intTypePromotion=3

Trồng trọt ở vùng người Dao nước ta hiện nay những biến đổi và vấn đề đặt ra

Chia sẻ: ViSamurai2711 ViSamurai2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
4
lượt xem
0
download

Trồng trọt ở vùng người Dao nước ta hiện nay những biến đổi và vấn đề đặt ra

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Từ những tư liệu điền dã kết hợp tổng quan tài liệu, nội dung bài viết khái quát một số biến đổi liên quan tới tập quán trồng trọt của người Dao ở nước ta hiện nay, qua đó cho thấy những vấn đề đặt ra cần quan tâm thực hiện. Dưới tác động của cơ chế thị trường, đặc biệt là sự đổi mới thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, hoạt động trồng trọt thời gian qua tại các địa phương người Dao đã có sự biến đổi nhanh chóng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Trồng trọt ở vùng người Dao nước ta hiện nay những biến đổi và vấn đề đặt ra

  1. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN TRỒNG TRỌT Ở VÙNG NGƯỜI DAO NƯỚC TA HIỆN NAY NHỮNG BIẾN ĐỔI VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA Lý Hành Sơn(1) Lý Cẩm Tú(2) Từ những tư liệu điền dã kết hợp tổng quan tài liệu, nội dung bài viết khái quát một số biến đổi liên quan tới tập quán trồng trọt của người Dao ở nước ta hiện nay, qua đó cho thấy những vấn đề đặt ra cần quan tâm thực hiện. Dưới tác động của cơ chế thị trường, đặc biệt là sự đổi mới thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, hoạt động trồng trọt thời gian qua tại các địa phương người Dao đã có sự biến đổi nhanh chóng. Đời sống của đồng bào được cải thiện, diện tích ruộng bậc thang ngày càng mở rộng, cơ cấu cây trồng được đa dạng hóa, an ninh lương thực ổn định, tập quán bảo vệ rừng được phát huy,... Song, bên cạnh đó là những thách thức về việc nâng cao thu nhập, phát huy các giống cây trồng truyền thống, canh tác bền vững,... rất cần sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn, các cơ sở đào tạo và các cơ quan chức năng. Từ khóa: Trồng trọt; Biến đổi; Người Dao; Trồng trọt ở vùng người Dao; Vấn đề đặt ra; Sinh kế bền vững. Mở đầu rừng ở nơi vùng sâu vùng xa, do còn rừng nên đồng Qua số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm bào Dao vẫn làm nương với các công đoạn theo tập 2009, dân tộc Dao ở nước ta có 751.067 người, quán, gồm: Chọn đất và khai khẩn mảnh nương mới phân bố cư trú ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc cũng như làm đất đối với những đám nương đã qua và trung du Bắc Bộ (636.523 người), Tây Nguyên canh tác, trồng trỉa, chăm sóc cây trồng, thu hoạch, (35.176 người) và một số tỉnh miền đông Nam Bộ bảo quản giống. Thời gian và thời vụ thực hiện mỗi (8.796 người). Trong đó, họ tập trung khá đông ở công đoạn làm nương được dựa vào nông lịch hàng các tỉnh: Hà Giang (109.708 người), Tuyên Quang năm tại địa phương. Đặc biệt, các tri thức gieo trồng (90.618 người), Lào Cai (88.379 người), Yên Bái trên nương vẫn chủ yếu theo truyền thống: Xen canh (83.888 người), Quảng Ninh (59.156 người), Bắc nhiều loại cây trong mỗi mảnh nương vừa mới khai Kạn (51.801 người),... khẩn, chẳng hạn trong nương lúa hoặc ngô có trồng xen thêm các loại dưa, rau cải, rau bao, khoai sọ, Trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc mướp, bí, bầu, vừng, gừng, cà tím, đậu đũa, thậm của Đảng và Nhà nước, nhất là thời gian gần đây, chí có cả cây mạch, đu đủ, chuối, thầu dầu tím để đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa của người Dao ở làm thuốc chữa bệnh,...1 nước ta đã không ngừng nâng cao và biến đổi theo xu hướng hội nhập dần với các dân tộc trong vùng. Sau khi thực thi chính sách giao đất giao rừng, Hiện nay tuy có nhiều công trình nghiên cứu và tập quán canh tác nương rẫy tuy vẫn duy trì ở các địa bài viết về người Dao ở Việt Nam, song vẫn thiếu phương người Dao, nhưng đồng bào chủ yếu gieo những nghiên cứu chuyên sâu về biến đổi trong các trồng ngô, sắn và nhiều cây hoa màu khác như đỗ, lĩnh vực sinh kế, thiết chế xã hội, hoạt động văn lạc, gừng,... để bán ra thị trường, tức bỏ đi tập quán hóa,... của đồng bào Dao. gieo lúa nương. Thực tế cho thấy, sau năm 2000 đến khi có phong trào đi làm ăn xa hoặc ra thành phố Từ nguồn tư liệu điền dã kết hợp tổng quan một kiếm việc làm tại các công ty liên doanh, người Dao số tài liệu đã công bố, chúng tôi tập trung đề cập tới ở cả hai vùng Tây Bắc và Đông Bắc đều mở rộng sự biến đổi về trồng trọt, bao gồm: Phát triển cây diện tích trồng các giống ngô lai, sắn cao sản. Điền lương thực và thực phẩm, phát triển các loại cây lâu dã vào cuối năm 2008 tại thôn Khe Búng, xã Quang năm của người Dao. Minh (huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái) cho thấy, các 1. Phát triển cây lương thực và thực phẩm gia đình Dao Quần Trắng ở đây đều dành phần lớn Trồng trọt là thế mạnh của tộc người Dao ở nước diện tích đất nương để trồng sắn, rất nhiều nhà trồng ta; trong đó, nương rẫy là loại hình canh tác lâu đời đến 3 ha, trung bình mỗi nhà trồng 1 - 2 ha; khi thu nhằm cung cấp lương thực và một phần rau, củ, hoạch, do tư thương đưa xe tải đến tận nơi để thu quả, kể cả các loại cây bông, chàm để kéo sợi, dệt mua nên người dân trong thôn tổ chức nhổ sắn theo vải, làm cao chàm nhuộm,... nhằm tự cấp tự túc cho tập quán đổi công: Hôm nay cả thôn nhổ cho nhà gia đình về ăn uống, đồ mặc, đồ đắp. Trước năm Lý Hành Sơn, (1995), Nương rẫy truyền thống của người Dao ở Cao Bằng, 1. 1995 khi chưa thực hiện chính sách giao đất giao Tạp chí Dân tộc học, số 3, tr.64-73. Ngày nhận bài: 22/7/2018; Ngày phản biện: 10/8/2018; Ngày duyệt đăng: 20/8/2018 (1) Viện Dân tộc học; e-mail: hmongdao@yahoo.com.vn 113 (2) Viện Dân tộc học; e-mail: jirachi.lee.2712@gmail.com
  2. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN này, ngày mai kéo nhau đến nhổ cho nhà khác,... nhiều năm người Dao đã tự khai khẩn những khu Bên cạnh đó, nhiều địa bàn người Dao thuộc hai tỉnh ruộng với diện tích hàng nghìn mét vuông5. Trong Cao Bằng, Bắc Kạn còn trồng cây dong riềng và tình khi, họ vẫn chú ý bảo vệ môi trường, nhất là các trạng này còn thấy rõ khi nghiên cứu về người Dao khu rừng đầu nguồn cung cấp nước cho các khe, ở xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình2. Nguyên suối để dẫn vào ruộng qua hệ thống phai, mương, nhân chuyển đổi sang giống cây trồng mới là do đất máng,... bởi đây là giải pháp phát triển ruộng bậc nương đã bạc màu, không còn nhiều rừng để khai thang và đảm bảo đủ nước cho canh tác hàng năm6. phá thêm nương mới, đặc biệt là chính sách giao đất Nhờ phong trào khai khẩn, canh tác ruộng bậc thang giao rừng của Nhà nước đã được thực hiện. Trong kết hợp làm loại nương cố định, rất nhiều khu đất khi, các giống ngô lai, sắn cao sản, cây dong riềng,... trước đây là nương du canh bỏ hóa thì nay đã được không chỉ dễ trồng, nhanh được thu hoạch và cho người Dao phát triển thành vườn rừng, trồng những năng suất cao mà còn dễ bán ra thị trường và bán cây có giá trị hàng hóa, góp phần làm gia tăng diện được hết sau khi thu hoạch. tích khoanh nuôi rừng nhằm cung cấp nước để làm Đặc biệt là gần đây, người dân đã giảm nhanh ruộng, bảo vệ môi trường. diện tích nương du canh, rồi giữ ổn định, thậm chí Rõ ràng là gần đây, việc khai khẩn ruộng bậc gia tăng diện tích nương cố định bằng cách khai thang và làm hai vụ lúa/năm đã trở thành phong trào khẩn tối đa các loại nương ở ven sông suối, đất bằng tại các địa bàn có người Dao sinh sống, bất kể ở ở chân núi hoặc quanh khu cư trú3. Nương cố định đai sinh thái vùng thấp hay vùng cao. Chỉ một vài không chỉ canh tác được lâu dài mà còn có thể trồng nơi như người Dao Đỏ, xã Thái Học, huyện Nguyên luân canh, xen canh, gối vụ nhiều loại cây trồng Bình (tỉnh Cao Bằng), do là vùng núi đá, thiếu nước nhờ cải tạo đất bằng cách cày bừa và bón phân, gieo nên khó mở rộng diện tích ruộng bậc thang, nhưng trồng giống mới ngắn ngày, dùng thuốc trừ sâu,... nay người dân đã phát triển các cây trồng khác để Đây là sự biến đổi theo xu hướng tổng diện tích đất bán, làm cho đời sống ngày càng nâng cao. Thực tế nương tuy không tăng nhưng vẫn ổn định cho việc đã khẳng định rằng, cho đến năm 1995: “Ở nhiều gieo trồng, tăng vụ cho các loại cây lương thực và vùng người Dao việc trồng lúa nước có năng xuất thực phẩm, kể cả những cây có giá trị hàng hóa. cao mỗi năm hai vụ lúa đã thành nề nếp. Tuy không Trong khi, các mảnh nương du canh đã bạc màu phá rừng làm rẫy nhưng họ đã đủ ăn và dư thừa được dùng để phát triển những loại cây lâu năm như lương thực làm cơ sở cho việc phát triển ngành gỗ, quế, cây ăn quả hoặc khoanh nuôi rừng hoặc nghề khác”7. Do chủ yếu làm ruộng nên đồng bào trồng rừng. Dao có điều kiện tiếp cận các tiến bộ kỹ thuật thông Một trong những đổi mới mang tính đột phá là qua sách báo, truyền thông, các buổi tập huấn tại phong trào khai khẩn ruộng bậc thang để canh tác địa phương,... tạo ra nhu cầu sử dụng các công cụ lúa nước diễn ra rộng khắp các địa phương người bằng máy, phân hoá học, thuốc trừ sâu. Qua tư liệu Dao. Làm ruộng bậc thang là tập quán hàng trăm điền dã gần đây, hầu hết các gia đình người Dao năm ở người Dao, nhưng từ khi có phong trào “hạ có điều kiện đều vỡ đất làm ruộng bằng máy, dùng sơn” sống định cư, nhất là gần đây đồng bào mới có máy bơm kết hợp khi tưới tiêu, thu hoạch bằng máy điều kiện khai phá hết từng tấc đất nơi có thể làm tuốt lúa, vận chuyển sản phẩm bằng xe máy hoặc xe ruộng, do không còn rừng để phát triển loại nương công nông,... du canh. Chẳng hạn tỉnh Hà Giang, sau năm 1960, Ngoài làm ruộng cấy lúa, trồng ngô và sắn đặc biệt là từ khi hợp tác xã giải thể, việc khai khẩn cùng các loại hoa màu trên nương, người Dao ở ruộng đã trở thành phong trào đối với các hộ người một số nơi còn phát triển những cây có giá trị hàng Dao tại các thôn bản. Cụ thể là ở huyện Hoàng Su hóa, tạo ra bước chuyển đổi lớn trong cơ cấu cây Phì, ruộng bậc thang hấp dẫn khách du lịch tới tham trồng. Chẳng hạn như người Dao ở xã Bản Phiệt quan chủ yếu ở trong 6 xã là Bản Luốc, Sán Sả Hồ, và một vài nơi thuộc huyện Bảo Thắng (tỉnh Lào Bản Phùng, Hồ Thầu, Nậm Ty, Thông Nguyên thì Cai) do có quan hệ với bên Trung Quốc nên đã người Dao ở đây có đóng góp tại Bản Luốc, Hồ mở rộng diện tích trồng chuối, dứa,... để bán, tạo Thầu, Thông Nguyên. Theo tập quán, đồng bào tận ra thu nhập cao. Theo ước tính: Một ha dứa thu dụng những nơi đất nương đã bạc màu, địa hình khoảng 48 tấn quả, giá bình quân 5.000 đồng/kg khá bằng phẳng hoặc dốc thoai thoải nhưng có nước vào năm 2010, sau khi trừ các khoản chi phí, người tưới, bất kể nước mó hay nước khe, suối,... để khai 5. Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn, (2001), Các dân tộc ở Bắc Kạn, khẩn thành các mảnh ruộng bậc thang4. Tuy chỉ có NXB. Thế giới và Tạp chí Dân tộc & Thời đại, Hà Nội, tr.226. dao, cuốc, xà beng, cày bừa tự chế,... nhưng qua 6. Trần Hữu Sơn, Bàn Khánh Thanh, (2011), Văn hóa ứng xử của người Dao Đỏ với môi trường tự nhiên qua khai khẩn ruộng bậc thang ở Sa Pa, Tạp chí 2. Trần Văn Hà, (Chủ biên, 2007), Phát triển nông thôn miền núi và dân tộc Dân tộc học, số 4, tr.3-12. trong thời kỳ kinh tế chuyển đổi, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.78-79. 7. Trịnh Bá Bảo, (1998), Kinh tế, xã hội người Dao Việt Nam thời kỳ 1970 - 3. Lý Hành Sơn, (1995), Nương rãy truyền thống của người Dao ở Cao Bằng, 1995, Trong: Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, (1998), Sự Tlđd, tr.69. phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai, Kỷ yếu Hội 4. Phạm Quang Hoan, Hùng Đình Quý, (Chủ biên, 1999), Văn hóa truyền thảo, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia xuất bản, Hà Nội, thống người Dao ở Hà Giang, NXB. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, tr.53-55. 1998, tr.206. 114 Số 23 - Tháng 9 năm 2018
  3. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN trồng thu một nửa, tức khoảng 110 triệu đồng/ha; nương và khai thác lâm thổ sản tại những khu rừng riêng cây chuối, mỗi ha cho khoảng 2.500 buồng, còn thiếu sự quản lý chặt chẽ không ngoài mục đích mỗi buồng ước khoảng 20kg, giá thành bình quân hạn chế khai thác quá mức các khu rừng quanh nhà 5.000 đồng/kg trong năm 2010, tức được 250 triệu và trong thôn bản mình. đồng, nếu trừ chi phí thì mỗi ha người trồng thu Từ việc phát huy tập quán bảo vệ rừng, phong khoảng 140 triệu đồng. Vì thế, rất nhiều hộ người trào phát triển rừng ở vùng người Dao sinh sống Dao ở nơi đây có nguồn thu lớn từ việc trồng chuối ngày càng tăng từ những năm cuối thế kỷ XX, do và dứa để bán sang Trung Quốc8. đồng bào tuy sống ở gần rừng nhưng đã chủ yếu Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, sự đổi mới trong canh tác ở ruộng bậc thang, chuyển dần diện tích đất trồng trọt nông nghiệp của đồng bào Dao ở nước ta nương du canh sang trồng rừng, khoanh nuôi và bảo do tác động tích cực từ các chính sách dân tộc của vệ các khu rừng tái sinh kết hợp trồng những cây Đảng và Nhà nước, nhất là chính sách định canh định lâu năm có giá trị hàng hóa. Vì vậy: “Nếu như trước cư, chính sách ưu tiên giáo dục cho con em dân tộc đây người Dao phá rừng thì nay đã có 30% số lao thiểu số và gần đây là các chương trình 135, 134,... động đi bảo vệ, kinh doanh rừng, lấy nghề rừng làm cùng các chính sách xóa đói giảm nghèo khác. phương thức sản xuất chính để ổn định cuộc sống”11. 2. Phát triển rừng và cây trồng lâu năm Chẳng hạn như tỉnh Bắc Giang, từ những năm 90 thế kỷ XX người Dao ở nhiều thôn bản thuộc các huyện Người Dao có tập quán bảo vệ rừng từ lâu đời, Lục Ngạn, Lục Nam, Sơn Động,... đã nhận đất để nên đã hình thành các quy ước bất thành văn trong trồng cây gây rừng, bảo vệ rừng tái sinh, làm cho mỗi cộng đồng, liên quan tới khai thác sử dụng và hàng ngàn ha rừng được chăm sóc, trồng mới. Cụ thể bảo vệ rừng, bảo vệ các nguồn tài nguyên tại nơi cư là nhiều hộ người Dao tại các xã Trường Sơn, Lục trú, đặc biệt là các cây thuốc Nam và những sản vật Sơn, Bình Sơn của huyện Lục Nam đã nhận chăm quý hiếm trong rừng: “Các làng người Dao đã sử sóc nhiều ha rừng dẻ trám và rừng tái sinh; trong khi dụng hương ước, đặt ra các quy định cấm khai thác, đó mỗi hộ gia đình người Dao ở các thôn Đồng Sim, phá rừng đầu nguồn; sử dụng tín ngưỡng và luật tục Nghẽo,... thuộc xã Tuấn Đạo huyện Sơn Động đều nhằm,... bảo về các khu rừng chung của cộng đồng”9. nhận chăm sóc khoảng 1 - 5 ha rừng, riêng gia đình Điền dã vào năm 2001 tại xã Tả Phìn, huyện Sa Pa ông Lý Văn Tư nhận tới 3 ha rừng lim nguyên sinh, (tỉnh Lào Cai) cho thấy, đến nay người Dao Đỏ nơi cho thu nhập trung bình mỗi hộ khoảng 2 - 3 triệu đây vẫn rất chú trọng bảo vệ môi trường rừng, bởi đồng/năm vào năm 199412. hầu hết các khu vực xung quanh những ngôi nhà ở và trong phạm vi thôn Tả Chải đều tồn tại các loại Tại tỉnh Quảng Ninh, việc khoanh nuôi, bảo cây rừng lâu năm, trong khi các khu rừng ấy có rất vệ rừng ở các thôn bản người Dao được phát triển nhiều cây thuốc quý như dứa dại lá tím, riềng, trinh nhanh chóng tại một số huyện như Quảng Hà, Ba nữ, lạc tiên, cây mua, xa nhân, quế chi, mã đề, củ Chẽ, Bình Liêu, Tiên Yên,... Trong đó, điển hình mài, bách bộ, dương xỉ,... Một thực tế khá phù hợp là xã Tân Dân huyện Hoành Bồ, bởi nơi đây người với tâm lý một số cộng đồng người Dao đã được tác Dao sống tập trung đông đúc. Tư liệu điền dã đã giả Diệp Đình Hoa phát hiện khi nghiên cứu về tập chỉ ra rằng, từ năm 1991 chính quyền xã Tân Dân quán bảo vệ và chăm sóc rừng của người Dao Tiền đã phát động phong trào trồng rừng và bảo vệ rừng. ở huyện Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình): “Người Dao ở Nhờ đó, các hộ người Dao trong xã Tân Dân đã Đà Bắc có một đặc điểm chung là rất chú trọng đến trồng được trên 12.000 cây bạch đàn Úc, trồng công việc chăm nom, săn sóc vườn nhà, vườn rừng. rừng phòng hộ được 26,5 ha; riêng năm 1993, bằng Những khu rừng được giao khoanh nuôi hay bảo vệ nguồn vốn định canh định cư của Nhà nước, người đều được giữ gìn cẩn thận, nhất là khu rừng quanh Dao ở các thôn bản của xã này đã trồng được 300 ha bản. Ngược lại, họ cũng rất tích cực đi đốt nương ở rừng bạch đàn phân tán, tăng 78.000 cây so với số những nơi khác, hoặc đi lấy gỗ ở những khu rừng cây đã trồng vào năm 1991; còn việc khoanh nuôi còn chưa được bảo vệ cẩn thận...”10. Nhận định này chăm sóc bảo vệ rừng, năm 1991 đã phát triển được của tác giả là khá chính xác đối với không ít cộng 600 ha, năm 1992 được 1.700 ha, năm 1993 được đồng người Dao ở nhiều địa phương, bởi từ lâu đời 1.080 ha, đưa tổng diện tích rừng được chăm nuôi đồng bào rất quan tâm bảo vệ rừng cùng các nguồn bảo vệ của toàn xã lên đến 2.780 ha13. lợi tự nhiên ở quanh nhà và trong phạm vi ranh giới 11. Trịnh Bá Bảo, (1998), Kinh tế, xã hội người Dao Việt Nam thời kỳ 1970 - địa vực thôn bản để điều hòa nguồn nước cho sinh 1995, Trong: Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia (1998), Sự hoạt và sản xuất. Song, họ cũng tranh thủ đi phát phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai, Sđd, tr.205. 12. Lâm Văn Thăng, (1998), Sự phát triển kinh tế - đời sống và một số mô hình 8. Bùi Xuân Đính, (2011), Suy nghĩ về sự ổn định của biên giới từ thực tế phát làm ăn giỏi của người Dao ở Hà Bắc hiện nay, Trong: Trung tâm Khoa học triển kinh tế ở hai vùng biên giới Việt - Trung (Bài tham luận tại Hội nghị xã hội và Nhân văn Quốc gia (1998), Sự phát triển văn hóa xã hội của người Thông báo Dân tộc học năm 2011), Hà Nội, tr.2-3. Dao: Hiện tại và tương lai, Sđd, tr.228-229. 9. Trần Hữu Sơn, Bàn Khánh Thanh, (2011), Văn hóa ứng xử của người Dao Đỏ 13. Lê Duy Đại, (1998), Phát triển kinh tế và phân hóa giàu nghèo của người với môi trường tự nhiên qua khai khẩn ruộng bậc thang ở Sa Pa, Tlđd, tr.11. Dao xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh - Thực trạng và những 10. Diệp Đình Hoa, (1998), Người Dao ở xóm Yên (xóm Suối Yên), Trong: vấn đề đặt ra, Trong: Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia (1998), Sự phát triển văn (1998), Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai, hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai, Sđd, tr.216. Sđd, tr.274. Số 23 - Tháng 9 năm 2018 115
  4. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN Có điều đáng lưu ý đối với người Dao là, phát 1993 - 1994 đã có cả một đồi quế với hơn 3 trăm triển và bảo vệ rừng luôn gắn với gieo trồng những cây và lúc đó đã có người ở ngoài huyện Hoành Bồ cây có giá trị kinh tế, đặc biệt cây quế đã được biết vào định mua cả đồi với giá tương đương ba cây đến và phổ biến tại một số vùng. Ví dụ như tỉnh rưỡi vàng nhưng ông Hồng chưa muốn bán,...16 Yên Bái, đến năm 1994 chỉ riêng huyện Văn Yên Ngoài cây quế, tùy theo điều kiện tự nhiên ở địa đã có 5.650 ha cây quế, trong khi quế của người phương, người Dao còn quan tâm trồng các loại cây Dao đã là 5.210 ha, tức chiếm 90% diện tích trồng ăn quả có giá trị hàng hóa như vải ở huyện Lục quế toàn huyện, song dân số người Dao nơi đây chỉ Ngạn (tỉnh Bắc Giang), cam và quýt ở huyện Bạch chiếm 21,1% tổng dân số của huyện14. Qua kết quả Thông (tỉnh Bắc Kạn), dứa và chuối ở huyện Bảo khảo sát vào năm 2008, các hộ gia đình người Dao Thắng (tỉnh Lào Cai),... Ví dụ như việc phát triển Đỏ ở thôn Khe Giang và các thôn khác của xã Đại kinh tế vườn với loại cây trồng chủ yếu là vải thiều Sơn, huyện Văn Yên, đều đua nhau trồng quế. Để đã trở thành phong trào từ những năm 90 thế kỷ XX quế phát triển nhanh, hàng năm người ta vẫn trồng của người Dao các xã thuộc hai huyện Lục Nam và xen ngô và hoa màu khi cây còn nhỏ kết hợp bón Lục Ngạn, tỉnh Hà Bắc trước đây. Cụ thể gia đình nhiều phân chuồng vừa để hạn chế cây cỏ phát triển ông Triệu Sinh Phúc ở bản Na Lang, xã phong Minh vừa có phân ngấm vào đất nuôi dưỡng cây quế, chỉ (huyện Lục Ngạn) đã trồng hơn 300 cây vải thiều khoảng sau 7 - 10 năm thì cho thu hoạch. Vì vậy, và cho thu hoạch vào năm 1994; đồng bào Dao ở những hộ có quế đủ tuổi khai thác đều có thu nhập bản Tân Mộc cùng xã Phong Minh có 21 hộ vào đáng kể, trung bình mỗi năm khoảng 5 - 10 triệu năm 1994 thì mỗi hộ trồng trên 50 cây vải, trong đồng, ít nhất là 2 - 4 triệu và nhiều là trên 20 triệu, đó 5 hộ mỗi hộ trồng trên 200 cây vải thiều,...17. thậm chí trên 50 triệu đồng vào thời điểm đó. Đồng Chưa kể tới người Dao ở một số địa phương như bào không chỉ khai thác cây quế bóc lấy vỏ bán và Ba Vì (Hà Nội), Sa Pa (Lào Cai), Yên Lập (Phú đem xuất khẩu, mà còn lấy lá quế về nấu cao bán Thọ), Đồng Hỷ (Thái Nguyên), huyện Hoành Bồ với giá khoảng 100 nghìn - 200 nghìn đồng/lít tuỳ (Quảng Ninh),... còn phát triển cây thuốc Nam để theo biến động giá cả thị trường ở địa phương. Do bán ra thị trường không chỉ tại địa phương mà đến vậy, cuộc sống của người Dao ở đây được nâng cao, tận nhiều tỉnh và thành phố khác. Bởi vì, chữa bệnh họ xây dựng rất nhiều nhà xây kiên cố từ cấp 4 đến bằng những cây thuốc tìm kiếm trong rừng hoặc cao tầng; trong thôn có đủ các dịch vụ sửa chữa xe trồng quanh nhà kết hợp buôn bán các cây thuốc máy, ăn uống, mua bán tạp hoá; chợ xã cũng đủ các này đã trở thành tập quán của đồng bào Dao. Hiện loại hàng hoá để mua, bán... nay, dưới tác động của cơ chế thị trường, tập quán Ngoài tỉnh Yên Bái, người Dao ở các tỉnh Lào đó càng có điều kiện phát huy, phát triển thành một Cai, Quảng Ninh,... cũng có phong trào trồng cây trong những nghề khá phổ biến của đồng bào, cho quế. Chẳng hạn như ở xã Phong Hải, huyện Bảo thu nhập đáng kể, ví dụ như đối với người Dao ở Thắng (tỉnh Lào Cai), phong trào này đã được phát xã Ba Vì, huyện Ba Vì (Thành phố Hà Nội): “Tổng triển từ giữa những năm 80 thế kỷ XX, điển hình là thu nhập năm 2012 toàn xã là 13.87.000.000 đồng; người Dao Tuyển ở thôn Khởi Khe: “Ở Khởi Khe đã trong đó, thu nhập từ trồng trọt chiếm 57%, từ dịch xuất hiện nhiều mô hình hộ gia đình sản xuất giỏi, vụ thuốc Nam chiếm 25%, từ chăn nuôi chiếm 7%, tạo một chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh và khoa các ngành nghề khác chiếm 11%”18. học. Tiêu biểu như gia đình ông Bàn Khánh Hưởng trưởng bản đã trồng 2 vạn cây quế. Trong đó, 5.000 Rõ ràng, khi kinh tế thị trường phát triển cùng cây cho thu hoạch, mỗi năm từ quế và vườn rừng với tác động có hiệu quả của các chính sách của của ông được khoảng 40 triệu đồng...” 15. Kết quả Nhà nước, nhất là từ khi thực thi chính sách giao nghiên cứu tại thực địa cũng cho thấy, do cây quế ít đất giao rừng, do người Dao chủ yếu canh tác trên bị sâu bệnh và không quá kén đất nên được người ruộng bậc thang và nương rẫy định canh, nên có Dao gieo trồng ở khắp nơi: Trên các sườn núi có điều kiện phát huy tập quán bảo vệ rừng và gieo độ dốc từ 250 trở lên, ở chân các quả đồi và dãy núi trồng những cây lâu năm có giá trị hàng hóa để tạo thấp có độ dốc dưới 250, thậm chí có hộ gia đình còn ra thu nhập ngày càng cao so với canh tác nương trồng quế ở ven vườn nhà và cả xung quanh nhà. rẫy. Vì vậy, theo nghiên cứu của một số tác giả, vào Riêng tỉnh Quảng Ninh, người Dao tại các huyện những năm 90 thế kỷ XX, tỷ lệ thu nhập của người Hoành Bồ, Quảng Hà,... đều phát triển cây quế từ 16. Trần Văn Hà, (1998), Những yếu tố tác động đến sự hiểu biết về tiến bộ kỹ khá lâu. Cụ thể như hộ gia đình ông Hồng - Phó chủ thuật nông nghiệp của người Dao tại một xã ở miền Bắc Việt Nam, Trong: tịch xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ vào những năm Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia (1998), Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai, Sđd, tr.263. 14. Hoàng Nam, (1998), Nghề trồng quế của người Dao ở Văn Yên (Yên Bái), 17. Lâm Văn Thăng, (1998), Sự phát triển kinh tế - đời sống và một số mô hình Trong: Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, (1998), Sự phát làm ăn giỏi của người Dao ở Hà Bắc hiện nay, Trong: Trung tâm Khoa học xã triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai, Sđd, tr.208, 213. hội và Nhân văn Quốc gia (1998), Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: 15. Vi Văn Đông, (1998), Ứng xử của người Dao Tuyển ở Khởi Khe với môi Hiện tại và tương lai, Sđd, tr.228-229. trường, Trong: Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, (1998), 18. Chử Thị Thu Hà, (2015), Văn hóa vật chất của người Dao ở Ba Vì, Hà Nội Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai, Sđd, trong bối cảnh hiện nay, Luận án tiến sĩ Nhân học, thư viện Quốc gia Hà Nội tr.240, 241. và thư viện Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.31. 116 Số 23 - Tháng 9 năm 2018
  5. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN Dao đã là: (1) Thu nhập từ nông nghiệp là 54,77%; Thứ ba, vấn đề giá cả nông sản thấp so với thu (2) Thu nhập từ nghề rừng là 36,30%; (3) Ngành nhập từ một số ngành nghề phi nông nghiệp, trong nghề khác có thu nhập khoảng 8,93%19. khi đồng bào cần phải chi tiêu hàng ngày bao gồm 3. Những vấn đề đặt ra tiền mua sắm, tiền đầu tư sản xuất, tiền xăng xe đi lại, tiền điện thoại, tiền học cho con cháu, chưa Dưới tác động của quá trình đổi mới, đặc biệt kể các khoản khác như tiền thăm viếng, hiếu hỷ,... là các chính sách dành cho dân tộc của Đảng và Vì vậy, trong phần lớn nam nữ thanh niên và trung Nhà nước, hoạt động trồng trọt ở vùng người Dao niên người Dao ở nhiều địa phương hiện nay đều đi đã có những biến đổi vượt bậc so với trước đây về ra các thành phố tìm kiếm việc làm, ở quê nhà chỉ hình thức và quy trình cũng như cách thức canh tác, những người già vừa trông nom các cháu nhỏ vừa cơ cấu cây trồng, sự đa dạng sản phẩm,... Nhờ đó, tiếp tục canh tác ruộng bậc thang và trồng một số các hộ gia đình người Dao ở các địa phương bất kể cây hoa màu cho chăn nuôi. Vấn đề này tuy đã được vùng thấp hay vùng cao đều có thu nhập ngày càng dự báo từ năm 1995 tại Hội thảo quốc tế lần thứ cao từ trồng trọt, góp phần ổn định đời sống kinh VII về người Dao được tổ chức ở thành phố Thái tế, từng bước vươn lên hòa nhập về mọi mặt với Nguyên20. Song, đến nay vẫn trong tình trạng ngày các tộc người láng giềng. Song, về lâu dài cũng như càng nhiều người dân ở vùng người Dao tự phát đi trước mắt vẫn còn không ít vấn đề đặt ra, cần được ra các thành phố tìm kiếm việc làm có thu nhập cao các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu để đưa ra hơn so với sản xuất nông nghiệp tại quê hương. những giải pháp thích hợp, trong đó có một số vấn đề như sau: Thứ tư, vấn đề thiếu nguồn vốn tài chính, đặc biệt là thiếu kiến thức khoa học - kỹ thuật, dẫn đến Thứ nhất, vấn đề bấp bênh về thu nhập liên quan canh tác không bền vững. Trong khi đó, sản xuất tới phát triển những loại cây có giá trị hàng hóa. nông nghiệp ở vùng đồng bào mang tính tự phát Mỗi khi vài gia đình trong thôn/bản hoặc ở các do từng hộ gia đình quyết định thậm chí cạnh tranh thôn/bản láng giềng trồng một loại cây mới đem nhau, chưa có sự liên kết giữa các hộ để có người bán cho thu nhập đáng kể thì các gia đình khác đua đứng đầu với trách nhiệm chỉ đạo, lo các khâu đầu nhau thành phong trào của toàn thôn/bản, thậm chí vào và đầu ra,... Vì thế, đối với đồng bào, trồng trọt cả vùng dẫn đến tình trạng cung lớn hơn cầu, tức giá hiện nay vẫn trong tình trạng sản lượng thu hoạch cả năm sau thấp hơn năm trước do bị ép giá, mặc bấp bênh, phụ thuộc nhiều vào thời tiết, chất lượng dù giá trị đồng tiền năm sau không bằng năm trước. giống, hiệu quả việc phòng trừ sâu bệnh và tình Đó là các trường hợp đua nhau phát triển ồ ạt cây hình giá cả thị trường, nếu giá cả xuống thấp thì bà ngô lai và sắn cao sản trong vài năm trước đây, còn con không kịp ứng phó, ồ ạt chuyển sang trồng cây hiện nay là tình hình sản xuất cây dong riềng ở một khác rồi lại thua lỗ,... Đây cũng là một trong những số địa phương thuộc các tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng. nguyên nhân khiến lớp trẻ người Dao gần đây có Để giải quyết vấn đề này, cần có sự quy hoạch của nhu cầu đi ra các thành phố tìm kiếm việc làm tại các cấp các ngành, đặc biệt là đổi mới tư duy quản các công ty liên doanh. lý và phát triển kinh tế của đội ngũ cán bộ thôn/bản, chính quyền địa phương. Một vài nhận xét Thứ hai, vấn đề bảo tồn các giống cây trồng Dưới tác động của cơ chế thị trường, nhất là sự truyền thống có giá trị kinh tế cao nhưng cho năng đổi mới thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và suất không cao. Trước đây do chủ yếu canh tác trên Nhà nước, hoạt động trồng trọt trong những năm nương rẫy nên người Dao có rất nhiều giống cây qua ở vùng người Dao nước ta đã có sự biến đổi trồng quý hiếm, cho sản phẩm có chất lượng về giá nhanh chóng. Đó là việc chú trọng canh tác ruộng trị kinh tế, song đều là các giống cây dài ngày và bậc thang với các giống lúa mới cho năng suất cao, kén đất, trong khi năng suất thu hoạch thấp, nên đã tăng dần diện tích nương định canh để trồng các loại bị đào thải dần và nay hầu như không còn duy trì do cây lai, nhất là ngô và sắn để bán ra thị trường. Tùy chủ yếu canh tác trên ruộng bậc thang và trên nương điều kiện ở địa phương, đồng bào còn phát triển định canh với các giống mới. Đó là các giống lúa các cây có giá trị hàng hoá như quế, thuốc Nam, nương thơm ngon dẻo gồm lúa tẻ và lúa nếp, ngô cây ăn quả,... Đặc biệt, người dân đã chú ý hơn đến nếp trắng hoặc hoa giống địa phương, các giống trồng rừng, khoanh nuôi và bảo vệ rừng để từng dưa trồng xen với lúa nương, các loại đậu trồng bước phát triển nông lâm kết hợp. xen với ngô hoặc gieo trồng riêng, các loại củ,... Rõ Những biến đổi về hình thức và cách thức canh ràng, sự biến đổi trong trồng trọt hiện nay ở vùng tác, áp dụng các giống mới nhất là những cây có giá người Dao cần gắn với giải pháp bảo tồn các giống trị hàng hóa, đồng thời chú trọng phát triển nghề cây trồng truyền thống có giá trị cao về kinh tế. rừng là hướng đi tích cực, tạo được tính năng động 19. Nguyễn Khánh Quắc và Từ Quang Hiển, (1998), Tình hình kinh tế, đời Jacques Lemoine, (1998), Khái quát về di sản văn hoá Dao và hiện đại 20. sống của người Dao hiện nay, Trong: Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân hoá ở Việt Nam, Trong: Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, văn Quốc gia, (1998), Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại (1998), Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai, và tương lai, Sđd, tr.253. Sđd, tr.391-399. Số 23 - Tháng 9 năm 2018 117
  6. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN trong hoạt động sinh kế của mỗi hộ gia đình người [3] Chử Thị Thu Hà, (2015), Văn hóa vật chất Dao. Do vậy, đời sống của đồng bào Dao ở hầu của người Dao ở Ba Vì, Hà Nội trong bối cảnh hiện khắp các địa phương hiện nay đều được nâng cao, nay, Luận án tiến sĩ Nhân học, Thư viện Quốc gia Hà ngày càng xuất hiện nhiều hộ gia đình làm ăn khá Nội và Thư viện Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội; và giỏi, có tỷ trọng thu nhập đáng kể từ việc chuyển [4] Trần Văn Hà, (Chủ biên, 2007), Phát triển đổi cơ cấu kinh tế. nông thôn miền núi và dân tộc trong thời kỳ kinh tế Tuy nhiên, những biến đổi liên quan đến tập chuyển đổi, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội; quán trồng trọt của người Dao vẫn còn không ít vấn [5] Phạm Quang Hoan, Hùng Đình Quý, (Chủ đề đặt ra. Do đó, dân tộc Dao cũng như nhiều dân biên, 1999), Văn hóa truyền thống người Dao ở Hà tộc láng giềng rất cần sự tiếp tục hỗ trợ từ phía Nhà Giang, NXB. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội; nước, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn, các cơ [6] Lý Hành Sơn, (1995), Nương rẫy truyền sở đào tạo và các cơ quan chức năng đối với việc thống của người Dao ở Cao Bằng, Tạp chí Dân tộc tư vấn kỹ thuật trồng trọt, tiêu thụ sản phẩm, tạo ra học, số 3, tr.64-73; những việc làm mới, đào tạo nhân lực, nhất là đào tạo những ngành nghề có thể áp dụng và phát triển [7] Trần Hữu Sơn, Bàn Khánh Thanh, (2011), tại địa phương. Văn hóa ứng xử của người Dao Đỏ với môi trường tự nhiên qua khai khẩn ruộng bậc thang ở Sa Pa, Tài liệu tham khảo Tạp chí Dân tộc học, số 4, tr.3-12; [1] Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở [8] Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn, Trung ương, (2010), Báo cáo kết quả chính thức (2001), Các dân tộc ở Bắc Kạn, NXB. Thế giới và Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009, NXB. Tạp chí Dân tộc & Thời đại, Hà Nội; Tổng cục Thống kê, Hà Nội; [9] Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn [2] Bùi Xuân Đính, (2011), Suy nghĩ về sự ổn Quốc gia, (1998), Sự phát triển văn hoá xã hội định của biên giới từ thực tế phát triển kinh tế ở người Dao: Hiện tại và tương lai, Kỷ yếu Hội thảo, hai vùng biên giới Việt - Trung (Bài tham luận tại Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia Hội nghị Thông báo Dân tộc học năm 2011), Hà xuất bản, Hà Nội. Nội, tr. 2-3; CULTIVATING IN THE DAO ETHNIC GROUP AREA IN OUR COUNTRY TODAY, CHANGES AND ISSUED MATTERS Ly Hanh Sơn – Ly Cam Tu Abstract: From the fieldwork materials combined with the document overview, the article content has generalized some general changes related to the cultivation custom of the Dao ethnic group in our country today, which shows the issued matters. Under the influence of the market mechanism, especially the renewal of the Party’s and State’s ethnic policies, cultivation activities in Dao ethnic group localities have changed dramatically in the past time. The living conditions of the ethnic groups have been improved, the area of the terraced fields has been expanded, the structure of crops has been diversified, the food security has been stabilized, the forest protection custom has been promoted… However, besides the challenges of raising incomes, promoting traditional cultivars, sustainable cultivation,... they need support from the State and enterprises in the locality. training institutions and functional agencies. Keywords: Cultivation; Changes; Dao ethnic group; Cultivating in Dao ethnic group area; Sustainable livelihoods. 118 Số 23 - Tháng 9 năm 2018

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản