
Trưng Nữ Vương - Hai Bà Trưng

Anh Thư Khởi Nghĩa Mở Đường
Năm Giáp Ngọ (34) là năm Kiến Võ thứ 10, vua Quang Vũ sai Tô
Định sang làm Thái thú quận Giao Chỉ. Tô Định là người bạo ngược, thường
sử dụng những thủ đoạn chính trị tàn ác, nên bị người Giao Chỉ rất oán giận.
Hai Bà Trưng là con gái của một lạc tướng huyện Mê Linh(làng Hạ
Lôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên), một trong 12 huyện của quận Giao
Chỉ. Hai Bà thuộc giòng giõi Vua Hùng, mẹ Hai Bà là bà Man Thiện Trần
Thị Ðoan. Chồng bà Man Thiện mất sớm, bà ở vậy trồng dâu nuôi tằm,
chăm lo nuôi dạy hai con gái và cho con học võ nghệ với ông Ðỗ Năng Tế
(khi Hai Bà phất cờ khởi nghĩa, ông thầy dạy võ nầy trở thành vị tướng đắc
lực của Hai Bà).
Dưới thời Ðông Hán, chánh sách đồng hóa vô cùng khốc liệt xuyên
vào các đơn vị làng kẻ của người Việt. Chính quyền cho mở các trường dạy
chữ Hán để dùng người địa phương làm tay sai. Từng lớp trí thức và một số
người Việt đã bắt đầu tiếp thu văn hóa Hán và học đòi lễ nghi, cung cách
ứng xử của người Hán. Nhưng cũng có các trí thức yêu nước nhân cơ hội
nầy mở các lớp học bên ngoài dạy chữ Hán nhưng bên trong truyền bá lòng
yêu nước trong giới trẻ. Bà Man Thiện hết lòng khuyến khích con gái nhân

dịp nầy cố gắng giao thiệp rộng, tiếp xúc với các lạc hầu, lạc tướng chung
quanh vùng hầu chuẩn bị cho việc khởi nghĩa sau nầy.
Năm 19 tuổi Bà Trưng Trắc về làm vợ ông Thi Sách, một lạc tướng
huyện Chu Diên (phủ Vĩnh Tường, trước thuộc về Sơn Tây, nay thuộc tỉnh
Vĩnh Yên). Sự kết hôn giữa hai gia đình danh giá của hai huyện Mê Linh và
Chu Diên tạo ra uy danh lớn trong quận Giao Chỉ. Ông Thi Sách và Bà
Trưng Trắc đã hiệp lực vạch ra sách lược khởi nghĩa chống quân cai trị nhà
Hán giành lại độc lập và bảo vệ nòi giống Việt.
Ông bà đã bí mật hình thành một tổ chức có tên là Núi Tản - Sông
Cái. Tổ chức được đa số nhân dân các quận ủng hộ. Ðể tránh sự dòm ngó
của Tàu, người trong tổ chức truyền nhau mật lệnh và các dấu hiệu để nhận
nhau. Khi ra đường họ nhận nhau bằng cách chào quyết tâm, bốn ngón tay
của bàn tay trái nắm lấy lóng thứ nhất ngón cái của bàn tay trái và để ngón
cái bàn tay phải lên lóng thứ hai của ngón cái bàn tay trái, ba ngón kia để
xen kẽ giữa các ngón tay của bàn tay trái và ngón út bàn tay phải nằm trên
ngón út bàn tay trái. Trong nhà họ nhận nhau bằng tấm khăn điều phủ lên giá
gương hay trên bài vị
Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng
Tổ chức bí mật nầy dần dà mở rộng khắp các quận trên đất Việt. Ðâu
đâu người dân cũng đều đợi chờ ngày khởi nghĩa để giải phóng dân tộc ra
khỏi lầm than và nô lệ. Nhưng chẳng bao lâu, tổ chức bí mật Núi Tản Sông
Cái bị bại lộ, ông Thi Sách bị Tô Ðịnh bắt giết. Tin buồn chấn động khắp
các châu quận làm dân chúng càng thêm căm hận.
Hai Bà cố nén đau thương cùng cực, nắm lấy cơ hội phát động ngay
cuộc khởi nghĩa và lập Đàn Thề tại vùng sông Hát (Hát Môn, Phúc Lộc ,
tỉnh Sơn Tây) chiêu tập binh sĩ ... thấy nếu cứ để các nơi đơn độc chống đỡ
với kẻ thù, không có sự liên kết với nhau, thì kẻ thù sẽ lần luột tiêu diệt từng
nơi, như bẻ từng chiếc đũa. Thấy rõ nguy cơ đó, Hai Bà Trưng đã truyền
hịch cứu nước và cử người đi khắp nơi để tập hợp lực lượng dưới ngọn cờ
chỉ huy thống nhất của Trưng Nữ Vương. Các nơi đã nhiệt liệt hưởng ứng,
kéo quân hoặc cử đại biểu về Mê Linh tụ nghĩa.
Mùa xuân năm Canh Tý (3-40), Trưng Nữ Vương hội quân ở Hát
Môn làm lễ tế cờ chính thức phát động nhân dân cả nước khởi nghĩa đuổi

giặc Hán, lật đổ ách thống trị của ngoại tộc. Nhân dân cả nước nhất tề đứng
dậy dưới cờ lệnh của Trưng Nữ Vương.
Trưng Trắc ra lệnh nổi trống đồng họp binh quyết trả thù cho chồng,
rửa nhục cho nước. Nghe tiếng trống ầm ào nổi lên, dân Mê Linh cung nỏ,
dao búa, khiên mộc, giáo lao trong tay cuồn cuộn đổ về nhà làng. Trên bành
voi cao, nữ chủ tướng Mê Linh mặc giáp phục rực rỡ. Dân Mê Linh trông
thấy nữ chủ tướng đẹp đẽ, oai phong lẫm liệt thì hò reo dậy đất, ào ào bám
chân voi, theo chủ tướng mà xốc tới. Trước khí thế ngút trời của đoàn quân
khởi nghĩa, toà đô úy trị của nhà Hán trên đất Mê Linh phút chốc đã tan
tành.
Sức mạnh đại đoàn kết của dân ta được nhân lên gấp bội, khí thế ngút
trời, như triều dâng thác đổ, làm cho kẻ thù không kịp chống đỡ, chỉ trong
một thời gian ngắn, 65 thành trì đã lần lượt về tay nghĩa quân, chỉ còn thành
Luy Lâu, sào huyệt cuối cùng của Tô Ðịnh ...
Quân dân ta đạp bằng dinh lũy giặc tiến xuống Luy Lâu. Trong khi
đoàn quân trẩy đi phá quận Giao Chỉ của nhà Hán, ngày càng có thêm nhiều
đoàn quân từ các nơi đổ về. Thành Luy Lâu cũng không đương nổi cuộc
công phá của một biển người ào ào xung sát, dũng mãnh theo hiệu trống
đồng của Trưng Trắc, Trưng Nhị. cuối cùng cũng bị phá vỡ trước sức mạnh

