v
iet
m
e
ssenger.com
Samuel Beckett
Mối Tình Đầu
Bản dịch Hoàng Ngọc Biên
Mối tình đầu (Premier amour) là một trong những tác phẩm quan trọng đầu tiên của Samuel
Beckett. Ông khởi sự viết truyện ngắn này, có thể nói là truyn thật ngắn đầu tiên, năm 1945,
nhưng có nhiều tư liệu như của nhà Grove Press ở New York chẳng hạn,nơi hầu như toàn
bộ tác phẩm của Beckett đã được xuất bản – ghi là 1946. Nguyên tác tiếng Pháp (Nhà xuất bản
Les Éditions de Minuit, 1970) được chính ông đem dịch qua tiếng Anh, nhưng bản dch này (First
Love) mãi đến năm 1972 mới được hoàn tất, và đã được xuất bản lần đầu tiên ở Nxb. Calder
and Boyars, London, 1973.
Hai mươi bốn năm (1946 –1970) là một thời gian khá dài, nhưng thắc mắc của người đọc cũng
như của các nhà xuất bản về sau đã được chính tác giả giải đáp: người đàn bà trong Mối tình
đầungười có thật, có nghĩa sách là một tự thuật, và ông đã muốn chờ cho đến khi “người đàn
bà trong truyện qua đời”, cho đến khi “nó không thể làm cho người ấy cảm thấy đau” (theo
Patrick Magee, 24.3.1976, New Haven, Conn.) mới cho phổ biến.
Mối tình đầu 1, với giọng kể mơ màng, trầm ngâm của một người đàn ông nhân đi thăm mộ cha
ở nghĩa trang thuật lại một câu chuyện tình của mình (gặp một người con gái trên một chiếc
băng ở công viên, về sống với cô, rồi bỏ ra đi khi cô cho ra đời đứa con của anh – nhưng thực tế
người ta đã biết không phải là của tác giả Beckett!), có thể là một khúc dạo đầu cho thế giới
những gương mặt hom hem, những con người khắc nghiệt, cô đơn, ương ngạnh, mệt mỏi,
biếng lười, những nhân vật tự kể chuyện mình, trong khuôn khổ một nơi chốn bốn phía bị dồn
ép (đến độ người ta tự hỏi đó còn đuợc gọi là nơi chốn?), mà sự hiện diện trên trái đất không có
một ý nghĩa nào – tác thành bằng những chữ, của Beckett?
° ° °
i vẫn thường liên hệ, hoặc đúng hoặc sai, cuộc hôn nhân của tôi với cái chết của cha tôi, về
thời gian. Hai việc ấy, trên những bình diện khác, còn có những mối liên hệ nào khác chăng,
không phải là chuyện không thể có. Nói ra điều mình tưởng là mình biết, việc ấy với tôi đã là
chuyện không dễ.
Cách nay không lâu, tôi có viếng mộ cha tôi, đó là điều tôi biết chắc, và có ghi lại ngày tháng cha
tôi mất, chỉ là ngày mất mà thôi, bởi lẽ cái ngàyy, ngày sinh của ông, tôi không thấy có gì đáng
để ý. Tôi ra đi buổi sáng và trở về vào buổi tối, ăn trưa nhẹ ở ngay nghĩa trang. Thế nhưng mấy
hôm sau, khi muốn biết xem ông mất lúc bao nhiêu tuổi, tôi phải trở lại ngôi mộ, để ghi ngày sinh
của ông. Hai cái ngày làm mốc giới hạn đó, tôi có ghi vào một miếng giấy, mà bây giờ đi đâu tôi
cũng đem theo. Chính bởi thế mà tôi có thể xác định là khi lấy vợ tôi hẳn phải vào khoảng hăm
m tuổi. Bởi vì ngày sinh của tôi, tôi xin nói lại, ny sinh của chính tôi, tôi chưa bao giờ quên
nó, tôi chưa bao giờ buộc phải viết ra, nó vẫn khắc sâu trong trí nhớ của tôi, ít ra là cái năm, với
những con số mà đời sống khó làm sao xóa nổi. Chính cái ngày cũng thế, tôi chỉ cần làm một cố
gắng là nhớ ra ngay, và tôi vẫn thường tổ chức ăn mừng nó, theo cách của tôi, tôi sẽ không nói
là mỗi lần nó trở lại, không, bởi vì nó cứ trở lại hoài, cứ trở lại hoài.
Cá nhân tôi không có gì chống các nghĩa trang, tôi đi dạo ở đấy một cách tự ý, có lẽ còn tự ý
hơn là ở nơi khác, khi tôi phải đi chơi. Mùi các xác chết, mà tôi ngửi thấy rất rõ dưới mùi cỏ và
mùn, tôi chẳng thấy nó khó chịu tí nào. Có lẽ nó hơi quá ngọt một chút, hơi nồng một chút,
nhưng thích hơn mùi người sống rất nhiều, hơn cái mùi bốc lên từ nách, từ bàn chân, từ đít, từ
những bao qui đầu nhớp nháp và những cái noãn tuyệt vọng. Và khi xác cha tôi đến đóng góp
vào đó, dù chỉ là đóng góp khiêm nhường thôi, tôi hầu như đã có thể nhỏ một chút nước mắt.
Những người sống, họ có tắm rửa cũng vô ích, có xức nưóc hoa cũng vô ích luôn, họ vẫn bốc
mùi thối. Vâng, nói đến chỗ đi dạo, khi ta cần phải đi chơi ngoài, hãy dành cho tôi nhng nghĩa
trang đi, còn các bạn, các bạn cứ dạo chơi ở các công viên, hay ở đồng quê. Miếng bánh mì kẹp
nhân của tôi, trái chuối của tôi, tôi ăn thấy ngon miệng hơn khi tôi ngồi ăn trên một ngôi mộ, và
khi mắc tiểu, mà tôi thì cứ mắc tiểu hoài, tôi tha hồ chọn. Hoặc tôi tản bộ, hai tay chắp sau lưng,
giữa những phiến đá mỏng, những phiến đá đứng thẳng, nằm dẹp, để nghiêng và tôi tuyển lọc
những câu khắc trên bia mộ. Những câu khắc trên bia mộ chưa hề làm tôi chán ngán bao giờ,
lúc nào cũng có ba bốn câu buồn cười tới độ tôi phải níu vào cây thánh giá, hay tấm bia, hay
tượng thiên thần, để khỏi ngã. Những câu viết cho tôi, tôi đã viết từ lâu và lúc nào tôi cũng hài
lòng về nó, khá bằng lòng. Những cái viết khác, mực viết chưa kịp ráo tôi đã thy chán ghét
chúng, thế nhưng văn bia của tôi thì tôi vẫn cứ thích mãi. Nó minh họa một điểm về ngữ pháp.
Không may là nó có ít cơ hội sẽ được đưa lên cao khỏi cái bộ óc đã quan niệm, trừ phi là
Nhà nước sẽ lo việc đó. Thế nhưng để có th đào xác tôi lên, trước tiên phải tìm ra tôi, và tôi e
rằng mấy ông Nhà nước tìm ra tôi khi sống khó khăn ra sao thì khi chết cũng khó khăn bằng ấy.
Chính vì thế mà tôi vội vàng ghi nó ngay vào chỗ này, trước khi quá trễ:
Nơi đây n nghỉ kẻ khật khờ
Chết liên miên tới độ sống mãi tới giờ
Có một âm tiết thừa trong câu thơ thứ nhì và là câu cuối, nhưng cái này chẳng có gì quan trọng,
theo ý tôi. Người ta sẽ tha thứ cho tôi còn hơn thế nữa, khi tôi chết đi. Thế rồi chỉ may mắn một
chút xíu, ta có thể được chôn cất đàng hoàng, với những người sống để tang và đôi khi còn
một góa phụ đòi đâm đầu xuống huyệt, và hầu như lúc nào cũng có câu chuyện hay ho về cát
bụi, mặc dù tôi từng để ý là chẳng có gì bụi bặm hơn những cái lỗ đào loại ấy, đất hầu như lúc
nàong là thứ đất bầy nhầy, và cả người chết cũng chẳng có gì đặc biệt cho thấy là cát bụi, trừ
phi hắn, hay thị, chết cháy thành than. Dù sao cái vở hài kịch cát bụi đó coi cũng đẹp. Thế
nhưng nghĩa trang của cha tôi, tôi không thấy có gì thích đặc biệt. Nó xa quá, giữa chn thôn
quê, nằm bên sườn đồi, và cũng quá nhỏ, quá nhỏ đi. Vả lại nó cũng coi như đã đầy, chỉ thêm
vài bà góa phụ nữa là hết chỗ. Tôi thích Ohlsdorf hơn, đặc biệt là về phía Linne, trên đất Phổ,
với bốn trăm mẫu xác người chật cứng, dù tôi không quen ai ở đó, trừ người dạy thú tên
Hagenbeck, mà tôi ch biết tiếng thôi. Người ta có khắc một con sư tử trên mộ ông ta, nếu tôi
nhớ đúng. Cái chết với Hagenbeck hẳn là có khuôn mặt một con sư tử. Những chuyến xe đò đi
đến đến đi, đầy ắp các ông chồng góa, các bà vợ góa và những đứa con mồ côi. Những lùm
cây, những hang động, những hồ nước với những con thiên nga, đem an ủi đến cho những
người đau khổ. Dạo ấy là vào tháng Chạp, tôi chưa bao giờ cảm thấy lạnh đến thế, món canh cá
chình ăn còn nằm trong bụng, tôi sợ chết, tôi dừng chân lại để ói, và tôi thấy thèm được như họ.
Thế nhưng, bây giờ để bước qua một đề tài ít buồn hơn, ngày cha tôi mất tôi đã phải đi ra khỏi
nhà. Ông chính là người muốn tôi ở lại. Đó là một con người kỳ lạ. Một ngày nọ ông bảo, Hãy để
nó yên, nó đâu làm phiền ai. Ông không biết là tôi đang lắng nghe. Cái ý nghĩ đó ông hẳn là đã
nói ra hoài, nhưng những lần khác tôi không có mặt ở đấy. Người ta chưa bao giờ muốn cho tôi
xem di chúc của ông, người ta ch nói với tôi là ông để lại cho tôi nhiều tiền lắm. Dạo ấy tôi tin,
và ngày nay tôi vẫn còn tin, là, trong di chúc của ông, ông đã yêu cầu người ta để cho tôi căn
phòng tôi vẫn ở lúc ông còn sống, u cầu người ta đem đồ đến phòng cho tôi ăn, y như trước
đó. Có lẽ đây còn là điều kiện tiên quyết của mọi chuyện còn lại. Bởi vì ông hẳn là thích có cảm
tưởng tôi còn sống dưới mái nhà của ông, nếu không ông đã không chống lại việc người ta đuổi
tôi ra ngoài. Có lẽ chỉ là ông thương hại tôi. Nhưng tôi không tin điều này. Lẽ ra ông nên để hết
ngôi nhà cho tôi, như thế tôi được yên thân, mà những người khác vả lại cũng sẽ yên thân, bởi
vì như thế tôi sẽ nói với họ, Các người cứ ở lại đi, hãy coi như nhà của các người vậy! Đây
một ngôi nhà rộng mênh mông. Vâng, ông quả đã bị lừa, ông cha tội nghiệp của tôi, nếu n
thật sự ông có ý định bảo bọc tôi, ngay cả khi đã ở bên kia nấm mồ. Còn về tiền bạc, công bằng
mà nói, họ đã đưa tiền cho tôi, ngay hôm sau ngày chôn cất cha. Có lẽ trong thực tế họ không
thể làm khác hơn. Tôi bảo họ, Các người hãy giữ tiền ấy đi, và hãy cho tôi tiếp tục sống ở đây,
trong căn phòng của tôi, như lúc cha còn sống. Tôi nói thêm, Xin Chúa đón nhận linh hồn cha,
với hi vọng làm cho họ vui lòng. Nhưng họ không muốn thế. Tôi đề nghị với họ xin cho được
phục vụ họ, vài giờ trong ngày, làm những công việc thu dọn vụn vặt mà nhào cũng cần có,
nếu như người ta không muốn nhà mình sập xuống thành cát bụi. Làm việc vặt, đó là chuyện
còn có thể làm được, tôi không biết tại sao. Tôi đề nghị với họ đặc biệt để tôi lo săn sóc cái nhà
kính trồng cây. Ở đấy tôi sẵn lòng làm việc ba hay bốn giờ một ngày, trong hơi nóng, chăm sóc
những cây cà chua, những cây cẩm chướng, những cây lan dạ hương, những cây giống. Trong
nhà này, ch có cha tôi và tôi mới hiểu được những cây cà chua. Thế nhưng họ không muốn.
Một ngày nọ, khi từ phòng vệ sinh trở về, tôi thấy cánh cửa phòng tôi đóng khóa và đồ đạc tôi
chất đống trước cửa. Đó là để nói cho các bạn biết tôi bị táo bón như thế nào, vào cái thời ấy.
Chính sự lo âu làm cho tôi bị bón, tôi nghĩ thế. Nhưng tôi có thật bị táo bón không? Tôi không
nghĩ thế. Bình tĩnh nào, bình tĩnh nào. Thế tuy nhiên, tôi hn là có bị bón, bởi vì làm sao cắt
nghĩa được cách khác hơn nhng buổi ngồi cầu kéo dài, những buổi ngồi cầu khủng khiếp,
trong phòng vệ sinh? Hồi đó tôi không đọc bao giờ, trong cầu cũng nhưnhững nơi khác, tôi
không mơ mộng cũng chẳng suy nghĩ, tôi mơ hồ nhìn cái cuốn lịch treo trên một cái đinh trước
mắt tôi, trên đó ta thấy hình in màu một thanh niên râu ria đứng giữa một bầy cừu, hẳn đó là
Giêsu, tôi lấy hai bàn tay banh hai bên mông ra và tôi rặn, một! hậy! hai! hậy!, với những động
tác ch ?huyền, và tôi chỉ có gấp mỗi một chuyện, là trở về phòng mình và nằm duỗi người ra.
Đó chính là táo bón, phải không? Hay là tôi đã nhầm nó với chứng ỉa chảy? Mọi thứ đều lộn xộn
trong đầu óc tôi, những nghĩa trang và những lễ cưới và đủ thứ loại phân khác nhau. Đồ đạc tôi
không nhiều lắm, họ đem chất đống dưới đất, sát ngay cửa, giờ đây tôi còn thấy cái đống đồ nh
xíu nằm đó, trong một thứ hố tường tối hù ngăn hành lang với phòng tôi. Chính trong cái khoảng
trống nhỏ tí bít kín cả ba phía đó tôi phải thay quần áo, tôi muốn nói là thay cái áo khoác dài mặc
trong nhà và áo ngủ để mặc vào bộ đồ đi xa, tôi muốn nói là vớ, giày, quần, áo, áo khoác, áo
choàng và nón, tôi hi vọng tôi không quên cái gì khác. Tôi thử nhiều cánh cửa khác, bằng cách
vặn quả nắm và đẩy ra, trước khi ra khỏi nhà, nhưng không cánh cửa nào mở được cả. Nếu tôi
tìm thấy một căn phòng cửa mở tôi nghĩ là tôi sẽ cố thủ trong đó, chỉ có hơi ngạt mới lôi tôi ra
khỏi phòng mà thôi. i cảm thấy trong nhà có nhiều người như thường lệ, nhưng tôi không nhìn
thấy ai cả. Tôi mường tượng mỗi người đều tự giam mình trong chỗ riêng, đang vểnh tai nghe
ngóng. Thế rồi thoắt một cái mọi người ló ra ở cửa sổ, hơi lùi ra sau một chút, núp kỹ sau màn
trướng, khi nghe tiếng cánh cửa hướng ra đường khép lại sau lưng tôi, lẽ ra tôi nên để cửa mở.
Và thế là những cánh cửa mở và mọi người đổ ra, đàn ông, đàn bà, trẻ con, mỗi người bước ra
từ phòng mình, và những tiếng nói, những tiếng thở dài, những nụ cười, những bàn tay, những
chùm chìa khóa nắm trong tay, một tiếng reo lớn nhẹ nhõm, rồi đến những câu nói cảnh giác
nhắc nhở, nếu như thế này thì thế kia, nhưng nếu như thế kia thì thế này, cả một bầu không khí
ngày hội thật sự, ai nấy đều hiểu rõ, xin ngồi vào bàn, xin ngồi vào bàn ăn, việc xông căn phòng
đợi được mà. Tất cả những cái ấy dĩ nhiên đều là chuyện tưởng tượng, bởi lẽ tôi không còn
đó nữa. Những sự việc có lẽ đã xảy ra khác hẳn, nhưng cái cách những sự việc xảy ra thì có gì
quan trọng đâu, một khi chúng xảy ra? Và tất cả nhng cái môi từng hôn tôi, những trái tim từng
thương tôi (đúng là người ta thương yêu bằng trái tim, có phải vậy không, hay tôi lại nhầm lẫn
với cái gì khác rồi?), những bàn tay từng đùa chơi với những bàn tay của tôi và những cái đầu
suýt nữa đã chiếm hữu tôi! Con người thật là lạ lùng. Người cha tội nghiệp, ngày hôm ấy ông
hẳn là rất bực mình, nếu như ông có thể nhìn thấy tôi, nhìn thấy chúng tôi, bực mình cho tôi, tôi
muốn nói. Trừ phi là, trong cái đạo lý cao siêu thoát tục của ông, ông nhìn xa hơn thằng con trai
mình, là kẻ mà thân xác chưa hoàn toàn đủ sức đối phó với mọi khó khăn.
Thế nhưng bây giờ để bước qua một đề tài vui hơn, tên người đàn bà mà tôi sắp lấy làm vợ ít
lâu sau đó, tên tục, gọi là Lulu. Ít nữa là nàng xác nhận với tôi như thế, và tôi không thấy nàng
có thể có lợi lộc gì khi nói dối tôi, về chuyện y. Dĩ nhiênta không làm sao biết chắc được
mà nói. Không phải là người Pháp, nàng gọi là Loulou. Tôi cũng vậy, cũng không phải là người
Pháp, tôi gọi là Loulou như nàng. Cả hai chúng tôi đều gọi là Loulou. Nàng còn cho tôi biết cả họ
nàng, nhưng tôi quên mất rồi. Lẽ ra tôi nên ghi lại, trên một mẩu giấy, tôi không thích quên
những danh từ riêng. Tôi làm quen với nàng trên một chiếc ghế dài, trên bờ kênh, một trong
những con kênh, bởi vì thành phố chúng ta có tới hai con kênh, nhưng tôi chưa h biết phân biệt
kênh này với kênh kia. Đó là một chiếc ghế dài đặt rất đúng chỗ, lưng dựa vào một đống đất và
rác rưởi khô cằn, đến độ nguyên cả bàn mông tôi được phủ kín. Hai bên sườn cũng vậy, từng
phần, nhờ hai cái cây già cỗi, có thể nói là đã chết, cặp hai đầu này và đầu kia chiếc ghế dài.
Chắc hẳn chính những cái cây ấy, một ngày đẹp trời nọ khi những tán lá rì rào gợn sóng, đã gợi
ý, cho một người nào đó, để một cái ghế dài ở đây. Trước mặt, cách vài mét, con kênh chảy,
nếu như những con kênh đều chảy, tôi thì tôi chẳng biết gì cả, thế nên ngay cả về phía ấy tôi
cũng khó bị ai bắt gặp. Thế mà nàng đã bắt gặp tôi đấy. i nằm dài, trời đêm dịu quá, tôi nn
qua những cành cây trụi lá, nhờ những cành ấy mà hai cây nọ chống đỡ cho nhau trên đầu tôi,
và qua những đám mây trôi rời rạc đứt đoạn, tôi thấy một góc trời đầy sao đi qua đi lại. Nhích ra
cho em ngồi với, nàng nói. Động tác đầu tiên của tôi là đứng dậy bỏ đi, thế nhưng vì cơn mệt, và
vì thật tình không biết đi đâu, tôi đổi ý không làm vậy. Thế là tôi rút chân lại một chút và nàng
ngồi xuống. Không có gì xảy ra giữa chúng tôi, buổi tối hôm ấy, và nàng sau đó cũng bỏ đi ngay,
chẳng nói với tôi một câu. Nàng chỉ hát, như cho chính nàng, và may là không hát lời, vài bài
dân ca xưa, hát từng đoạn rất rời rạc, nhảy từ bài này qua bài khác, và trở lại bài nàng vừa dứt
nửa chừng trước khi hát hết bài mà nàng thích hơn bài kia. Nàng hát lạc giọng nhưng nghe dễ
chịu. Tôi cảm thấy tâm hồn ấy sớm mang một nỗi buồn chán không đi tới đâu, nhưng trong mọi
tâm hồn đây có lẽ lại là thứ tâm hồn ít gây rầy rà hơn hết. Ngay cả chiếc ghế dài, nàng cũng
mau chán nó, và về phần tôi, thì chỉ một cái liếc thôi với nàng là đã đủ. Đây thật ra là một người
đàn bà cực kỳ kiên trì. Nàng trở lại ngày hôm sau và ngày hôm sau nữa và mọi việc xảy ra gần
nhưng một kiểu. Một vài lời đã được trao đổi có lẽ. Ngày kế đó trời mưa và tôi nghĩ là tôi sẽ
được yên thân, nhưng tôi đã lầm. Tôi hỏi nàng có phải nàng có ý định đến làm phiền tôi mỗi tôi
hay không. Em làm phiền anh sao? nàng nói. Tôi cảm thấy nàng nhìn tôi. Nhưng hẳn là nàng
chẳng thấy gì hơn. Hai hàng lông mi có lẽ, và một chút mũi và trán, thấy trong tối, bởi vì trời tối.
Em nghĩ chúng ta thế này là thoải mái chứ, nàng nói. Cô làm phiền tôi, tôi nói, tôi không thể duỗi
người khi cô ở đây. Tôi nói trong chiếc cổ áo khoác ngoài của t ??hưng dù thế nàng vẫn nghe
được. Bộ anh thích duỗi người như vậy lắm sao? nàng nói. Cái sai nhầm mà con người vẫn mắc
phải, là lên tiếng nói chuyện với người khác. Thế thì anh cứ việc gác chân lên đầu gối của em,
nàng nói. Tôi không đợi nàng yêu cầu lần na. Tôi cảm giác dưới những bắp chân tôi cặp đùi
béo tròn của nàng. Nàng bắt đầu vuốt ve hai mắt cá của tôi. Hay ta đá nàng một đá vào đít nhỉ,
tôi tự hỏi. Ta nói với họ về chuyện duỗi người và thế là họ nhìn thấy ngay một thân hình nằm
dài. Cái mà tôi quan tâm, tôi, ông vua không có quần thần, cái mà với nó việc tôi có một thân xác
đúng chỉ là chuyện tai nạn xa xôi và phù phiếm nhất trong những tai nạn, cái đó chính là s
biếng nhác trong đầu, là sự làm lắng dịu ý nghĩ về bản ngã và ý nghĩ về cái cặn bã nhng
chuyện tầm phào rầy rà mà người ta gọi là phi ngã, và còn gọi là thiên hạ, vì làm biếng. Thế
nhưng vào tuổi hăm lăm mà con người hiện đại là hắn còn phải thủ dâm, cả về mặt thể xác,
thỉnh thoảng, ấy chính là phần số chung của mỗi người, chính tôi đây tôi cũng không được miễn,
nếu việc ấy ta có thể gọi là thủ dâm. Nàng dĩ nhiên nhận ra ngay điều này, đàn bà họ đánh hơi
dương vật lửng lơ cách xa họ tới mười kilômét và họ tự hỏi, Làm thế nào mà nó phát hiện ra
mình ở đây được nhỉ? Ta không còn là ta nữa, trong những hoàn cảnh như thế, và ta mà không
còn là ta nữa thì thật là vất vả, còn vất vả hơn cả khi ta là ta, dù mọi người có nói sao chăng
nữa. Bởi lẽ khi ta là ta thì ta biết ta phải làm gì, để ít là ta hơn hết, còn khi ta không còn là ta thì
ta lại là bất cứ ai, không thoát đi đâu được. Cái mà người ta gọi là tình yêu đó chính là lưu đày,
với một tấm bưu thiếp từ quê nhà thỉnh thoảng nhận được, đó là những gì tôi cảm nghĩ, buổi tối
hôm ấy. Khi nàng chấm dứt, và khi cái bản ngã của tôi, con người đã thuần hóa, hồi phục được
nhờ một khoảnh khăc vô thức ngắn ngủi, tôi chỉ còn một mình. Tôi tự hỏi có phải mọi chuyện
đều chỉ là do mình bịa đặt, có phải thật tình là sự việc đã xảy ra hoàn toàn khác, theo một sơ đồ
mà tôi phải quên đi chăng. Thế tuy nhiên hình ảnh của nàng vẫn gắn liền với hình ảnh chiếc ghế
dài, đối với tôi, không phải với chiếc ghế dài ban đêm, mà là chiếc ghế dài vào buổi tối, đến đ
nói về chiếc ghế dài, y như khi nó đã hiện ra trước mặt tôi buổi tối, đối với tôi, là nói về nàng.
Điều này chẳng chứng minh đuợc gì, nhưng tôi chẳng muốn chứng minh điều gì cả. Còn về
chiếc ghế dài ban ngày, ta chẳng phải mất công nói tới, tôi không có ở đó nữa, tôi bỏ nó đi từ
sáng sớm và chỉ trở lại đó khi hết buổi chiều. Vâng, ban ngày tôi lục lạo kiếm cái ăn, và đánh
dấu những chỗ trú. Nếu các bạn hỏi tôi, và chắc chắn là các bạn muốn hỏi, tôi đã dùng số tiền
cha tôi để lại vào việc gì, tôi sẽ nói cho các bạn biết là tôi chẳng dùng làm gì cả, tôi vẫn giữ nó
trong túi đây. Bởi vì tôi biết rằng tôi sẽ không trẻ mãi, và mùa hè sẽ không kéo dài vĩnh viễn, cả
mùa thu cũng vậy, cái tâm hồn trung lưu của tôi nói cho tôi biết vậy. Rốt cuộc tôi bảo nàng là tôi
chán lắm rồi. Nàng làm phiền tôi vô cùng, cả khi vắng mặt cũng vậy. Vả lại nàng vẫn còn làm
phiền tôi hoài, hưng nó cũng như những chuyn khác mà thôi. Vả chắng bị làm phiền với tôi bây
giờ cũng chẳng làm sao nữa, hoặc có làm sao thì cũng chỉ một chút, thế thì bị làm phiền,
nghĩa là gì vậy, tôi còn cần bị làm phiền nữa là đàng khác, tôi đã đổi hệ thống, tôi nắm đầu dây,
đây là lần thứ chín hay thứ mười gì rồi, và thế là sắp chấm dứt, những cái làm phiền, những cái
dàn xếp, rồi người ta sẽ không còn nói về nó nữa, không nói về nàng cũng chẳng nói về những
người khác, không nói chuyện cứt ỉa cũng chẳng nói chuyện trời đất. Thế là anh không muốn em
đến nữa? nàng hỏi. Thật không tin nổi là ngưi ta có thể cứ lặp lại cái người khác vừa nói với
mình, y như họ sợ phải lên dàn thiêu nếu cứ tin vào tai mình. Tôi bảo nàng thỉnh thoảng cứ đến.
Thời ấy, tôi không hiểu rõ đàn bà. Vả chăng đến nay tôi vẫn không hiểu rõ họ. Cả đàn ông cũng
vậy. Cả thú vật cũng vậy. Cái mà tôi hiểu rõ hơn cả, không nói ra nhiều, ấy chính là những nỗi
đau của tôi. Tôi suy nghĩ hết những nỗi đauy, ngày nào cũng vậy, mà nghĩ mau lắm, tư tưởng
đi mau quá, thế nhưng không phải mọi nỗi đau đều đến từ tư tưởng. Vâng, có những giờ,
nhất là vào buổi chiều, tôi cảm thấy tâm trí lờ mờ, kiểu Reinhold. Thật là cân bằng. Vả lại những
nỗi đau của tôi, tôi không hiểu chúng rõ. Nó hẳn là do chỗ tôi không chỉ là sự đau khổ. Cái khó là
ở chỗ đó. Thế nên tôi rút lui xa dần, đến độ tôi đã phải thy kinh ngạc và sửng sốt, nhìn từ một
hành tinh khác. Rất hiếm, nhưng thế cũng đã đủ. Đời sống, cái cũng không tệ lắm. Không có gì
khác hơn là đau khổ, điều này làm đơn giản biết bao nhiêu sự việc! Đâu đâu cũng là chuyn
buồn thảm! Như vậy thì đây đúng là cạnh tranh rồi, và còn bất chính nữa. Tôi sẽ cho các bạn
biết hết, một ngày nào đó, nếu tôi nghĩ tới, và nếu tôi có thể nói, hết tất cả những nỗi đau lạ lùng
của tôi, nói chi tiết, và phân biệt tng loại riêng, để cho được sáng tỏ. Tôi sẽ nói cho các bạn biết
những nỗi đau của lý trí, những nỗi đau của trái tim hay những nỗi đau cảm xúc, những nỗi đau
của tâm hồn (đẹp lắm, những nỗi đau của tâm hồn), rồi đến những nỗi đau của thân thể, những
nỗi đau nội tâm hoặc âm ỉ lúc đầu, rồi đến những nỗi đau hiện ra trên bề mặt, bắt đầu từ những
sợi tóc và đi lần một cách có phương pháp và không có gì vội vã xuống tới tận những bàn chân,
cái chỗ yêu quí của những vết chai, những chuột rút, những vết loét nẻ, những móng chân thụt,
những mụn mủ bị rộp, những chỗ da lột và những chứng kỳ cục khác. Và với những ai d
thương chịu lắng nghe tôi thì cùng dịp này, tôi sẽ kể cho nghe, y như một hệ thống mà tôi quên
mất tên tác giả, những lúc không say thuốc, chẳng say rượu, cũng chẳng có ngất ngây gì, mà
con người không cảm thấy gì hết. Tiếp đó dĩ nhiên là nàng muốn biết tôi hiểu chữ thỉnh thoảng
như thế nào, như thế mi biết mở miệng ra nói ta sẽ mắc phải cái gì rồi. Tám ngày một lần?
Mười ngày một lần? Mười lăm ngày một lần? Tôi bảo nàng hãy đến ít hơn, ít hơn nhiều, đừng
đến hẳn nếu có thể, và nếu nàng không thể thì hãy đến ít được chừng nào hay chừng ấy. Vả
chăng ngày hôm sau tôi bỏ không đến chỗ chiếc ghế dài, do nàn thì ít mà, tôi phải nói thôi, do
chiếc ghế thì nhiều, vì tình trạng của nó không đáp ứng được những yêu cầu của tôi, dù những
yêu cầu ấy ch là tầm thường, bởi lẽ những cơn lạnh đã bắt đầu làm người ta rét run, và còn bởi
những lý do khác quả là phù phiếm nếu đem nói với những đồ ngốc như các bạn, và tôi đã đến
trú trong một cái chuồng bò bỏ hoang tôi phát hiện được trong những chuyến chạyng kiếm.
Chuồng bò nằm ở góc một cánh đồng mà trên mặt tầm ma ló ra nhiều hơn cỏ và bùn nhiều hơn
tầm ma, nhưng dưới đất thì có lẽ lại có nhiều đặc điểm đáng kể. Chính trong cái chuồng đầy
phân bò khô và rỗng, khi tôi lấy tay chọc thủng vào phát ra một thứ tiếng th dài, chính trong
cái chuồng bò đó lần đầu tiên trong đời tôi, tôi sẽ sẵn sàng nói là lần cuối cùng nếu tôi có đủ
mocphin trong tay để mà phung phí, tôi đã phải đấu tranh với một thứ tình cảm bấy giờ đang tự
khoác cho mình, giữa lúc đầu óc tôi vẫn lạnh băng, cái tên khủng khiếp là tình yêu. Cái tạo nên