intTypePromotion=1
ADSENSE

TƯƠNG QUAN LÂM SÀNG - GIẢI PHẪU BỆNH ĐỎ DA TOÀN THÂN TÓM TẮT Đặt vấn đề:

Chia sẻ: Nguyễn Thắng | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:16

92
lượt xem
11
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

TƯƠNG QUAN LÂM SÀNG - GIẢI PHẪU BỆNH ĐỎ DA TOÀN THÂN TÓM TẮT Đặt vấn đề: Đỏ da toàn thân thường gặp trong các bệnh ngoài da. Nhưng đôi khi cũng không xác định được nguyên nhân, mặc dù biểu hiện lâm s àng giống nhau là đỏ da và tróc vẩy. Mục tiêu: Nhận biết mối tương quan lâm sàng và giải phẫu bệnh đỏ da toàn thân. Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi ghi nhận 40 trường hợp đỏ da toàn thân tại bẹnh viện Da liễu từ năm 2000 – 2006. Sau đó phân tích tuổi, giới...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: TƯƠNG QUAN LÂM SÀNG - GIẢI PHẪU BỆNH ĐỎ DA TOÀN THÂN TÓM TẮT Đặt vấn đề:

  1. TƯƠNG QUAN LÂM SÀNG - GIẢI PHẪU BỆNH ĐỎ DA TOÀN THÂN TÓM TẮT Đặt vấn đề: Đỏ da toàn thân thường gặp trong các bệnh ngoài da. Nhưng đôi khi cũng không xác định được nguyên nhân, mặc dù biểu hiện lâm s àng giống nhau là đỏ da và tróc vẩy. Mục tiêu: Nhận biết mối tương quan lâm sàng và giải phẫu bệnh đỏ da toàn thân. Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi ghi nhận 40 trường hợp đỏ da toàn thân tại bẹnh viện Da liễu từ năm 2000 – 2006. Sau đó phân tích tuổi, giới tính và kết quả giải ph ẫu bệnh, từ đó đưa ra mối tương quan lâm s àng giải phaãu b ệnh. Kết quả: 15/40 trường hợp là viêm bì không đặc hiệu và 25/04 (62,6%) trường hợp là phù hợp lâm sang. Nguyên nhân chủ yếu của đỏ da toàn thân là vẩy nến và chàm.
  2. Kết luận: Khảo sát mối tương quan lâm sang giải phẫu bệnh giúp caùc baùc só có cái nhìn tổng quát toàn diện hơn về đỏ da toàn than, từ đó có hướng chẩn đoán và xử tới tốt hơn ABSTRACT CLINICO-PATHOLOGICAL CORRELATION OF GENERALIZED ERYTHRODERMA: ANALYSIS OF 40 CASES AT THE DERMATO- VENEROLOGY HOSPITAL IN HO CHI MINH CITY Ha Van Phuoc * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 11 - Supplement of No 3: 123 – 126 Introduction: Generalized erythroderma is a common skin diseases but sometimes the etiology can not be identified although the usual clinical manifestations are erythroderma and scales. Objectives: To understand the clinico-pathological correlation of generalized erythroderma. Methods: We notify 40 cases of Erythroderma at the dermato- venerology hospital in HCMC from 2000 to 2006. The cases are analyzed by
  3. age, sex and histopathological results to find out the clinico-pathological correlation. Results: 15/40 cases (37.5%) are non-specific dermatitis. In 25/40 cases(62.5%) the clinical features concern with the pathological results. Conclusion: The analysis of clinical pathological correlation provides a more general and comprehensive view about erythroderma, leading to a better diagnosis and management of this condition. ĐẶT VẤN ĐỀ Đỏ da toàn thân được mô tả và nghiên cứu bởi Hebra năm 1866 với biểu hiện lâm sàng là đỏ da chiếm hơn 90% diện tích bề mặt cơ thể kèm theo bong vẩy. Theo Hansan và Jansen thì tỷ lệ bị đỏ da toàn thân là 1-2/ 100.000 người mỗi năm. * Khoa Giải Phẫu Bệnh - BV Da Liễu TP. Hồ Chí Minh Mặc dù có nhiều nguyên nhân gây ra đỏ da toàn thân nhưng hình ảnh lâm sàng gần giống nhau trong hầu hết các bệnh nhân. Nguyên nhân của đỏ
  4. da toàn thân rất phức tạp và thường khó xác định. Theo một số tác giả thì chỉ xác định được nguyên nhân trong 50% các trường hợp(10). Giải phẫu bệnh là một trong những xét nghiệm được chọn nhiều nhất để xác định nguyên nhân gây ra đỏ da toàn thân trong. Đây cũng là mục đích để chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này để nhận biết mối tương quan Lâm sàng - Giải phẫu bệnh trong đỏ da toàn thân. VẬT LIỆU - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đây là nghiên cứu hồi cứu. chúng tôi ghi nhận kết quả sinh thiết c ùng các dữ liệu lâm sàng của 40 bệnh nhân được điều trị tại Khoa Lâm sàng I, Lâm sàng II và Khoa Khám bệnh Bệnh viện Da Liễu từ năm 2000-2006. Các mẫu sinh thiết được cố định và xử lý tại phòng Giải phẫu bệnh. Sau đó cắt mỏng 5µm, nhuộm HE, đọc kết quả dướI kính hiển vi quang học và đối chiếu Lâm sàng - Giải phẫu bệnh. KẾT QUẢ Tuổi Bảng I: Tuổi
  5. T 1 1 2 3 4 5 6 C uổi -10 1-20 1-30 1-40 1-50 1-60 1-70 70 ộng S 2 3 4 1 1 7 3 40 ố ca 0 1 Giới tính Bảng 2: Giới tính Nam Nữ 24 16 Các bệnh da có trước khi đỏ da toàn thân Bảng 3: Các bệnh da có trước khi đỏ da toàn thân Bệnh Số trường hợp
  6. 1/ Vẩy nến 16 40% 2/ Chàm 10 25% 3/ 6 15% Pemphigus bã 4/ Da vẩy 2 5% cá 5/ Dị ứng 1 2,5% thuốc 6/ Không rõ 5 12,5% nguyên nhân Kết quả 40 giảI phẫu bệnh
  7. Tương quan Lâm sàng - Giải phẫu bệnh Bảng 4: Tương quan Lâm sàng - Giải phẫu bệnh Lâm sàng Không Dị Vẩy Pemphigus Da rõ nguyên c Chàm ứng Giải phẫu nến bã vẩy cá nhân thuốc bệnh Vẩy nến 7 Chàm 10 Pemphigus 6 bã Da vẩy cá 2 Viêm bì 9 1 5 không đặc hiệu
  8. Tổng cộng 16 10 6 2 1 5 BÀN LUẬN Tuổi Đa số ở nhóm tuổi từ 31-50, nhỏ tuổi nhất là 4, và lớn tuổi nhất là 70, tuổi trung bình là 35,5, trẻ hơn so với các nhóm nghiên cứu khác là 41,6(6) và 53,78(1). Trẻ tuổi nhất được ghi nhận trên y văn là 3 ngày tuổi và già nhất là > 80 tuổi(6). Giới Nam có 24 trường hợp và nữ là 16 trường hợp với tỷ lệ nam/ nữ là 1,5/ 1, điều này cũng phù hợp với y văn là đa số đỏ da toàn thân là nam. Các bệnh da có trước đó: có 34/ 40 trường hợp (85%) có bệnh da trước đó với các chẩn đoán là vẩy nến, chàm, Pemphigus bã, da vẩy cá dị ứng thuốc là 87,5%, còn lại 5/40 trường hợp 12,5% là không rõ nguyên nhân. Điều này cũng phù hợp với một nghiên cứu của tác giả Pal và Haroon(4) căn nguyên của đỏ da toàn thân là:
  9. Bệnh da có trước đó: 74,4% Phản ứng thuốc: 5,5% Ác tính: 5,5% Không rõ nguyên nhân: 14,6% Trong nhóm bệnh da có trước đó thì vẩy nến là chiếm nhiều nhất với 16/40 trường hợp, sau đó là chàm với 10/40 trường hợp; điều này cũng phù hợp với 2 công trình nghiên cứu khác của Pal(4) và Rym(5) thì bệnh vẩy nến và chàm là 2 bệnh đứng hàng thứ 1 và 2 gây ra đỏ da toàn thân trong nhóm bệnh da có trước đó. Hình ảnh mô học trong đỏ da toàn thân phần nhiều đa số là viêm bì không đặc hiệu. Ở đây chúng tôi ghi nhận có đến 15/40 trường hợp là viêm bì không đặc hiệu với hình ảnh tăng sừng (Á sừng), tăng gai và thâm nhiễm viêm mãn tính quanh mạch máu với sự hiện diện hoặc không có tế bào đa nhân ái toan. Botella và Estradas(7) nhận thấy rằng mối tương quan lâm sàng - giải phẫu bệnh tương đối khó, bởi vì hình ảnh mô học của các bệnh da có trước đó đều là viêm bì không đặc hiệu khi bị đỏ da toàn thân. Walsh đã đề nghị nên sinh thiết nhiều mẫu cùng một lúc thì chẩn đoán mô học sẽ chính xác hơn. Vả lại, giai đoạn của bệnh có thể làm thay đổi hình ảnh mô học như trong giai đoạn cấp thì có hiện
  10. tượng xốp bào và á sừng là chủ yếu, trong khi trái lại trong giai đoạn mãn thì hình ảnh tăng gai và mào thượng bì bị kéo dài thì thấy nhiều hơn. Trong bảng kết quả tương quan lâm sàng - giải phẫu bệnh thì ta thấy có 25 trường hợp là phù hợp (62,5%) còn lại là 15 trường hợp (37,5%) là viêm bì không đặc hiệu. Điều này cũng phù hợp với báo cáo của Rym(5) là 74% (43/58) trường hợp phù hợp, trong khi một số y văn thì tỷ lệ phù hợp là 50%(10). 10 trường hợp tổn thương chàm đều phù hợp có thể là tất cả các trường hợp này đều ở giai đoạn cấp hoặc bán cấp, cho nên hình ảnh mô học thấy được hiện tượng xốp bào ở lớp malpighii cũng như thâm nhiễm các tế bào éosinophile quanh mạch máu. Còn nếu chuyển qua mãn tính thì các hình ảnh trên không còn nữa mà chuyển qua viêm da mãn tính với sự kéo dài mào thượng bì làm tăng sản lớp gai. 6 trường hợp Pemphigus bã cũng cho thấy phù hợp vì còn thấy được hình ảnh bóng nước trong thượng bì nắm ở phần trên lớp malpighi, cũng như hiện diện một vài tế bào tiêu gai trong bóng nước. Như vậy tiến triển dẫn đến đỏ da toàn thân của Pemphigus bã không làm thay đổi hình ảnh mô học của Pemphigus bã. Trong khảo sát này chúng tôi nhận thấy Pemphigus bã
  11. xảy ra ở phụ nữ trẻ tuổi. Một vài tác giả(7) cho rằng các yếu tố môi trường và hormone có thể góp phần làm gia tăng tỷ lệ bị Pemphigus bã. Trong nhóm bị vẩy nến thì có 9/16 trường hợp là không phù hợp, điều này cũng có thể là do bệnh nhân để lâu ngày tiến triển qua giai đoạn mãn, cho nên khi sinh thiết chỉ thấy được tăng sản gai và mào thượng bì bị kéo dài nên không thấy được hình ảnh vi áp xe Munro cũng như mụn mủ dạng xốp bào ở lớp malpighi. Trong đỏ da toàn thân do dị ứng thuốc thì hình ảnh mô học là viêm da dạng lichen. Đối với đỏ da toàn thân do lymphome thì s ự thâm nhiễm tế bào từ từ trở nên đa dạng và cho đến khi bệnh tiến triển lan toả thì hình ảnh mô học mới rõ ràng vì tế bào Sézary trong giai đoạn đầu rất khó thấy. Do đó người ta yêu cầu cần phải thực hiện sinh thiết nhiều lần và kèm theo là kiểm tra phết máu ngoại vi để tìm tế bào Sézary(7). Zip(7) đã báo cáo rằng mặc dù hình ảnh lâm sàng của đỏ da toàn thân giống nhau, sự chẩn đoán mô học có thể xác định được nguyên nhân trong đa số các trường hợp. Nếu mẩu sinh thiết được lấy từ các tổn thương điển hình thì chẩn đoán mô học đa phần là xác định trong các bệnh vẩy nến, vẩy phấn đỏ nang lông, đỏ da toàn thân dạng vẩy cá, Pemphigus bã hay chàm.
  12. Các dấu hiệu mô học để chẩn đoán đỏ da toàn thân: Bệnh Dấu hiệu mô học Vẩy nến Á sừng, vi áp-xe, Munro, mỏng lớp malpighi trên nhú, tăng gai. H/c Sézary Vi áp-xe Pautrier, tế bào Sézary. Dị ứng thuốc Hoại tử lớp thượng bì, tổn thương mạch máu.
  13. Bệnh Dấu hiệu mô học Vẩy phấn đỏ sự Có nang lông luân phiên á sừng và trực sừng, có hay không có nút sừng. Chàm tiếp xúc Dấu hiệu xốp bào ở lớp malpighii thâm nhiễm ở éosinophile lớp bì
  14. Bệnh Dấu hiệu mô học Ghẻ Thâm nhiễm ở éosinophile quanh mạch máu, hiện diện cái ghẻ ở lớp sừng. sừng Dermotophytosis Á điểm, bóng nước ở lớp sừng.
  15. Bệnh Dấu hiệu mô học Pemphigus bã Bóng nước trong thượng bì, ở phần trên lớp malpighi. Chàm thể tạng Xốp bào ở lớp malpighi, nhiễm thâm ở éosinophile lớp bì. Da vẫy cá Tăng sừng nhiều, lớp không có hạt.
  16. KẾT LUẬN Đỏ da toàn thân thường gặp trong các bệnh ngoài da đặc biệt là bệnh vẩy nến và chàm. Nhưng đôi khi c ũng không xác định được nguyên nhân. Về dấu hiệu lâm sàng thì rất giống nhau là đỏ da và tróc vẩy. Việc khảo sát mối tương quan lâm sàng - giải phẫu bệnh giúp cho chúng tôi có cái nhìn tổng quát toàn diện hơn về đỏ da toàn thân, từ đó có hướng chẩn đoán và xử trí tốt hơn.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2