện hữu của chế độ đẳng cấp phong kiến hà khắc và phi lý. Xã hội Pháp chia làm ba<br /> đẳng cấp: quý tộc, tăng lữ và đẳng cấp thứ ba. Sự phân biệt giữa ba đẳng cấp trên được<br /> quy định trong công thức sau: “Tăng lữ phục vụ nhà vua bằng những lời cầu nguyện,<br /> quý tộc bằng lưỡi kiếm, đẳng cấp thứ ba bằng của cải” [4, tr. 65]. Hai đẳng cấp đầu chỉ<br /> chiếm 1% dân số nhưng lại giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước và<br /> được hưởng mọi đặc quyền và đặc lợi. Ngược lại, đẳng cấp thứ ba (gồm tư sản, nông<br /> dân, công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác) chiếm 99% dân số, làm ra của<br /> cải cho xã hội nhưng họ lại bị tước đoạt mọi quyền về chính trị, bị phụ thuộc và phải<br /> phục vụ cho hai đẳng cấp trên. Linh mục Meslier viết: “Ở Pháp, tất cả chính quyền, tất<br /> cả của cải, tất cả sự vui sướng đều thuộc về bọn nhà giàu và bọn quý tộc. Còn nhân dân<br /> nghèo thì chỉ đau khổ và lo lắng, chịu đủ mọi sự bất hạnh”.<br /> <br /> 92<br /> <br /> LÊ THÀNH NAM - TRẦN THỊ DUNG<br /> <br /> Thấy được sự phi lý đó, các nhà triết học Ánh Sáng đã lên tiếng bảo vệ cho quyền bình<br /> đẳng của con người. Voltaire (1694-1778) cho rằng: các quyền và phẩm giá của con<br /> người phải được thừa nhận cho mọi thành viên trong xã hội. Đồng thời, ông khẳng định:<br /> “Khi dân đen bắt đầu đàm luận - tất cả sẽ tiêu tan” tức là khi trong nhân dân có sự phản<br /> đối hoặc không hài lòng về chính phủ thì gốc rễ chính quyền đó đang bị lung lay. Điều<br /> này cho thấy vai trò thực sự quyết định của nhân dân với sự tồn vong của bất cứ một<br /> chính phủ nào. Montesquieu cùng “bắt gặp” Rousseau ở điểm này, với tư tưởng “Tam<br /> quyền phân lập”, ông một mặt muốn ngăn chặn sự lạm quyền từ chính phủ mặt khác<br /> nhằm bảo vệ quyền lực của nhân dân. Montesquieu đề cao nền cộng hoà với nguyên tắc<br /> sống của nó là: “Bình đẳng, ái quốc, tình yêu và tự do”, ông chủ trương cần phải yêu<br /> chuộng và tôn trọng quyền tự do cho dù đó là tự do cá nhân. Ông nêu cao tinh thần tự<br /> do nhưng cũng đồng thời nêu rõ: “Tự do là quyền được làm tất cả những gì mà pháp<br /> luật cho phép” có nghĩa là tự do trong khuôn khổ của pháp luật. Ngày nay nhiều quốc<br /> gia vẫn chủ trương theo quan điểm trên của Montesquieu để vừa đảm bảo quyền tự do<br /> của mọi thành viên trong xã hội vừa giữ được trật tự của xã hội. Vấn đề ở chỗ là phải có<br /> sự kế thừa và phát triển phù hợp với bối cảnh trong và ngoài nước và chiến lược phát<br /> triển của quốc gia vì lợi ích cao nhất cho nhân dân và dân tộc.<br /> Cùng dòng tư tưởng trên, trong tác phẩm “Khế ước xã hội” Rousseau cũng đã nêu cao<br /> quyền tự do và bình đẳng của con người. Ông nêu rõ mục đích tác phẩm này là: “Muốn<br /> xem trong trật tự dân sự có hay không một số quy tắc cai trị chính đáng, vững chắc, biết<br /> đối đãi với con người như con người”. Theo ông, con người tồn tại trải qua hai trạng<br /> thái, trạng thái tự nhiên và trạng thái dân sự. Trong trạng thái tự nhiên con người được<br /> tự do bình đẳng không có áp bức bóc lột, mà ông gọi đây là “Thế kỷ hoàng kim”. Khi<br /> xã hội phát triển cao hơn con người bước ra khỏi trạng thái tự nhiên tiến vào trạng thái<br /> dân sự và bắt đầu nảy sinh những bất bình đẳng. Rousseau khẳng định “Bất cứ trong<br /> trạng thái nào con người cũng phải được tự do và bình đẳng”. Trong “Khế ước xã hội”,<br /> ông viết: “Với khế ước xã hội, con người sẽ mất đi tự do thiên nhiên và cái quyền nhỏ<br /> nhoi được làm những điều muốn làm và những điều chỉ làm được với sức lực hạn chế<br /> của con người, nhưng mặt khác con người thu lại quyền tự do dân sự và quyền sở hữu<br /> những cái gì mà anh ta có được. Trong trạng thái dân sự anh ta còn có tự do tinh thần<br /> khiến anh ta trở thành người chủ thật sự của chính mình”.<br /> Như vậy, một xã hội được xây dựng theo khế ước, quyền tự do bình đẳng sẽ được phát<br /> triển, nó đối lập với xã hội phong kiến. Rousseau coi nguyên tắc cơ bản trong học<br /> thuyết của mình là tư tưởng chủ quyền nhân dân, tức quyền lực thuộc về nhân dân,<br /> những người trực tiếp lựa chọn người toàn quyền cho mình và tham gia vào việc thực<br /> hiện pháp luật. Ông đã đánh giá đúng đắn vai trò của nhân dân trong một xã hội dân<br /> chủ. Phái Jacobin trong Cách mạng Pháp đã sử dụng học thuyết của ông để thể hiện ý<br /> chí chung và chủ quyền vô hạn của nhân dân để thiết lập chuyên chính dân chủ cách<br /> mạng.<br /> Chịu sự chi phối tư tưởng của Rousseau, người đứng đầu phái Jacobin là Robespiere<br /> cũng đã đưa ra một chương trình dân chủ rộng lớn. Nguyên tắc cơ bản là thừa nhận chủ<br /> <br /> TÍNH CÁCH MẠNG TRONG TRÀO LƯU TRIẾT HỌC ÁNH SÁNG PHÁP...<br /> <br /> 93<br /> <br /> quyền vô hạn của nhân dân. Ông khẳng định: “Nhân dân là người có chủ quyền, còn<br /> chính phủ do nhân dân thành lập ra và là sở hữu của dân, các tổ chức xã hội là đầy tớ<br /> của dân”. Nhưng ông cũng nhận thức rõ muốn thể hiện quyền lực của nhân dân thì phải<br /> đảm bảo lợi ích cho nhân dân, tức mọi người đều được nhận ruộng đất. Đây là tư tưởng<br /> rất tiến bộ thể hiện tối đa quyền lực của nhân dân. Tất cả những tư tưởng trên được đúc<br /> kết trong tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789 với đoạn mở đầu<br /> khẳng định rằng “Mọi người sinh ra đều có quyền sống tự do và bình đẳng”.<br /> Thứ ba, các nhà triết học Ánh Sáng đã phủ nhận thế giới quan duy tâm thần bí của<br /> Giáo hội Thiên chúa, xoá bỏ sự chi phối của Thượng đế trong mọi lĩnh vực của xã<br /> hội.<br /> Thiên chúa giáo 1 cũng như các tôn giáo khác được sáng lập ra với mục đích hướng con<br /> người tới cái thiện, cái tốt đẹp. Tuy nhiên, trên con đường phát triển của mình, Thiên<br /> chúa giáo từ chỗ là một tôn giáo “của những người nô lệ, của những người tự do, của<br /> những người nghèo khổ và những dân tộc bị nô dịch” [13, tr. 409] đến thời Trung Cổ ở<br /> Tây Âu đã dần dần biến chất trở thành tôn giáo của bọn thống trị, là công cụ hữu hiệu<br /> của bọn vua chúa. Sở dĩ như vậy, vì giáo lý của tôn giáo này khuyên con người sống<br /> nhẫn nhục chịu đựng ở kiếp này để được hưởng hạnh phúc ở kiếp sau. Giai cấp phong<br /> kiến Tây Âu đã lợi dụng điều này, gieo vào trong nhân dân tư tưởng nhẫn nhục. Điều<br /> này làm xói mòn tư tưởng đấu tranh của họ, rất có lợi cho sự thống trị của chúng. Trong<br /> suốt thời trung kỳ trung đại ở Tây Âu nói chung, ở Pháp nói riêng, Thiên chúa giáo có<br /> một tầm ảnh hưởng rộng lớn, chi phối mọi mặt của xã hội. Thần quyền và thế quyền có<br /> sự dung hợp, liên kết vững chắc: “Nhà thờ đã dán cứng số phận mình vào chế độ quân<br /> chủ tuyệt đối áp bức” [1, tr. 62]. Quyền lợi của tầng lớp tăng lữ phụ thuộc chặt chẽ với<br /> chế độ phong kiến bởi vậy tôn giáo ngày càng bị biến chất so với bản chất ban đầu của<br /> nó, trở thành rường cột vững chắc cho nền thống trị phong kiến “Tôn giáo ủng hộ chính<br /> quyền dù chính quyền đó có độc ác thế nào đi nữa và ngược lại chính quyền ủng hộ tôn<br /> giáo dù tôn giáo có ngu ngốc và trống rỗng thế nào đi nữa” [12, tr. 50].<br /> Mặt khác, giáo lý Thiên chúa giáo coi vạn vật trong vũ trụ đều do Thượng đế tạo nên:<br /> “Thượng đế là nguồn gốc phát sinh của thế giới”, “Thiên chúa là đấng sáng tạo nên<br /> trời đất và muôn loài từ hư không. Thiên chúa là đấng thiêng liêng sáng láng, là chúa tể<br /> của trời đất và muôn loài có quyền năng sắp xếp vận hành trật tự trong vũ trụ. Nói cách<br /> khác là tất cả sự tồn tại biến đổi trong vũ trụ đều do Thiên chúa tiền định một cách hợp<br /> lý và tuyệt đối” [1, tr. 56]. Luận điểm này đã làm mờ nhận thức khoa học của con người<br /> trong các lĩnh vực xã hội, chính nó là nguồn gốc cản trở bước tiến của khoa học và xã<br /> hội, khiến con người chìm đắm trong ngu muội, tạo điều kiện thuận lợi cho sự áp đặt<br /> thống trị của giai cấp phong kiến. “Lòng tin vào tôn giáo như một giải băng bịt mắt con<br /> người” [1, tr. 57], biến khoa học thành nô lệ của thần học.<br /> Kế thừa những thành tựu của nền văn hoá Phục Hưng, đồng thời trên nền tảng tiến bộ<br /> của các ngành khoa học tự nhiên trong các thế kỷ XVII-XVIII, giai cấp tư sản Pháp nói<br /> 1<br /> <br /> Thiên Chúa giáo là một nhánh của đạo Kitô.<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản