intTypePromotion=3

TRỮ LẠNH PHƠI V TRỨNG TRONG HỖ TRỢ SINH SẢN

Chia sẻ: Nguyen Uyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
49
lượt xem
8
download

TRỮ LẠNH PHƠI V TRỨNG TRONG HỖ TRỢ SINH SẢN

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trữ lạnh phôi Từ khi đứa bé đầu tiên ra đời vào năm 1983, trữ lạnh phôi hiện nay được xem là một trong những kỹ thuật thường quy của các trung tâm TTTON hiện đại. Thống kê cho thấy trên thế giới, chuyển phôi sau trữ lạnh chiếm khoảng 20% các chu kỳ chuyển phôi, với tỷ lệ thai lâm sàng dao động trong khoảng 7.9 – 27.9%. Phôi có thể được trữ ở giai đoạn tiền nhân, đang phân chia hay giai đoạn phôi nang. Nhiều nghiên cứu cho thấy một số yếu tố có thể ảnh...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: TRỮ LẠNH PHƠI V TRỨNG TRONG HỖ TRỢ SINH SẢN

  1. TRỮ LẠNH PHƠI V TRỨNG TRONG HỖ TRỢ SINH SẢN Trữ lạnh phôi Từ khi đứa bé đầu tiên ra đời vào năm 1983, trữ lạnh phôi hiện nay được xem là một trong những kỹ thuật th ường quy của các trung tâm TTTON hiện đại. Thống kê cho thấy trên thế giới, chuyển phôi sau trữ lạnh chiếm khoảng 20% các chu kỳ chuyển phôi, với tỷ lệ thai lâm sàng dao động trong khoảng 7.9 – 27.9%. Phôi có thể được trữ ở giai đoạn tiền nhân, đang phân chia hay giai đoạn phôi nang. Nhiều nghiên cứu cho thấy một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ thành công của một chu kỳ chuyển phôi trữ lạnh như tuổi người vợ, chất lượng phôi và giai đoạn phát triển của phôi trước trữ lạnh, khả năng phân chia của phôi sau khi rã đông 24 tiếng. Tại bệnh viện Từ Dũ, trữ lạnh phôi đ ược triển khai từ 03/2002. Cho đến cuối năm 2004 đã có trên 900 chu kỳ trữ lạnh, với tổng số phôi được trữ là 4328 phôi. Tỷ lệ bệnh nhân có phôi trữ chiếm khoảng 30% các chu kỳ chọc hút trứng. Phác đồ trữ lạnh hiện được chúng tôi sử dụng là hạ nhiệt độ dần, với chất bảo quản đông lạnh
  2. PROH và succrose. Chỉ những phôi nào có chất lượng khá-tốt mới được trữ (phôi giai đoạn 4-6 tế bào, phôi bào đều, tỷ lệ fragment dưới 25%). Kết quả một nghiên cứu được tiến hành tại bệnh viện trên 164 chu kỳ chuyển phôi trữ cho thấy tỷ lệ phôi sống sau rã đông đạt 88.5%, với tỷ lệ thai lâm sàng sau chuyển phôi là 28%. Nghiên cứu cũng cho thấy sau rã đông, nếu có sự hiện diện của ít nhất một phôi với toàn bộ phôi bào còn nguyên vẹn thì tỷ lệ thai lâm sàng tăng gấp ba (35.5% so với 11.1%). Trữ lạnh trứng Trữ trứng hiện là một kỹ thuật đang được quan tâm nhiều vì những ích lợi như (1) cho phép người phụ nữ trì hoãn tuổi sinh đẻ, (2) tránh những rắc rối về mặt luật pháp, tôn giáo của trữ lạnh phôi, đặc biệt ở những nước mà trữ phôi không được phép thực hiện, (3) thành lập ngân hàng trứng, nâng cao tính thuận lợi và an toàn của kỹ thuật và (4) giúp những phụ nữ có nguy cơ bị vô sinh do phải hóa trị, xạ trị vì các bệnh lý ác tính duy trì khả năng sinh sản. Đứa bé đầu tiên trên thế giới ra đời từ trứng trữ lạnh được ghi nhận vào năm 1986. Cho đến năm 2004, thống kê cho thấy trên thế giới có khoảng 40 bé trữ lạnh trứng ra đời, và trên dưới 60 trường hợp thai đang tiến triển. Tỷ lệ thai lâm sàng từ các chu kỳ trứng trữ lạnh hiện còn khá thấp và không ổn định. Người ta ước tính cần phải rã đông khoảng 100 trứng thì mới có một trường hợp mang thai thành công. Nguyên nhân của thành công thấp có thể là (1) cấu trúc di truyền đặc biệt của
  3. trứng, khi các nhiễm sắc thể đang trong giai đoạn phân chia và xếp trên mặt phẳng xích đạo, (2) tổn thương của các cấu trúc nội bào do quá trình trữ lạnh-rã đông và (3) trứng người là một tế bào có kích thước lớn nhất cơ thể, với lượng nước bên trong chiếm khá nhiều. Để khắc phục những khó khăn trên, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành tại các trung tâm lớn. Trứng có thể được trữ ở giai đoạn GV hay giai đoạn tr ưởng thành (M II). Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sống sau rã đông của trứng giai đoạn GV cao hơn so với giai đoạn M II. Tuy nhiên, trứng được trữ ở giai đoạn GV, sau khi r ã cần được nuôi cấy trong môi trường in vitro để có thể phát triển đến giai đoạn trưởng thành (IVM). ICSI cũng được đề cập như một phương pháp thụ tinh thường quy trong trữ lạnh trứng, nhằm khắc phục tỷ lệ thụ tinh thấp do những thay đổi cấu trúc của màng zona. Ngoài ra, thay đổi nồng độ chất bảo quản đông lạnh, thời gian tiếp xúc với môi trường hay trữ lạnh với sự hiện diện của các tế bào quanh noãn… đang là những vấn đề còn gây tranh cãi. Nhìn chung, tỷ lệ trứng sống sau rã đông dao động khoảng 50-70%, tỷ lệ thụ tinh vào khoảng trên dưới 50% và tỷ lệ phôi phân chia giảm thấp rõ rệt. Tại bệnh viện Từ Dũ, chương trình trữ lạnh trứng được chính thức triển khai từ tháng 08/2003. Đối tượng của chương trình là những cặp vợ chồng có chỉ định làm TTTON, người chồng không lấy được tinh trùng vào ngày chọc hút trứng và không có mẫu tinh trùng trữ trước đó. Tối đa 07 tiếng sau khi chọc hút trứng, nếu người chồng vẫn không lấy được tinh trùng và không có tinh trùng trữ trước đó,
  4. trữ lạnh trứng được tiến hành. Lớp tế bào quanh noãn được tách một phần bằng phương pháp cơ học. Trứng sau khi tách sẽ đ ược cho tiếp xúc với các môi trường trữ lạnh, với nồng độ PROH và succrose tăng dần trong khoảng thời gian thích hợp. Quá trình hạ nhiệt độ được thực hiện bằng hơi nitơ lỏng, thông qua sự trợ giúp của hệ thống hạ nhiệt độ đã cài đặt chương trình phù hợp. Khi nhiệt độ đạt đến -150oC, mẫu trữ được đem bảo quản ở nhiệt độ -196oC. Khi bệnh nhân có nhu cầu sử dụng trứng trữ, người vợ sẽ được chuẩn bị niêm mạc tử cung bằng nội tiết ngoại sinh. Hai ngày trước khi dự định chuyển phôi, trứng được lấy ra khỏi nitơ lỏng và quá trình rã đông bắt đầu. Sau khi làm tăng nhiệt độ trong không khí và trong nước ấm 30oC, trứng sẽ được cho vào các môi trường rã đông với nồng độ PROH và succrose giảm dần. Trứng sau khi rã đông sẽ được nuôi trong môi trường nuôi cấy, và để trong tủ cấy 37oC, 5%CO2 trong khoảng 2 tiếng. Quá trình thụ tinh được thực hiện toàn bộ bằng ICSI. Quy trình nuôi cấy phôi, chuyển phôi, hỗ trợ hoàng thể diễn ra tương tự như với các chu kỳ chọc hú t trứng bình thường. Cho đến nay đã có chín trường hợp có trứng được trữ lạnh và rã đông. Tổng số trứng rã đông là 109 (có một trường hợp còn 11 trứng sau khi rã đông lần 1). Tỷ lệ trứng sống sau rã đông là 91.7% (100/109), t ỷ lệ thụ tinh bình thường là 72.8% (67/92), tỷ lệ phôi phát triển là 51.1% (47/92). Số phôi chuyển trung bình là 4.1 ± 1.2 phôi, độ dày NMTC trung bình là 11.5 ± 1.5mm. Tỷ lệ thai lâm sàng đạt được ở mức 33.3% (3/9).

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản